XVII. Bàn về lộc thần

XVII. BÀN VỀ LỘC THÂN

Giáp lộc ở dần, ất lộc ở mão, bính mậu ở tị, đinh bỉ ở ngọ, canh lộc ở thân, tân lộc ở dậu, nhâm lộc ở hợi, quý lộc ở tí.

Cách tra, lấy can ngày làm chủ, địa chi của Tứ trụ thấy là có. Lộc là tước lộc, nhờ có thế lực mà được hưởng gọi là lộc. Lộc là nguồn dưỡng mệnh. Lộc ở chi năm là tuế lộc, ở chi tháng gọi là kiến lộc, ở chi ngày gọi là chuyên lộc, ở chi giờ gọi là quy lộc. Người thân vượng mà có lộc thì tài nên thấy khắc, lộc gặp thân yếu thì tài kị thấy khắc. Lộc mã từ suy đến tử, kể cả tử tuyệt, nếu không có cát thân hỗ trợ thì nhất định phá tan sự nghiệp tổ tiên. Lộc sợ nhất là nhập không vong hoặc bị xung, nếu lấy nó làm dụng thần, không may nhập không vong hoặc bị xung lại không có cát thân giải cứu thì nhất định đói rách ăn xin, làm thuê, phiêu bạt khắp nơi. Nếu không bị như thế thì cũng không có danh vọng gì, có lộc như không. Lộc phạm xung gọi là phá lộc, như lộc giáp ở dân, gặp thân là phá, khí tan không tụ, quý nhân thì bị đình chức, tước quan, thường dân thì cơm áo không đủ. Lộc gặp xung hoặc địa chi của tháng kiến lộc là nghèo đến mức không được hưởng nhà của cha mẹ để lại, hoặc rời bỏ quê hương, đi mưu sinh nơi khác. Lộc nhiều thân vượng không nên gặp bình dương (kiếp tài), nếu không sẽ khắc vợ (chồng), khắc cha. Lộc còn là ngang hòa, nếu gặp đất quan vượng là tốt, nhật nguyên yếu mà có thân lộc giúp đỡ lại gặp ấn sinh cát tinh trợ giúp thì sẽ thành sự nghiệp, là người có phúc.

Sự cát, hung, nên và không nên có thân lộc như sau:

Giáp-lộc ở dân, gặp bính dần là lộc phúc tinh, gặp mậu dần là lộc phục mã, cả hai đều tốt cả. Gặp canh dần gọi là lộc phá, nửa tốt * Ra xấu; gặp nhấm dần là chính lộc, có kèm với tuần không, vong thì có nhiều khả năng đi theo đạo. Gặp giáp dần gọi là lộc trường sinh, đại cát.

Ất lộc ở mão, gặp mão gọi là lộc hỉ thần vượng, chỉ về cát; gặp định mão là cắt ngang đường, chủ về hung. Gặp kỉ mão là lộc tiến thần, gặp tân mão là lộc phá hay còn gọi là lộc giao, tức nửa tốt nửa xấu. Gặp quý mão có kèm theo thiên ất là lộc chết, tuy sang nhưng nghèo suốt đời.

Bính lộc ở tị, gặp kỉ tị là lộc kho trời, chủ về cát. Gặp tân tị là đứt đường, coi như bị tuần không, vong. Gặp quý tị là lộc phục quý thần, nửa tốt nữa xấu. Gặp ất tị là lộc mã, gặp định tị là lộc khố, đều tốt.

Đinh lộc ở ngọ, gặp canh ngọ là đứt đường giống như không vong, xấu. Gặp nhâm ngọ là lộc đức hợp, gặp giáp ngọ là lộc tiến thân, đều tốt. Gặp bính ngọ là mừng gặp lộc thân, gặp bình dương thì nửa tốt nửa xấu. Gặp mậu ngọ là gặp bình dương, phần nhiều xấu.

Mậu lộc ở tị, gặp kỉ tị là lộc kho trời, tốt. Gặp tân tị là đứt đường, tuần không, vong. Gặp quý tị là lộc quý thần, hóa hợp với mật quý là được chức quan quan trọng; gặp ất tị, trạch mã là lộc đồng hương, gặp định tị vượng là lộc kho, đều tốt.

Kỉ lộc ở ngọ, gặp canh ngọ là đứt đường, tuần không, vong, gặp nhâm ngọ là lộc tử quý, đều xấu. Gặp giáp ngọ là lộc hợp tiến thần, là tượng hiển đạt. Gặp bính ngọ là mừng gặp được lộc thân. Gặp mậu ngọ là lộc phục thần kình dương, xấu.

Canh lộc ở thân, gặp nhân thân là lộc đại bại, gặp giáp thân là lộc đứt đường, tuần không, vong, đều xấu. Gặp bính thân là lộc đại bại. Gặp mậu thân là lộc phúc mã, trì trệ; nếu gặp phúc tinh quý nhân thi tốt. Gặp canh thân là lộ, trường sinh, đại cát.

Tân lộc ở dậu, gặp quý dậu là lộc phục thân, xấu. Gặp Ất dậu là lộc bị phá, phần nhiều thất bại. Gặp đinh dậu là lộc quý thân nhưng tuần không vong, nên chủ về những việc gian dâm, nếu gặp được hỉ thần thì tốt. Gặp kỉ dậu là lộc tiến thân, gặp tân dậu là chính lộc, đều tốt. Nhâm lộc ở hơi, gặp ất hợi là lộc thiên đức, gặp đinh hợi là lộc hợp quý thần, gặp kỉ hơi là lộc vượng, gặp tân hợi là lộc cùng với mã, đều là tốt cả. Gặp quý hợi là lộc đại bại, chủ về đói khó suốt đời.

Quý lộc ở tí, gặp giáp tí là lộc tiến thần, chủ về đăng khoa tiến đạt. Gặp bính tí là lộc bình dương, nếu có cả thần tinh quý nhân thì có quyền. Gặp mậu tí là lệ• kình dương phục nấp, hợp với lộc quý là chỉ tốt một nửa. Gặp canh tí ấn lộc là cát. Gặp nhâm tí là chính lộc bình dương, xấu.