II. Bảng sinh, vượng, tử, tuyệt của mười hai thiên can.

II. BẢNG SINH, VƯỢNG, TỬ, TUYỆT CỦA MƯỜI HAI THIÊN CAN

Bảng sinh, vượng, tử , tuyệt của mười hai thiên can là lấy thời lệnh của mười hai can vượng cổ suy để giải thích sự vật qua các giai đoạn: sinh trưởng, hưng vượng, y, đến bệnh tật mà chết. Quá trình này là quy luật tất yếu phát triển của vạn vật.

Ứng dụng mười hai thiên can đưa vào dự đoán thông tin của con người đã có lịch sử phát triển hàng nghìn năm. Thực tiễn chứng minh đó là khoa học, vì trong sự sắp xếp mười hai thiên can của năm tháng ngày giờ sinh có thể căn cứ tiêu chí thông tin vượng suy của tiết lệnh mười hai thiên can để thấy được, lường được những tin tức vượng suy của vận mệnh con người và những tin tức vượng suy của mọi sự vật. Về vấn đề này xưa nay chưa hề bị phủ nhận. Nhưng vì khoa học hiện đại còn chưa có cách gì để giải thích được nguyên lý huyền diệu của nó, cho nên có người thường nói liều đó là duy tâm chủ nghĩa.

Trong bảng: "Trường sinh" là chỉ lúc mới ra đời, "Mộc dục" là trẻ em sau khi sinh ra ở giai đoạn tắm rửa; "Quan đới" là trẻ con có thể mặc áo, đội mũ; "Lâm quan" cũng gọi là "Kiến lộc" và "Đế vượng" tức là thân vượng, tức giai đoạn vận khí vượng. Vật đã vượng tất có giai đoạn suy thoái cho nên từ suy đến tuyệt đều là bại địa. "Thai", "Dưỡng", đối với vận mà nói đều gọi là vận bằng phẳng, vì "Thai" là mang thai, "Dưỡng" là nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Các trạng thái nêu ra trong bảng đối với quy luật phát triển, biến hoá của sự vật mà nói, chính là sự vật từ sơ sinh đến lớn lên, cường tráng đến suy bạ rồi tử vong. Sau đó lại lặp đi lặp lại vòng tuần hoàn ấy.

Can trong bảng là lấy can ngày làm chủ, tức là can của ngày sinh. Ví dụ: giáp mộc gặp hợi là thời kỳ sinh, gặp tý là mộc dục, gặp sửu là quan đới..., gặp thìn là suy, gặp tị là bệnh. Tức là nói giáp mộc gặp được năm hơi, hoặc tháng hợi, ngày hợi, giờ hơi đều là gặp sự sinh trưởng. Ngược lại, giáp mộc gặp năm ngọ, hoặc tháng ngọ, ngày ngọ, giờ ngọ thì đều là gặp tử địa. Gặp tử địa không nhất định là chết. Tử địa phần nhiều chủ về vận khí không thuận hoặc có tai hoạ. Cho nên người sinh giáp mộc, nếu năm, tháng, ngày, giờ đều gặp ngọ, hoặc người đó không biết tổ hợp sắp xếp Tứ trụ của mình thì nên cẩn thận đề phòng mọi mặt, nếu không nhất định sẽ bị tổn thất. Các trường hợp khác cũng hiểu tượng tự như thế.

image

Trong bảng, từ sinh đến vượng là có lợi, từ suy đến tuyệt là không lợi. Thai, dưỡng là chỉ chung chung. Các địa chỉ trong bảng là dùng để đoán thời gian ứng nghiệm cát, hung, tức để biết thời điểm và phương vị xảy ra sự việc. Ví dụ giáp đế vượng ở mão. Mão ở đây là năm, hoặc tháng, ngày, giờ mão. Phương vị là phương đồng so với nơi sinh ra mình. Gặp mộc mộ ở mùi. Mộ là nhập mộ, đương nhiên không tốt. Mùi là năm, tháng, ngày, giờ mùi, phương tây nam. Cho nên là việc có lợi thì nên làm vào thời gian và phương có lợi. Việc không lợi thì không nên làm vào thời gian hoặc ở phương bất lợi, như thế có thể tránh được tại nạn bất ngờ. Vì vậy bảng trên là tiêu chí về thông tin và thời gian để hướng về cái tốt, tránh xa cái xấu. Cách tra bảng như sau: dân mộc căn cứ theo giáp mộc; mão mộc theo ất mộc; thìn tuất theo mẫu thổ, sửu mùi theo kỷ thổ; tị hoả theo đinh hoả; ngọ hoả theo bính hoả, thân kim theo canh kim; dậu kim theo tân kim; tí thủy theo nhâm thủy; hợi thủy theo quý thủy.