II. Mười can hóa hợp

II. MƯỜI CAN HÓA HỢP

Giáp hợp kỷ hoá thô; Ất hợp canh hóa kim; Bính hợp tân hóa thuỷ; Đinh hợp với nhâm hóa mộc; Mậu hợp với quý hóa hoả.

Có hai loại ý kiến bàn về sự hòa hợp của mười can.

1. Giáp hợp với kỷ hóa thổ là năm giáp, hay năm kỷ lấy bính làm đầu, bính dần là tháng giêng của năm giáp, năm kỷ. Bính là hoả, hoả sinh thổ nên giáp kỷ hóa thổ.

Ất hợp với canh hóa kim là nói năm ất, hay năm canh lấy mậu làm đầu, mậu dần là tháng giêng của năm ất, làm canh. Mậu là thổ, thổ sinh kim nên ất canh hóa kim.

Bính hợp với tân hóa thuỷ là nói năm bính, hay năm tân lấy canh làm đầu, canh dần là tháng giêng của năm bính, năm tân. Canh là kim, kim sinh thuỷ, nên bính hợp với tân hóa thuỷ.

Đinh hợp với nhâm hóa mộc, là nói năm đinh, hay năm châu lấy nhâm dần làm đầu, tức nhâm dân là tháng giêng của năm đinh, năm nhâm. Nhâm là thuỷ, thuỷ sinh mộc nên gọi đinh hợp với nhâm hóa mộc.

Mẫu hợp quý, hóa hoả, tức là năm mậu, hay năm quý lấy giáp dần làm đầu, giáp dần là tháng giêng của các năm mậu, năm quý.

Giáp là mộc, mộc sinh hoả nên mậu hợp quy hoá hoả.

2. Có ý kiến nói mười can hóa hợp với nhau là do phương vị của 28 ngôi sao trên trời quyết định.

Mười can hóa hợp là dương hợp với âm, âm hợp với dương, là âm dương hoá hợp. Sách "Chu dịch" có câu: "Một âm, một dương gọi là đạo". Âm dương hợp với nhau như nam nữ hợp với nhau để thành đạo vợ chồng.

Giáp hợp với kỷ có tên là sự hợp trung chính. Giáp là dương mộc, tính nhân từ, là đứng đầu các thập can. Kỷ là âm thổ, tính yên tĩnh, có đức sản sinh nuôi dưỡng vạn vật nên giáp hợp kỷ là sự tương hợp trung chính.

Giáp hợp kỷ chủ về người được tôn kính, phúc hậu thẳng thắn, nếu trong ngũ hành không có khí lẫn với sát thì phần nhiều chủ về tính hay giận, tùy tiện.

Ất hợp với canh có tên là sự hợp nhân nghĩa. Ất là âm mộc tính nhu, nhân từ, canh là dương kim, tính cứng bất khuất, cho nên ất canh hợp với nhau thì có cả cứng và mềm, gọi là sự hợp nhân nghĩa. Ất hợp với canh ngũ hành sinh vượng thì cốt cách thanh tú, chủ về người có chí tiến thủ, nếu tử tuyệt có kèm với sát thì dũng cảm, tính cách lầm lì, hiên ngang, là người hay tranh cãi.

Bính hợp với tân có tên gọi là sự tương hợp có uy chế ngự. Bính là dương hoa, xán lạn chói chang, tận là âm kim, chất nhu mà nhẫn nại. Bính hợp với tân là trong nhu có cương, gọi là sự tương hợp có uy chế ngự.

Bính hợp với tân chủ về người bề ngoài uy nghi, nghiêm túc, khiến người khác nể sợ, người hay nghiện ngập, ham cờ bạc, háo sắc nếu có sát lẫn vào hoặc ngũ hành gặp tử tuyệt thì là người hay vong ơn bội nghĩa, người vô tình.

Đinh hợp với nhâm gọi là sự tương hợp dâm loạn. Nhâm là thuỷ thuần dương, tính lạnh hướng hàn. Định hỏa là hoả tàng âm, ám muội không rõ ràng cho nên định hợp với nhâm là sự hợp dâm loạn.

Đinh hợp với nhâm chủ về người mắt sáng, thần sắc đẹp, đa tình dễ rung động, gặp vở thì không có chí nhưng lại thích nhan sắc, gia phong ô tạp, nặng tính cách tiểu nhân, tham lam, lừa dối. Nếu là đàn bà thì lấy chồng già hoặc tuổi cao lấy chồng không cưới. Nếu còn trẻ mà lăng loàn thì về già lại tốt. Hoặc ngược lại nếu còn trẻ mà tốt thì lúc về già lại hư hỏng.

Mẫu hợp với quý gọi là sự hợp vô tình. Mậu là dương thổ, tính khô khan, là người chồng khó tính, quý là âm thuỷ tính nhu nhược là người vợ xấu xí. Mẫu hợp với quý là sự tương hợp dương già âm trẻ, nên gọi là sự tương hợp vô duyên.

Mẫu hợp với quý chủ về người hoặc tốt hoặc xấu, nếu mậu được quý thì người đẹp đẽ, kiều diễm. Nếu là con trai thì lấy vợ trẻ, nếu là con gái sẽ lấy chồng đẹp. Nếu quý được mậu thì dung nhan thô lỗ, nam thì lấy vợ già, phụ nữ lấy chồng già.