III. Giải hạn bằng thuốc

III. GIẢI HẠN BẰNG THUỐC

Từ xa xưa Trung Quốc đã coi trọng dùng thuốc để dưỡng sinh. Trong cuốn dược học kinh điển sớm nhất - “Thần nông bản thảo”, từng ghi chép rất nhiều bài thuốc có tác dụng “Uống lâu nhẹ thân mình, tăng tuổi thọ”, “Uống lâu trẻ mãi không già” v...

Con người có nhiều dạng tai ách, trong đó tử vong là nhiều nhất. Các nhà mệnh học đều biết: đến tuổi 60, con người thường gặp nhiều cửa ải. Vì vậy ngày xưa tuổi 60 đã cho là thọ. Dùng thuốc có thể vượt qua “cửa ải”, nên tăng tuổi thọ. Thánh dược Tôn Tư Dật từng viết trong “Thiên kim được phương” về “Hoa Đà vẫn mẫu viên” như sau “... tôi thường uống một vài thang, người khoẻ hẳn”. Qua đó có thể thấy, ông có sự thể nghiệm sâu sắc về mặt này. Xưa nay các bậc danh y thường có tuổi thọ cao. Điều đó chứng tỏ dùng thuốc có thể giúp vượt qua tai ách. Người xưa đã để lại nhiều công trình nghiên cứu, chúng ta cần tiếp tục đi sâu hơn.

Trên đời này có nhiều loại người, mỗi người lại có nhiều dạng tai hoạ. Bệnh tật là dạng tai hoạ thường gặp nhất. Thuốc có thể phòng bệnh. Năm gặp tai nạn không bệnh tật thì cũng gặp rủi ro, bệnh tật chỉ là sự phản ánh một mặt của tai hoạ, đó là quan niệm phổ biến. Quan điểm này có đúng không? Trước hết ta hãy xem những điều đã được ghi trong sách “Linh Lan mật điển luận”.

“Tâm là cơ quan chủ tể, chủ về thần minh. Phế là cơ quan liên thông. Can là tướng quân, chủ về đảm lược. Mật là quan trung chính, chủ về quyết đoán. Tam tiêu là sứ thần, chủ về mừng, giận. Tì vị là quan kho tàng. Đại trường là quan tải dẫn, đào thải. Tiểu trường là thu nạp, chuyển hoá. Thận chủ về sức sống, khéo léo. Tam tiêu điều hoà, thanh lọc. Bàng quan chứa trữ nước thải, chứa tân dịch, thải nước thừa. Mười | hai cơ quan này không thể thiếu một cơ quan nào, Cho học thì yên ổn, dưỡng sinh theo hướng đó sẽ trường thọ. Không minh mẫn là do có bộ phận bị tắc trở ”. quan minh mẫn

Ai nói y học cổ chỉ bàn về bệnh? Người mà khí tâm hoả bất túc thì thân trí mơ màng, hành động hồ đồ. Người mà mộc khí gan mật thông thương thì anh dũng, quả cảm, giàu mưu lược. Người mà khí phế kim đầy đủ thì mạnh mẽ, uy nghi, coi trọng danh dự. Người mà thận tinh dồi dào thì chí cao, nhìn rộng, khéo léo tinh thông. Người mà thổ khí của thiện trung yếu kém thì nói năng yếu ớt, tính trầm, hướng nội. Đó là những tố chất tinh thần được quyết định bởi lục phủ, ngũ tạng, là nguồn gốc phát sinh hành vi thiện ác, cát hung.

Mệnh vận của Tứ trụ chỉ phát sinh sau khi cơ thể thai nhi đã hình thành. Thai nhi trong bụng mẹ đã chứa sẵn âm dương, ngũ hành. Đồng thời cát hung hoa phúc giáng xuống con người cũng là do hình hài cơ thể khác nhau mà có. Âm dương, ngũ hành của thai nhi bản tính thiên khô thì dù vận mệnh Tứ trụ tốt đến đâu cũng khó tránh khỏi chết yểu. Mệnh vận Tứ trụ là sự tiếp thu âm dương, ngũ hành lần thứ hai của thai nhi. Mọi ảnh hưởng của các yếu tố như: phần mo, ga trạch, gen di truyền, sự dinh dưỡng cho thai nhi trong bụng mẹ, vận mệnh Tứ trụ, v,v. đều thể hiện qua sự hoạt động của các cơ quan trong cơ thể. Không có cơ thể thì cũng không có mệnh vận. Cho nên cơ thể là yếu tố hàng đầu, mệnh vận đứng hàng thứ hai, tức bệnh quyết định tại ách chứ không phải mệnh quyết định bệnh. Không hiểu rõ điều này sẽ lẫn lộn giữa bệnh và mệnh.

Người ta trước khi gặp tai hoạ thường có điềm dự báo. Khi khí sắc u ám, hoặc khác thường thì đó là sự thể hiện bước đầu chức năng cơ thể bị rối loạn. Nếu không kịp thời điều dưỡng, phát triển thêm một bước sẽ thành bệnh, hoặc khi bị khí trường bên ngoài tác động vào một sự việc . tương ứng sẽ phát sinh cái mà trong mệnh học gọi là tai ách. Cho dù dùng cách hoá giải nào thì cũng phải thông qua cơ thể để tiến hành. Cho nên người ta đi đến kết luận: muốn đề phòng tai hoạ trước hết phải phòng bệnh. Sự hoạt động hài hoà của các cơ quan trong cơ tlà điều phải quan tâm đầu tiên.

Lão Tử nói: “Tôi sở dĩ gặp hạn lớn vì tôi có thân, nếu không có thân thì đâu còn tại hoạ”. Thật là một câu nói chí lý. Sách Hoàng đế nội kinh” viết: “Con người hấp thu ngũ khí ở trời, hấp thu ngũ vị ở đất”. Cơ thể hấp thu âm dương, ngũ hành chủ yếu thông qua hô hấp và ăn uống. “Ngũ khí đi vào mũi, tôn ở tâm, phế, khiến ngũ sắc sáng sủa, giọng nói vang xa; ngũ vị đi vào miệng, tồn ở trường và nuôi dưỡng ngu khí. Khí bình hoà thì sống, sinh tân dịch, tinh thần”. Cho nên phải làm cho “khí và vị hoà hợp để tăng bổ chính khỉ”.

Thường ngày bệnh nhập vào ngũ tạng theo đường ăn uống. Thức ăn ăn vào đều hàm chứa âm dương, ngũ hành. Một chất nào đó đuọc gọi là thuốc vì tính âm dương ngũ hành của chất đó mạnh hay yếu hơn các chất bình thường. Con người hấp thu âm dương, ngũ hành vốn có trong chất đó để điều chỉnh sự vượng hay suy của âm dương, ngũ hành trong cơ thể. Vì vậy thuốc có khả năng hoá giải tai nạn. Nên biết rằng: các chất dù phức tạp đến đâu cũng nằm trong phạm vi âm dương , ngũ hành . Chỉ cần ta ăn uống đúng chất cần thiết thì đều có thể bù đắp được sự thiếu hụt chất đó trong cơ thể , hoặc giúp đào thải những chất có hại Con người chỉ biết dùng thuốc chữa bệnh tức là đã đánh giá thấp giá trị của thuốc . Tôi qua thực tiễn lâu dài đã rút ra kết luận : dùng thuốc giải hạn , đó mới là người tình thông y dịch ,

Thuốc là hợp chất của âm dương , ngũ hành . Dùng thuốc giải hạn không những là cách làm có hiệu quả mà còn ưu việt hơn các phương pháp khác . Có thể tùy cơ ứng biến , linh hoạt vận dụng . Nếu dựa vào phương vị để hoá giải thì chỉ mới có lợi cho hành động mà chưa bảo đảm an toàn , làm sao có thể so sánh với sự toàn diện của thuốc được .

Muốn dùng thuốc chính xác để hoá giải thì phải nắm vững y lý , dược lý để hoà hợp tính thông với mệnh lý . Điều đó khiến cho người đi hoá giải thêm một gánh nặng . Vì vậy người xưa nói : " Thánh nhân xưa , nếu không sống trong triều đình thì cũng sống trong ngành y ” . Ở đây tôi chỉ có thể cung cấp một số gợi ý để mọi người tham khảo .

Trước hết xin nêu hai ví dụ .

Ví dụ 1. Nam

image

Mệnh này thuỷ nhiều , mộc trôi nổi . Các đại vận : Ất dậu , giáp thân địa chỉ cắt chân . Mộc thuộc gan , gan mất nuôi dưỡng khí thừa làm hại dạ dày . Dạ dày thuộc thể bị hư , con hư thì cầu cứu mẹ , mẹ vốn bị khắc nên hình hài yếu mòn , do đó khó tránh được bệnh đau dạ dày .

Tỉ - thực - nguyên - thương

Ất hợi - đinh hợi - Ất mùi - bính tí

Giáp , ất là tỷ kiếp , chủ về gân cốt . Gân cốt khoẻ chứng tỏ mộc vượng , nên bệnh đau càng nặng Vận quý mùi có hoả , có thể nên khử được bệnh tim . Năm 1983 can chi đều là thuỷ nên bệnh dạ dày càng nghiêm trọng , Tôi cho đơn thuốc Tiểu kiện trung thang có gia giảm để điều bổ tâm tì , bình kiện can khí , uống hơn 30 thang thì yên ổn . Có người cho rằng : bệnh quyết định mệnh , năm và vận không tốt thì chữa bệnh cũng khó . Tôi không tán thỉ nh điều đó . Vì nếu đúng như vậy thì còn cần bác sỹ làm gì Vấn đề là gặp năm vẫn không tốt chỉ khó chữ hơn mà thôi . Then chốt là anh có kết hợp được tốt giữa thời cơ bệnh và mệnh hay không . Sau khi chữa khỏi , nếu gặp năm hay vận không tốt thì nên chú ý điều dưỡng cẩn thận hơn . Năm 1984 vốn không thuận , ngược lại nhờ điều dưỡng tốt nên sức khoẻ vẫn bình thường , điều đó đủ thấy công lực của thuốc kéo dài , vô hình trung đã biến đổi được mệnh vận .

Trong Tứ trụ một hành nào đó quá vượng , không có nghĩa là nó đại biểu cho công năng của tạng phủ đó vượng , mà phần nhiều là chỉ thực chứng của tạng phủ đó . Bản mệnh thuỷ vượng không thể là dương thắng , âm hoá mà là chủ về thận âm bất túc , cho nên không được làm dụng thuốc ôn táo để bổ tâm , nhất là đối với con người hiện đại ngày nay luôn mong muốn lợi tâm , âm hư hoả vượng , nên phải chú ý tuỳ cơ mà ứng biến . Người ta hay lấy tính bình của vị bá tử nhân để an thần , liệm tâm khí , vì “ hạt của thảo mộc đều có thể dưỡng tâm , có thể tuỳ đó mà dùng ” . Sinh địa bổ thận âu , cam thảo bổ tì vị . Tỷ là con đường tâm kinh giao lưu với tâm thần , cam thảo không những giúp thúc đẩy sự giao lưu mà có thể khắc chế hoả vượng , đồng thời hoà hoãn dược tính của bá tử nhân , sinh địa . Hợp các vị đó lại trong thang thuốc , uống vào các vị đồng tính sẽ tương cảm lẫn nhau thì thuỷ hoả tương xung sẽ biến thành thuỷ hoả tương tế , âm dương điều hoà , hiệu quả rất nhanh . Năm 1995 người này thuỷ hoả tương xung cho nên phải nhờ các vị trên để hóa giải .

Ví dụ 2. Nam

Thương - thực - nguyên - tài

Mậu tuất - kỷ mùi - đinh tị - tân sửu

Đại vận : Canh thân Tân dậu Nhâm tuất Quý hợi 11 21 31 Mệnh này thổ nhiều mà táo , nên lấy mộc để khơi thông , dùng thuỷ tư nhuận , nhưng vì thân nhược lại đóng bình dương nên rất sợ bị xung . Nguyên cục có hình khắc lẫn kình dương , ở vận quý hợi hai năm 1988 1989 không những phá tài mà còn gặp nạn kiện tụng , phạm pháp . Năm 1995 bình dương bị hai lần xung , nên mệnh chủ không bị thương thì cũng bị nạn khác . Vốn người đó đã tìm cách hoá giải nhưng lại không chịu uống thuốc nên càng nguy hiểm . Về sau dùng thành dược gồm các vị ; viễn chí , xương bồ để chữa tâm linh , dưỡng tâm âm , bổ tâm khí nên kết quả rất kỳ diệu . Nếu không có thuốc đó để cổ vũ chính khí thì e rằng khó qua khỏi cửa ải lục hợp .

Nay giới thiệu một số vị thuốc công hiệu để độc giả tham khảo , tuỳ thân mang theo sử dụng :

- Thuốc chủ về tâm ( tim ) : Bá tử nhân , viên chí , xương bồ , phục linh , hợp hoan bì , tùng tử ( hạt thông ) , liên tử ( hạt sen ) , quế tâm , hoàng liên , chu sa ( cấm sao , không được uống lâu ) .

- Thuốc chủ về can ( gan ) : Toan táo nhân , sơn thù nhục , ngũ vị tử , đương quy , xuyên khung , bạch truật , kỷ tử , tang thầm , cam chanh , miên nhân trần , long đờm thảo , sài hồ , cúc hoa .

- Thuốc chủ về phế ( phổi ) : Sa sâm , bách hợp , thiên đông , mạch đông , tang diệp . - Thuốc chủ về thận : Sinh địa , thục địa , tục đoạn , đỗ trọng , thỏ tí tử , tử hà xa , bổ cốt chỉ ,

Thuốc chủ về tì ( lá lách ) : Đảng sâm , cam thảo , bạch truật , đại táo , mật ong , đường mía , sơn dược