Ví dụ 10 - Nam

image

1. Phân tích mệnh cục và chọn dụng thần 5 tuổi 8 tháng bắt đầu đại vận. Tháng 8 nhâm thuỷ, tân kim nắm quyền, thuộc cách kim trắng thuỷ trong, chủ về thanh quý danh dự, có tiếng tăm. Tứ trụ kim nhiều, nhâm thuỷ sinh tháng 8 được lệnh, cho nên lấy giáp mộc làm dụng thần một mặt để xì kim khí, lại có thể bổ sung cho mộc khí trong Tứ trụ không đủ. Lấy mộc làm dụng thần đắc lực nhất, thuỷ là hỉ thần. Sau 46 tuổi hành đại vận nhân dân, dụng thần được sinh nên có lợi nhất; sau 46 tuổi tài nguyên dồi dào, mã tinh bị xung cho nên cầu tài trong vận động là tốt nhất, dựng nghiệp nơi xa rất có lợi. Năm 46 tuổi là bước ngoặt của cuộc đời. Từ 51- 55 tuổi là 5 năm huy hoàng nhất, dụng thần được lệnh, quan vận hanh thông, đường công danh bằng phẳng. Cuộc đời gặp đại vận thuỷ m là tốt. Năm 66 tuổi hành dại vận giáp thìn, dụng thần xuất hiện cuối đời càng tốt đẹp.

2. Tính cách

1) Mệnh cục gặp hoa cái là cuộc đời cô độc, cho dù phú quý vẫn khó tránh khỏi, cuộc đời buồn nhiều vui ít.

2) Thanh cao, khí độ phi phàm, thích những điều thần bí, tín ngưỡng mệnh lý, phật giáo.

3) Thông minh hiếu học, tự mình phấn đấu, tay không dựng cơ đồ.

4) Trụ tháng gặp đào hoa là cuộc đời được nhiều người khác giới ưa thích, vì ràng buộc về tình cảm nên cuộc đời nhiều lần làm chú rể.

5) Thiên tài thấu ra là người khảng khái hào phóng, trọng nghĩa khinh tài, phong lưu, thích đầu tư, được của bất ngờ. Kinh doanh ở phương xa rất có lợi.

6) Chính tài thấu ra là rất yêu vợ, đối với gia đình rất trung thực, đối với bản thân rất tiết kiệm, đối với người ngoài hào phóng, là người có cả Vợ chính lẫn những người giúp việc quan tâm.

7) Người này có đầu óc kinh doanh, biết kiếm tiền, biết tiêu tiền, tiền ra tiền vào nhiều, chỉ vì của cải không có kho nên không tụ.

8) Trụ ngày đóng khối canh là người có tài lãnh đạo, tiếng vang như chuông, thích tranh đấu, giỏi quyền thuật.

9) Trụ giờ vong thần là có mưu lược tính toán, gặp việc không bỏ lỡ thời cơ. Vong thần lâm tự quán là có tài về viết lách.

10) Tứ trụ hợp nhiều là người nhân duyên tốt, có tài tổ chức, có tả hữu giúp đỡ, làm việc có tình. 3.

3. Cha mẹ và tổ nghiệp

1) Tứ trụ danh thân một chính ấn, ám tàng hai ấn do đó trong cuộc đời có ba mẹ, nhưng vì người này tài nhiều, song tài khắc ấn là chủ về khắc mẹ, không có duyên với mẹ đẻ.

2) Thiên tài ở tử địa là ông cha nghèo khó phiêu bạt, hơn nữa không được cha mẹ giúp đỡ, tay không dựng cơ đồ.

3) Ấn gặp đào hoa là chủ về mẹ đẹp thông minh

4) Trên trụ năm gặp thiên y là ông cha có người làm y học.

4. Anh chị em Có từ 4 - 5 người. Trụ tháng đinh dậu và nhật nguyên thiên hợp địa hợp là quan hệ anh em rất tốt. 5. Nghề nghiệp và phương vị 1) Người này tính cách kim trắng thuỷ trong là người có danh tiếng, nắm quyền quý, vì vậy theo nghề chính trị có lợi, tài ở vượng địa thì buôn bán cũng giỏi, nếu là cán bộ thì có chức, buôn bán thì có tiền, là người phú quý. 2) Cuộc đời nên làm những nghề có liên quan với mộc và hoả, bất lợi đối với nghề liên quan với kim. 3) Phương vị có lợi là phương đông, đồng n?" bắc, đông bắc, bất lợi là phương tây và tây bắc. 4) Làm bạn với những người tuổi chuột, tuổi rung, lợn, gà, thỏ đều có lợi, bất lợi với người tuổi hổ. 6. Hôn nhân 1) Người này chính tài, thiên tài thấu ra tất có hại vợ. Hơn nữa chính tài là người ở gần, thiên tài là người ở xa. 2) Trụ ngày âm dương sai lệch, khối canh đều chủ về hôn nhân không thuận, đó là tiêu chí hai lần kết hôn. 3) Vợ tuổi chuột, tuổi rồng và trong Tứ trụ của vợ mộc nhiều, mộc vượng là tốt, như thế có thể bổ sung cho Tứ trụ của người này mộc thiểu. Phương hướng kết hôn nên là phương tây nam- đông bắc có lợi nhất. 4) Người này cung thê lâm thương quan, lại đóng thìn thổ, chủ về vợ béo, quý phái, giàu, đẹp, trong xã giao lôi cuốn mọi người. 5) Cung thể làm hoa cái là chủ về vợ thanh cao, thích tự do, không thích bị quản lý, thích thần bí hoặc nghiên cứu những vấn đề thần bí, nhưng tính cách mạnh mẽ, nóng như lửa. 6) Trong Tứ trụ hợp nhiều nên trước hôn nhân đã ở chung, sinh lân đầu con gái, thông minh lanh lợi, ham học. 7) Năm tân dậu 1981 là lần đầu có bạn, gặp hoa cái, năm quý dậu 1993 nên có người khác tính theo đuổi hoặc trong tình cảm có sóng gió, có sự đau khổ về mặt tình cảm. 8) Năm bính tí 1996 có thân tí thìn tam hợp cục, còn có tính hợp với tân, tí sửu thiên hợp địa hợp, là có tin mừng về hồng loan, hoặc kết hôn, hoặc sinh con. Năm đó phải chú ý những việc về đào hoa, đặc biệt vào tháng 4, tháng 5 âm lịch.

9) Sau 46 tuổi lại có biến đổi về hôn nhân hoặc sức khỏe vợ quá kém, đặc biệt hai năm 2002 2003 vợ có thể bị ốm hoặc ly dị. Năm bính tuất 2006 thiên khắc địa xung với cung thế, không lợi cho vợ. Năm định hợi 2007 đại vận nhâm dần, đinh nhân tương hợp, dần hợi tương hợp tức là thiện hợp địa hợp có thể sẽ làm chàng rể mới.

10) Năm mậu tuất 62 tuổi lại hợp đào hoa, hợp đại vận, năm đó e rằng lại có hôn nhân mới. Người này rất có duyên với phụ nữ, suốt đời bị tình cảm ràng buộc, phong lưu nhưng không háo sắc.

7. Bệnh tật

1) Tứ trụ kim nhiều phải chú ý bệnh sỏi bàng quang, sỏi thận; kim chủ về phế nên phải chú ý bệnh viêm phổi, lao phổi, viêm khí quản, kim nhiều thủy lạnh nên phải chú ý bệnh đau thắt lưng.

2) Tứ trụ hỏa nhiều nên phải chú ý bệnh mắt, tim, huyết, tim đập nhanh, ngực nôn nao, thần kinh suy nhược.

3) Tứ trụ kim vượng sinh thủy, thủy chủ về thận nên dễ mắc bệnh bàng quang, ngọc hoàn, hệ thống tiết niệu, hư thận.

4) Tứ trụ mộc yếu, mộc chủ về gan mật nên phải chú ý các bệnh về gan mật.

8. Ngũ hành hỉ, kị

1) Phương có lợi nhất là phương đông, đông nam, thứ nữa là bắc, đông bắc.

2) Không lợi nhất là phương tây, tây bắc, suốt đời kị sinh sống và làm việc ở phương tây, tây bắc.

3) Hướng phòng ở tốt nhất là phương tây hoặc đông nam. 4) Màu sắc thích hợp nhất là màu xanh lục, tiếp đến là màu đen, không lợi là màu trắng, không nên đeo đồ trang sức bằng vàng.

4) Trong gia đình có thể trồng nhiều cây xanh hoặc sống trong môi trường xanh.

5) Vị trí giường đặt theo hướng đông tây, đầu ở phía đông. 7) Trong cuộc đời được người có chữ "mộc" hoặc "ba chấm thuỷ" là quý nhân giúp đỡ.

9. Lưu niên bính tí 1996 và vận trình.

1) Năm 1996 gặp bính là thiên tài, thiên tài là đại tài, tháng 4, 5 gặp tài bất ngờ. Tài vận năm đó tương đối tốt, nguồn của dồi dào, mua ruộng mua nhà đều được.

2) Năm bính tí 1996 và đại vận thiên hợp địa hợp, có tin mừng về hôn nhân hoặc thêm nhân khẩu.

3) Thân tí thìn tam hợp thành thuỷ cục, thuỷ là hỉ thần lại tam hợp thành cục bình dương, sát không có lực, không hiện, cho nên năm đó có khả năng thăng quan tiến chức, hơn nữa tài sinh quan nên năm đó công tác có biến động lớn.

4) Năm 1996 buôn bán phát triển nhiều phương thì có ích và công ty phương nam sẽ có lợi nhất.

5) Năm 1996 thân tí thìn tam hợp với năm bình dương, nên tháng 10, tháng 11 người này có thể có hiểu. Năm 1996 tam hợp kinh dương là có thể bị ốm, hoặc bị thương, hoặc tai nạn xe cộ.

10. Lưu niên và vận trình

1) Người này khắc cha khác mẹ, từ bé chịu đựng đủ mọi gian khổ nhưng không được bố mẹ nuông chiều, không được hưởng thụ sự ấm áp của gia đình, chỉ vì từ nhỏ đại vận và nhật nguyên thiên khắc địa xung, xung bố rồi khắc mẹ, còn không lợi cho anh chị em.

Trong đó năm mậu tuất 1958 lại thiên khắc địa xung với nhật nguyên, trong thần có ất mậu quý, trong tuất có tân định mậu, tân là ấn là mẹ, quý là anh em cho nên năm đó không lợi cho mẹ và anh em. Năm 1958, 1959 thường ốm đau hoặc bị thương.

2) Vận thấp sát từ 6-15 tuổi, lúc nhỏ rất nghịch nên dễ bị thương, nhưng ở trường có danh tiếng. Đây là thể vận, thử trùng trùng, thổ là đường ruột dạ dày, cho nên trong thời gian này bộ máy tiêu hoá kém, đặc biệt là các năm 1962, 1968, 1969 sức khoẻ không tốt. Năm nhâm dần 1962 ốm đau nhiều hoặc không lợi cho bố. Nếu bố lấy vợ thì đỡ hơn một ít. Năm đó người này có những chuyển đổi hoặc di động lớn.

3) Sau năm 1964, 1965 vận khí bắt đầu tốt dần, ở trường thành tích nổi bật. Hai năm 1968 - 1969, có thể bị thương hoặc ốm đau nằm viện, chủ yếu là bệnh dạ dày, đường ruột.

4) Năm canh tuất 1970 được chuyển đổi hoặc đi học, năm 1970, 1971 việc lên cấp trong học tập gặp nhiều thuận lợi.

5) Vận quan từ năm 16 - 25 tuổi, đây là giai đoạn có thể có chức lãnh đạo nhỏ ở trường, có danh tiếng. Trong đó hai năm 1974 1975 có thể bị thương, chủ yếu là phần đầu hoặc ngón tay. Nhưng sau năm 1974 vận khí tốt dần vì dụng thần lên ngôi. Năm 1976, 1977 hành tài vận, bắt đầu độc lập về kinh tế. Nên làm nghề có liên quan với hoả hoặc điện.

Nam định tị 1977 được điều động hoặc chuyển đổi công tác, Năm mậu ngọ 1978 thìn ngo dậu hơi bốn hình xung đều đặn, cho nên có thể bị thương hoặc thoát ra từ cõi chết.

6) Kiêu vận từ 26 - 35 tuổi, vận trình này học hành thuận lợi nhưng thân tỉ thìn tạm hợp thành cục bình dương, nên đặc biệt không lợi cho sức khoẻ, hơn nữa người này cuộc sống khá bồn bã vất vả, Trong đó năm tân dậu 1981 gặp đào hoa là có tin mừng về đính hôn, năm nhâm tuất 1982 xung động hôn nhân, tức là có tin mừng về hôn nhân hoặc có việc ở chung, năm giáp tí 1984 dụng thần lên ngôi nên tương đối thuận lợi, có tin mừng. Hơn nữa thân tỉ nhìn tam hợp thành cục là có thêm người, thêm nhân khẩu, nhưng thân tỉ thìn lại hợp với bình dương nên nắm đó sức khoẻ rất kém. Từ năm 1984 trở đi mọi mặt bắt đầu thuận lợi. Từ năm 1984-1987 đều khá, hơn nữa năm 1986 trạch mã gặp xung, cho nên đi xa nhiều, vì tiền của mà phải bôn ba. Hai năm 1988, 1989 là năm gẠI quan sát, bắt đầu có chức. Năm 1990, 1991, lại được đề bạt, có một lần được đi học. Năm 1990 thìn ngo dậu hợi tứ hình đều có cho nên bị ốm đau hoặc bị thương tật, phải chú ý đề phòng tháng 5 âm lịch.

7) Vận chính ấn từ 36 - 45 tuổi, vận này có quyền bính. Sau 36 tuổi quan vận hanh thông, nhưng cầu quan tương đối vất vả. Vì vận trình này dụng thần bị khắc, bình tân hợp với nhau là có tình cảm khác giới, trong đó năm 1992, 1993 là năm nhấm, quý, là hỉ thần, thuỷ sinh mộc, sinh cho dụng thần cho nên hai năm này tài quan đều đẹp, đặc biệt tháng 10, tháng 11 sẽ có tin mừng. Tháng 7, 8 năm 1993 được đề bạt. Hai năm giáp tuất và ất hợi 1994, 1995 dụng thần lên ngôi, thực thần thương quan đều sinh tài nên tài vận tương đối khá. Năm 1994 xung đến cùng thể là chủ về vợ nhiều bệnh hoặc có sóng gió trong tình cảm, Năm 1995 là thương quan, không lại cho quan trường, phải chú ý tháng 3, 9 trong chức vụ không yên ổn, có tiểu nhân dèm pha, đố kỵ, may nhờ có quý nhân tuổi hợi giúp đỡ cho nên cuối cùng bình an vô sự. Năm đó thần tài lên ngôi có điều phải lo nhưng không nguy hiểm. Hai năm 1996 - 1997 là năm tài, tài vận rất tốt có thể thăng quan tiến chức. Năm mậu dần 1998 gần quan sát, trạch mã bị xung nên trong công tác hoặc chức vụ lại có một lần biến động lớn, năm đó có thể chuyển nhà, nhưng không lợi cho mẹ. Năm kỷ mão 1999 xung mất đào hoa là điểm có tình cảm khác giới, đại khái sự việc xảy ra vào tháng 2 hoặc tháng 8 âm lịch. Năm 2000 và 2001 lại có khả năng đề bạt, có thể xảy ra vào tháng 7 hoặc tháng 8.

8) Vận tỉ kiếp từ 46 - 55 tuổi khắc vợ, khắc bố, vận trình này hôn nhân không thuận, hơn nữa mã tinh bị xung nên đi xa nhiều, cầu tài trong hoạt động, lập nghiệp xa quê hương. Trong đó năm nhâm ngo 2002 thìn ngọ dậu hợi tứ hình đều có, bản thân phải đề phòng có tranh chấp hoặc kiện tụng. Ngoài ra năm đó cũng có nỗi lo mất bố hoặc ly hôn, cần phải chú ý dễ bị thương tật. Hai năm 2004, 2005 vận khí tương đối tốt, có thể được đề bạt, thăng quan tiến chức, trong công việc lại có một lân biến động lớn, có thể làm cán bộ ở vùng khác, có khả năng xa cách quê hương. Năm đó có cơ hội ra nước ngoài và nhiều cơ hội xuất ngoại. Năm bính tuất 2006 thiên khắc địa xung với cung hôn nhân, không lợi cho vợ. Năm đó người nhà tuổi con rồng rất không lợi. Năm đinh hợi 2007 lại thiên khắc địa hợp với đại vận, lại có tin mừng lấy vợ. Năm 52, 53, 54 tuổi được thăng quan tiến chức, có chức vụ. Cuối đời phải chú ý cửa ải 54, 61 tuổi nhưng năm 61 tuổi là năm đinh dậu thiên hợp địa hợp với nhật nguyên nhâm thìn, nên 61, 62 tuổi lại lấy vợ trẻ. Năm giáp thìn 68 tuổi là năm tuế vận cùng gặp, phải chú ý sự nguy hiểm về tính mệnh. Năm canh tuất 74 tuổi thiên khắc địa xung với đại vận, lại gặp kiêu thần và thực thân nên một lần nữa nguy hiểm đến tính mệnh. Năm giáp dân 78 tuổi, dấn thân tị tam hình, có thể khó qua được.

Tóm lại: Người này thuộc loại người phú quý, tuổi trẻ lưu lạc vất vả, nhà cửa rách nát, trung niên phát đạt, nhưng gian lao vất vả bôn ba, xa quê tự mình xây dựng cơ nghiệp. Hơn nữa tuổi trung niên hôn nhân trắc trở. Cuối đời dụng thần lên ngôi, của cải dồi dào, tài vận hanh thông. Cuối đời cầu tài thì lợi, làm cán bộ lãnh đạo không lợi. Con cái hiếu thuận, có thể hưởng phúc con cái và cuộc sống kết thúc tốt đẹp.