I. Bàn về thiên la địa võng

I. BÀN VỀ THIÊN LA ĐỊA VÕNG

Thìn là thiên la, tuất là địa võng. Người mệnh hoả gặp tuất hợi là thiên la, người mệnh thuỷ thổ gặp thìn tị là địa võng. Thìn gặp tị, ti gặp thìn là thiên la; tuất gặp hợi, hợi gặp tuất là thiên la. Nam bị thiên la, nữ kì địa võng.

Phép lấy thiên la địa võng, xưa nay không giống nhau. Có người lấy nạp âm của thiên can năm gặp ngày, ví dụ: người mệnh hoả thấy ngày tuất hợi là thiên la, người taệnh thuỷ thể thấy ngày thìn tị là địa võng. Có người lại lấy chi năm làm chủ, phàm gặp địa chỉ trong Tứ trụ hoặc gặp trên vận tức là mệnh người đó phạm vào thiên la địa võng. Sau Tử bình, ngày nay phần nhiều lấy nhật nguyên làm chủ. Vì cách tra thiên la địa võng khác nhau nên làm cho việc nghiên cứu gặp khó khăn. Tôi qua kinh nghiệm thực tiễn, bất kể lấy chi năm hay nhất nguyên làm chủ, chỉ cần trong Tứ trụ có thấy là cho rằng có thiên la, địa võng.

Thuyết thiên la địa võng có lý của nó. Trời nghiêng về Tây bắc mà tuất hợi là cùng cực của lục âm; đất thấp ở Đông nam mà thìn tị lại là cùng cực cua lục dương. Cùng cực âm dương là ám muội, bất minh như người rơi vào mênh mông, mờ mịt, cho nên nói tuất hợi là thiên la, thìn tị là địa võng.

Nam sợ thiên la, nữ kị địa võng là nói: Rồng là thìn, rắn là tị người thìn được tị, người tị được thìn là rồng rắn hỗn tạp. Nam nữ gặp phải là hôn nhân không thành, hại con cái, nghèo đói, bệnh tật. Người thìn được tị nặng hơn người tị được thìn. Lợn là hơi, chó là tuất, người tuất được hợi, người hơi được tuất đều là lợn chó lẫn lộn. Mệnh nam nữ gặp phải thì đần độn ngu ngốc, cản trở cha mẹ, khắc vợ. Người tuất gặp hợi, thì nhẹ hơn người hợi gặp tuất. Cho nên nam sợ thiên la, nữ sợ địa võng. Ở giua lại còn chia ra: mệnh hoả có thiên la, mệnh thuỷ thổ có địa võng. Người có mệnh đó phần nhiều trễ nải, nếu đi với áo sát nữa thì ngũ hành không có khí, tất cả chỉ về ac tử, hành vận đến đó thì khó tránh khỏi. Ví dụ sinh ngày mồng một tháng tuất năm tuất, tức là phạm cả năm thiên la. Người sinh ngày 15 là phạm 15 năm thiên la. Nếu lại sinh giờ tuất nữa thì tăng thành 30 năm thiên la. Tháng hợi năm tuất hoặc giờ hợi ngày tuất gặp nhau thì tai hoạ liên miên. Gặp cả thiên la lẫn địa võng thì càng nặng thêm nữa.

Người gặp thiên la địa võng, trong thực tế thường là người hay gặp nạn về hình pháp. Cho nên người trong Tứ trụ có thiên la địa võng thì trong cuộc sống cần cẩn thận, tôn trọng pháp luật, không nên manh động, nếu không khó tránh khỏi lao tù.

Thiên la địa võng còn chủ về tai nạn, bệnh tật. Người trong Tứ trụ có nó, khi hành vận đến đó đều thường bất lợi cho thân thể cho nên phải chú ý rèn luyện và đề phòng bệnh tật.

Về người mệnh kim, mệnh mộc, có thuyết cho rằng không có thiên la địa võng. Điều đó xưa nay các sách nói khác nhau. Tôi cho rằng, người xưa nói mệnh kim, mệnh mộc không có thiên la địa võng vì ba nguyên nhân sau:

Thứ nhất, trong mười hai địa chi, người xưa lấy tí sửu dân mão, thìn tị là dương, lấy ngọ mùi thân dậu tuất hợi là âm. Dương bắt đầu ở tí sửu, kết thúc ở thìn tị, âm bắt đầu ở ngọ mùi, kết thúc ở tuất hợi. Dần mão là mộc, tí sứu ở trước, thìn tị ở sau, dân mão ở giữa nên không có thiên la. Thân dậu là kim, ngọ mùi ở trước, tuất hợi ở sau, thân dậu nằm giữa chứ không ở cuối nên không có địa võng.

Thứ hai, vì người xưa cho rằng: "Tuất hợi là cuối của sáu âm, thìn tị là cuối của sáu dương", từ đó mà lý luận hai mệnh kim, mộc không có thiên la địa võng. Hồi đó vì điều kiện hạn chế, giao thông lạc hậu, không có cách gì để chứng minh xem hai mệnh kim mộc, có thiên địa võng hay không nên đã kết luận như vậy.

Học thuyết mệnh lý của Trung Quốc đã trải qua thực tiễn rất lâu đời để ngày càng tổng kết được hoàn thiện. Thiên la địa võng phần nhiều chủ về tai nạn lao tù. Thuyết hai mệnh kim mộc không có thiên la địa võng của người xưa, qua thực tế nghiên cứu ngày nay thì không hoàn toàn như thế. Những người mệnh kim, mộc đều sinh vào các năm canh thìn, tân tị, canh tuất, tân hợi, mậu thìn, kỉ tị, mậu tuất, kỉ hơi, mà số người ngồi tù hiện nay sinh các năm đó cũng không ít hơn loại người khác. Đó là thí dụ phản chứng rất rõ.

Người trong Tứ trụ có thiên la địa võng và sát tinh hoặc lưu niên, đại vận đều phải cẩn thận đề phòng phạm pháp. Nhưng cũng có lúc gặp thiên la địa võng, nhưng không những không gặp tai vạ mà còn gặp tin mừng bất ngờ, đó là những người trong Tứ trụ có giải cứu hoặc có thiên đức, nguyệt đức.