Chương ̣9 tổng kết

Chương 9 BÀN VỀ CÁT THẦN

Học thuyết về thần sát, từ đời Hán đến nay đã trải qua hơn ba ngàn năm lịch sử, có đến khoảng một trăm hai mươi cách nói. Nên những lời bàn luận của các sách mệnh học về thần sát rất khác nhau. Có cách vứt bỏ cả nguyên lý âm dương, ngũ hành, sinh khắc chế hoá của Tứ trụ, lưu niên, đại vận mà chỉ lấy thân sát để quyết định mệnh người nào đó cao sang hay thấp hèn; có sách lại hoàn toàn phủ định vai trò của thần sát trong dự đoán, cho rằng thần sát là rông dài, bịp bợm. Tôi cho rằng cả hai cách nhận thức trên đều lệch. Lấy thần sát để quyết định mệnh người cao sang hay thấp hèn là không đúng, nhưng phủ định hoàn toàn vai trò của thần sát trong dự đoán thì lại càng sai.

Trong dự đoán thông tin nhất thiết phải nói đến thần sát, nhưng không thể vận dụng cả một trăm hai mươi cách nói để đến nỗi tạo ra một thần nào đó là cát, một sát nào đó là hung, vừa hung vừa cát thì hỗn tạp vô cùng. Hoặc trong sách này nói đó là thần cát, trong sách khác cho rằng mặt đó là hung, mỗi sách nói một phách, mâu thuẫn lẫn nhau, độc giả không biết đâu mà theo. Ngoài ra cách tra cát hung, thần sát của các sách rất khác nhau. Có sách tra theo năm, có sách tra theo tháng, có sách tra theo ngày. Như sách "Thiên hỉ", "Tuyển trạch tổng kinh” lấy tháng giêng tuất, tháng hai hợi...để tra "thiên hỉ". Sách "Phi tinh tử vi đầu số” thì lấy chi năm để tra: năm tí kiến dậu, năm sửu kiến thân... Tên gọi cũng không thống nhất, như "đại hao" là sát tinh, có sách vẫn gọi là "đại hào", có sách lại gọi là "nguyên thân". Cứ như thế người đời sau không biết đâu mà ứng dụng. Qua đó ta thấy cát, thần, hung, sát được bàn rất lộn xộn.

Về ứng dụng của thần sát, tôi căn cứ các sách hiện đại và sách cổ, cộng thêm với kinh nghiệm đã dùng trong thực tế có giá trị, xin giới thiệu để mọi người tham khảo.

Hai chữ "thần sát" là một trong những tiêu chí để dự đoán cát hung. Thần không phải là thần, quỷ, sát cũng không phải là sát nhân. Thần là tiêu chí cát tinh trong Tứ trụ; sát là tiêu chí hung tinh, những thần sát này là tiêu chí thể hiện một mặt sự việc nào đó trong thông tin của Con người. Căn cứ sự biểu thị của nó là đoán được thực chất của vấn đề, nhưng nó không phải là cái quyết định vận mệnh hay thay cho vận mệnh,

I. BÀN VỀ THIÊN ẤT QUÝ NHÂN

Giáp mậu đi với trâu, dê, ất kì đi với chuột, khỉ. Bình định là lợn gà; nhâm quý là thỏ, rắn. Canh tân hổ, ngựa, đó là phía quý nhân. Bài vè trên rút từ sách "Uyên hải tử bình". Cách lấy thiên can của thiên ất quý nhân các sách nói khác nhau. Những sách khác nói "giáp, mậu, canh là trâu dê" và "lục thân là hổ, ngựa".

Tôi ứng dụng thiên ất quý nhân theo phương pháp sách "Uyên hải tử bình”, không những vì mặt Tứ trụ mệnh lý học sách đó bàn sâu mà trong thực tế cũng được thừa nhận rộng rãi, trong ứng dụng đã được chứng minh,

Còn cách lấy thiện ất quý nhân vì sao khác nhau, nguyên nhân đến nay vẫn chưa rõ. Trừ sách "Tam mệnh thông hội” có giải thích ra, còn nữa thì phải nghiên cứu thêm. cho nên trong ứng dụng không cưỡng gán phải thống nhất với nhau. Mỗi người có thể theo kinh nghiệm và thói quen của mình mà tự do lựa chọn cho thích hợp. Chắc chắn thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất kiểm nghiệm chân lý.

Ngoài ra, cách lấy thời gian của thiên ất quý nhân cũng có hai cách khác nhau. Có sách lấy can năm làm quý nhân, có sách lại lấy can ngày sinh làm quý nhân. Cách dùng cũng khác nhau làm cho người đời sau không biết đâu mà lựa chọn.

Tôi trong thực tiễn lấy cả can năm và cản ngày làm quý nhân. Thực tế chứng minh quý nhân can năm to hơn, quý nhân can ngày nhỏ hơn, Nếu trong Tứ trụ can năm và can ngày đều có thiên ất quý nhân, thì đó là một quý nhân to, một quý nhân nhỏ. Cho dù quý nhân to hay nhỏ, đều có tác dụng làm thiên ất quý nhân.

Thiên ất quý nhân lại chia ra quý dương, quý âm, có hai cách chia. Cách thứ nhất lấy sinh sau giờ tí làm quý dương, sinh sau giờ ngọ là quý âm, cách thứ hai lấy dấn thân để chia âm dương sinh sau đồng chí là quý dương, sau hạ chí là quý âm. Người sinh sau một dương gặp được quý dương là dược thêm sức, sinh sau một âm gặp quý âm là thêm sức. Cho nên lấy hai tiết lệnh động chí, hạ chí chia làm quý dương, quý âm là đúng lý.

Thiên ất quý nhân là trong năm tháng ngày giờ sinh gặp quý nhân là cát tinh, là sao giải ách, sao cứu trợ. Trong Tứ trụ có quý nhân gặp việc có người giúp, gặp tai ách có người giải cứu, là sao gặp hung hoá thành cát. Cho nên sách "Tam mệnh thông hội” nói: "Thiên ất là thần trên trời, trong tử vị luôn ở bên ngoài cửa, sắp hàng ngang, thái ất làm những việc của thiên hoàng đại đế nên tên gọi là thiên ất. Thân thiên ất rất tôn quý, tất cả mọi hung sát đều phải lánh xa". Sách "Chúc thần kinh” còn nói: "Thiên ất quý nhân gặp sinh vượng, thì diện mạo hiên ngang, tính tình nhanh nhẹn, lý lẽ phân minh, không thích mẹo vặt, mà thẳng thắn, người ôn hoà đức độ, được mọi người yêu mến khâm phục, Thái ất mà tử tuyệt thì tính tình cố chấp, có thái ất sẽ đỡ. Nếu thái ất đi với kiếp sát thì có uy, đa mưu túc kế. Thái ất đi với quan phù thì văn chương bay bổng, lời lẽ hùng biện. Thái ất đi với kiến lộc thì văn chương thành thật, ân huệ khắp nơi, là người quân tử".

Thiên ất quý nhân là thần tốt nhất trong mệnh. Ai có nó thì vinh hiển, công danh sớm đạt, dễ thăng quan. Nếu mệnh thừa vượng khí thì có thể đạt đến danh tướng, công hầu. Đại tiểu vận hành đến năm đó thì nhất định sẽ được thăng quan. Tất cả những gì gặp được cái này đều là điểm tốt. Phàm người ta đến lúc gặp được thái ất quý nhân thì thường gặp tin vui, mọi việc đều thuận. Thiên ất quý nhân lại gặp được thiên đức, nguyệt đức thì quý vô cùng, người đó thông minh trí tuệ. Quý nhân tọa vào can ngày thì suốt đời thanh cao. Tóm lại trong Tứ trụ có thiên ất quý nhân thì thông minh tháo vát, gặp việc linh lợi, gặp hung hoá cát, là người hào phóng, hay vui vẻ giúp người, tâm tự hiền lành, giao thiệp rộng rãi, được mọi người ủng hộ. Thiện ất quý nhân tốt nhất là được sinh vượng, được cát tinh trợ giúp, kị nhất là gặp hình xung khắc hại hoặc đất không, vong, tử,tuyệt. Người gặp thế là họa, nguồn phúc giảm đi, suốt đời vất vả.

Thìn tuất là chỗ cao nhất, quý nhân không gặp nên hai chị thìn tuất không có thiên ất quý nhân.

Cách tra thiên ất quý nhân như can năm, can ngày đều tra được, lấy can năm tra bốn chi trong Tứ trụ xem có gặp quý nhân không. Xong lại lấy can ngày tra bốn chi trong Tứ trụ xem có gặp quý nhân không. Căn cứ ví dụ cổ và ví dụ thật, chỉ cần quý nhân hai địa chỉ trong Tứ trụ xuất hiện tức là đều có sao quý nhân.

image

Theo câu "Ất tị đi với chuột khỉ", ta tra quý nhân của con năm, trong Tứ trụ không có địa chỉ "tí, thân" nên can năm không có quý nhân; tra can ngày "Giáp mậu đi với trâu dê", chi năm, chi giờ trong Tứ trụ có "sưu trâu, mùi dê" cho nên can ngày có hai quý nhân. Nếu chỉ gặp sửu, hoặc chỉ gặp mùi thì can ngày chỉ có một quý nhân.

image

Theo câu "Danh thân gặp hổ, ngựa" tra can năm không có địa chỉ "dần ngọ"; theo câu "Nhâm quý là thở rắn" lại tra cho can ngày không có địa chi "mão tị", nên cả can năm và ngày đều không có quý nhân.

Tứ trụ không có quý nhân thì xem thai nguyên, cung mệnh xem có quý nhân g? Cách tra thai nguyên, cung mệnh đã nói ở trên. Ở ví dụ này thai nguyên là tân mão, cung mệnh là giáp ngọ, nên can năm là tân gặp ngọ của cung mệnh là quý nhân; can ngày là nhâm gặp mão của thai nguyên là quý nhân. Như thế gọi là thai nguyên và cung mệnh gặp quý nhân, có để bù đắp chỗ khiếm khuyết của Tứ trụ là có quý nhân.

Còn nếu can năm, can ngày, thai nguyên, cung mệnh đều không có quý nhân thì khi gặp việc xấu hoặc đại nạn sẽ khó mà khắc phục. Lúc đó phải dựa theo can năm, can ngày của người đó, thiếu quý nhân phải tìm những sao quý nhân gần đó giúp đỡ, thì may ra sẽ đỡ được phần nào. Nếu vốn có quý nhân thì dù biết được hay không, khi gặp khó khăn là có người giúp. Người giúp đó trong Tứ trụ gọi là quý nhân. Ví dụ bị chết đuối mà có người giúp, người giúp đó trong Tứ trụ là sửu, mùi, thì ân nhân ngoài đời thường là người tuổi sửu hoặc tuổi mùi.

II. BÀN VỀ THÁI CỰC QUÝ NHÂN

Sinh giáp Ất tìm trong tí ngọ.

Sinh bình định thì gặp gà thỏ.

Mậu kỉ hai can gặp tứ quý.

Canh tân dân hợi lộc dồi dào.

Nhâm quý gặp tị thân tốt đẹp.

Được như trên phúc lộc tuôn về.

Sách "Tam mệnh thông hội” nói: "Thái cực, thái là ban đầu, là bắt đầu, vận hình thành ở giai đoạn đầu là thái cực, là nhất định thành, nhất định kết quả. Vật có chỗ quy tụ về gọi là cực, tức tạo hóa duy trì cho sự thuỷ chung, nên gọi thái cực là quý nhân vậy. Mộc giáp ất được tạo ra ở tí, nhờ khảm thuỷ mà sinh và kết thúc ở ngọ, đó là do ly hoả đốt mà chết. Hoả của bính định ra đời ở chân mão, sau được tàng dấu ở đoài dậu. Kim của canh tân được dần nên kim sinh ở cấn, nhờ gặp hợi nên kim được tôn quý ở càn. Thuỷ của nhâm quý đầu tiên sinh ra nhờ thân, sau đó được tự dung nạp".

Đất nứt ở đông nam, bốn bề rãnh mương đều chảy về ngôi tốn, tức là ý có thuỷ có chung. Mậu kỷ là thổ mừng sinh ở thân, được thìn tuất sửu mùi là bốn kho chính, tức là quý nhân gặp được sẽ có thần phục phù trợ, còn gì hơn mà không tốt đẹp.

Mệnh người gặp được thái cực quý nhân là chủ về thông minh hiếu học, tàng ẩn hỉ thân, chăm chỉ dụng công. Đặc biệt đoán về học hành, chức nghiệp, hỉ tinh, tướng mặt, Tứ trụ, Bát quái phong thuỷ âm dương thì thái cực quý nhân rất quan trọng. Người gặp nó có tính cách chính trực, làm việc chuyên chú, có đầu có đuôi nếu được sinh vượng, lại có thái cực quý nhân cát tinh phù trợ thì ý chí hiên ngang, phúc thọ song toàn, nếu không phải quan cao trong triều đình thì cũng là người giàu sang giữa muôn dân.

Cách tra thái cực quý nhân cũng giống tra thiên ất quý nhân, nhưng không gắn với thuyết thai nguyên và cung mệnh.

III. BÀN VỀ THIÊN ĐỨC, NGUYỆT ĐỨC QUÝ NHÂN

1. Thiền đức quỷ nhân

Sinh tháng giêng thấy đinh, tháng 2 thấy thân, tháng 3 thấy nhâm, tháng 4 thấy tân, tháng 5 thấy hơi, tháng 6 thấy giáp, tháng 7 thấy quý, tháng 8 thấy dần, tháng 9 thấy bính, tháng 10 thấy ất, tháng 11 thấy ti , tháng 12 thấy canh.

Phàm người năm tháng ngày giờ trong Tứ trụ thấy có như thế là có thiên đức quý nhân.

2. Nguyệt đức quý nhân

Sinh tháng dần ngọ tuất thấy bính,

Sinh tháng thân tí thìn thấy nhâm.

Sinh tháng hợi mão mùi thấy thân,

Sinh tháng tị dậu sửu thấy canh.

Phàm người mà can của năm tháng ngày giờ trong Tứ trụ thấy có như thế tức là có nguyệt đức quý nhân.

Thiên đức nguyệt đức là mặt trời và mặt trăng hội hợp chiếu vào bất cứ sự ám muội nào cũng không tồn tại được trong đó. Cho nên mọi sự cướp bóc, độc ác đều có thân cứu giải. Khí đẹp của thiên đức là thân hóa hung thành cát, đại phúc đức, nếu có thêm lộc mã, ấn, thụ quý nhân giúp thêm, hoặc có cả thiên đức và nguyệt đức thì sẽ có đủ tài, quan, ấn, thực; nếu còn được tam kỳ ngũ hành sinh vượng, không bị thương khắc phá hại thì hiển đạt vinh hoa, suốt đời không gặp điều gì ngang ngược. Nếu bị tử, thương, phá thì việc gì cũng không thành. Mệnh không có thái cực quý nhân thì bận tiện hung ác, nếu gặp được thiên đức, nguyệt đức là có cứu giải. Trong hai đức, thiên đức làm đầu, nguyệt đức thứ hai. Nó sẽ biến tài quan ấn thụ tăng lên gấp bội, làm cho can ngày thêm tốt.

Hai đức này lâm nhật thì chủ về cuộc đời không gặp gì nguy hiểm. Gặp được tướng tinh thì công thành danh toại. Được một đức phù hộ thì mọi điều xấu được giải thoát. Nam gặp nó đường công danh thênh thang, nữ gặp nó phúc thọ đều được. Nếu được cả hai đức phù trợ thì lợi về đường công danh, ít bệnh tật. Người có cả thiên, nguyệt đức thì âm dương cân bằng, văn học siêu quần, chức tước thanh hiển. Thiên, nguyệt đức quý nhân là thần cứu giải, mọi nạn đều qua. Thơ xưa nói: "Thiên đức vốn là đại cát, nếu gặp ngày giờ là rất tốt, thi cử sẽ đỗ cao, làm việc gì cũng thành công... Trong mệnh nếu có thiên, nguyệt đức thì cầu việc gì cũng lợi, sĩ nông công thương làm nghề gì cũng gặp may. Anh em vợ chồng không khắc hại nhau, âm đức tổ tiên dồi dào, còn trẻ đã thành đạt",

Trong mệnh có cả hai thiên, nguyệt đức thì người hiền từ hay bố thí, làm việc theo công bằng, yêu nước thương dân, thông minh trí tuệ, tài cán hơn người, ít bệnh tật, không bị hình phạt, gặp hung hóa cát, gặp nạn được cứu. Người mà tài, ấn, thực đều có còn có hai đức thì giảm được điều xấu, phúc được tăng thêm. Người gặp kiêu, sát, thương, kiếp những việc ngang trái dễ hóa phúc. Nữ có hai đức thì lấy được chồng đẹp, thông minh, con nhà giàu sang, dễ sinh đẻ.

Thiên đức, nguyệt đức được cát thân phù trợ càng thêm tốt, sợ nhất tự gặp xung khắc, bị xung khắc tất nhiên vô lực.

IV. BÀN VỀ TAM KỲ QUÝ NHÂN

Trên trời tam kỳ là giáp mấu canh. Dưới đất tam kỳ là ất bình định. Trong người tam kỳ là nhâm quý tân.

Về tam kỳ, nhiều sách đều lấy thiên địa nhân là kỳ, cũng có sách lấy tài, quan, ấn, tài, quan, thực là kỳ. Đa số sách đối với tam kỳ giữ thái độ khẳng định, còn sách "Mệnh lý ước ngôn” thì cho rằng tam kỳ là không quan trọng.

Đối với tài quan, ấn hay tài, quan, thực vốn vẫn thuộc lục thân trong Tứ trụ là tượng phú quý. Ở đây bàn đến là tam kỳ trong thiên địa nhân. Tam kỳ dưới điều kiện nào mới có thể thành kỳ chân chính? Một là: không thể kỳ nào cũng đều phải sắp xếp theo chiều thuận, tức năm giáp, tháng mậu, ngày canh hoặc tháng giáp ngày mậu giờ canh. Hai là, tam kỳ phải đắc thời đắc địa, không được tử tuyệt. Ba là, tam kỳ phải có cát tinh quý nhân như thiên ất, thiên đức, nguyệt đức phù trợ. Bốn là, gặp đái nguyên thần, đào hoa, thiên la địa võng là trở thành vô dụng.

Tam kỳ có vai trò kì tài đặc biệt. Theo sách "Siêu nhân Trương Bảo Thắng" nói: Trương là tám chữ tam kỳ, cho nên công năng đặc biệt của nó thế gian hiếm có. Tôi trong thực tế cũng đã gặp tám chữ tam kỳ, vì ở vào đất mộ tuyệt nên người đó cũng chỉ là người bình thường.

Phàm mệnh gặp tam kỳ, tinh thần người đó khác thường, hoài bão to lớn, thích những gì to tát, biết rộng, nhiều tài. Người có thêm cả thiên ất quý nhân thì công danh siêu quần. Nếu có thêm thiên đức, nguyệt đức thì không bao giờ gặp điều tai vạ. Có thêm tam hợp nhập cục thì đó là đại thần trong quốc gia. Có thêm quan phù kiếp sát thì tầm nhìn sắc sảo, nhìn xa trông rộng. Có thêm tuần không, sinh vượng sẽ thoát khỏi bụi trần tục, phát quý, không dâm, uy vũ bất khuất.

Tam kì phải được phối hợp với mệnh cục và có các quý nhân khác phù trợ thì mới vinh hoa phúc thọ. Nếu chỉ có tam kỳ, không có quý nhân, mệnh cục lung tung thì cũng sẽ bần cùng thấp kém, bị coi thường. Cho dù mệnh cục khá đẹp nhưng tam kỳ không có quý nhân mà lại rơi vào không vong thì không cô độc cũng là kẻ lang bạt bốn phương.

V. BÀN VỀ PHÚC TINH QUÝ NHÂN

Cách lấy phúc tinh quý nhân của sách "Uyên hải tử bình” là lấy can năm hoặc can ngày làm chủ.

Phàm giáp, bính gặp dân hoặc tí, ất quý gặp mão hay sửu, mậu gặp thân, kỷ gặp mùi, đinh gặp hợi, canh gặp ngọ, tân gặp tị, nhâm gặp thìn là có phúc tinh quý nhân.

Nếu trong mệnh có phúc tinh thì chủ về cuộc đời phúc lộc dồi dào, có cả cách cục phối hợp thì còn nhiều phúc và sống lâu, vàng bạc đầy nhà. Người bình thường gặp được thì ít nhất cũng ngày ba bữa no ấm, cuộc sống vô lo. Sao này phần nhiều chỉ về bình an, có phúc chứ không chỉ sự giàu sang.

VI. BÀN VỀ VĂN XƯƠNG QUÝ NHÂN

Theo "Tử vi đẩu số" cách tra văn xương quý nhân lấy can năm, can ngày làm chủ, nếu gặp các địa chỉ trong Tứ trụ tức là có văn xương quý nhân. Người có sao văn xương quý nhân thì thực thần gặp quan trường sinh.

- Giáp lấy bính làm thực thần, bính lâm quan ở ti, nên giáp lấy tự là văn xương quý nhân.

- Ất lấy đinh làm thực thần, đinh lâm quan ở ngọ, nên ất lấy ngọ là văn xương.

- Mậu lấy canh làm thực thần, canh làm quan ở thân, nên mậu lấy thân là căn xương.

- Đinh lấy sỉ làm thực thần, kỉ trường sinh ở dậu, nên định lấy dậu làm văn xương.

- Canh, tân, nhâm, quý cách tính đều như thế (canh lấy hơi, tân lấy tí, nhâm lấy dần... làm văn xương).

Văn xương nhập mệnh chủ về thông minh hơn người, gặp hung hóa cát, tác dụng của nó tương tự như thiên đức, nguyệt đức, thiên ất quý nhân. Xem văn xương quý nhân ta thấy, cứ "thực thần" lâm quan là có văn xương quý nhân. Do đó mà gọi là văn xương tức thực thần kiến lộc

Người văn xương nhập mệnh thì khí chất thanh tao, văn chương cử thế. Nam gặp được thì nội tâm phong phú, nữ gặp được thì đoan trang, ham học, ham hiểu biết, muốn vươn lên, cuộc đời lợi đường tiến chức, không giao thiệp với kẻ tầm thường.

Trong thực tiễn, người có văn xương quý nhân sinh vượng, thường đỗ đạt các trường chuyên khoa, đại học, lợi về đường học hành thi cử.

VII. BÀN VỀ KHỐI CANH QUÝ NHÂN

Nhâm thìn, canh tuất, canh thìn và mậu tuất là bốn ngôi khôi canh quý nhân đóng.

Thìn là thiên canh, tuất là hà khôi, tức thìn là thủy kho thuốc thiên canh, tuất là hỏa kho thuộc địa khôi. Thìn tuất đều có là thiên xung địa kích.

Người mà trụ ngày thấy một trong bốn ngôi ấy là có khối canh quý nhân. Nhưng trong trụ không có tài, quan, hình, sát thì mới tốt, nếu có lại là xấu. Nếu gặp vượng địa thì tốt vô cùng.

Trong bốn ngày đó, đối với canh tuất và canh thìn nếu trong Tứ trụ mà có quan là không tốt; hai ngày mậu tuất và nhâm thìn nếu trong Tứ trụ có tài vận cũng là không tốt.

Khội canh quý nhân chỉ về người có tính cách thông tuệ, ưa sát phạt. Nếu trong Tứ trụ có hình xung phá hại thì người đó nghèo rách, kiệt quệ.

Người gặp thiên canh địa khôi, nếu suy thì nghèo đói rách nát; nếu vượng thì giàu sang tuyệt trần, khởi canh tụ hội thì phúc phát phi thường. Tính cách thông minh, văn chương nổi tiếng, gặp việc thì quả đoán, nắm quyền thì thích sát phạt, thân vượng thì phát phúc to. Nhưng gặp tai quan thì tai họa ập đến ngay, nếu Tứ trụ có hình sát thì còn nặng hơn. Nếu lâm tài vượng, quan vượng thì phải đề phòng tại họa bất ngờ. Nếu lệnh tháng gặp tai quan ấn thụ, ngày chủ một trong bốn ngôi, tức lấy tài quan ấn thực làm dụng thần, tuy hơi bị phá tài, nhưng nhờ tài quan ấn thực được ngôi nên không bị hại nhiều.

Canh tuất, canh thìn hai ngày này không có quan tinh, nếu khối canh trùng điệp hữu tình thì chủ về phú quý danh tiếng, nếu gặp tài quan thì xấu. Gặp tuế vận còn gặp cả tài quan vượng thì tai vạ khôn lường.

Người trong Tứ trụ có khối canh quý nhân, tuy có tài lãnh đạo, tiếng vang sức mạnh, thích quyền bính, hiếu thắng, nhưng việc hôn nhân thường trắc trở. Ngoài ra nếu không tôn trọng pháp luật thì khó tránh khỏi tù đày.

VIII. BÀN VỀ QUỐC ẤN QUÝ NHÂN Giáp thấy tuất, ất thấy hơi, bính thấy sửu, đinh thấy dần, mậu thấy sửu, kỷ thấy dần, canh thấy thìn, tận thấy tị, nhâm thấy mùi, quý thấy thân. Quốc ấn quý nhân là lấy lộc can năm hoặc can ngày làm khởi điểm, ngôi thứ chín trước lộc nếu gặp địa chỉ quốc ấn tức là có quốc ấn quý nhân. Ví dụ giáp lộc ở dần, ngôi thứ chín trước dần là địa chi tuất, nên giáp thấy tuất là có quốc ấn quý nhân. Quốc ấn quý nhân trong dự đoán có chuug ít dùng, nhưng người trong Tứ trụ có quốc ấn quý nhân và sinh vượng thì hầu hết làm chức to trong nhà nước hoặc nắm quyền quản lý ở cơ quan. Sao này cũng có thể tham khảo để các cơ quan dùng tuyển người giữ chức cao. Người Tứ trụ có quốc ấn, chủ về thành thực đáng tin, nghiêm túc thanh liêm, quy củ, hành sự theo lẽ công, vui vẻ với mọi người, lễ nghĩa nhân từ, khí chất hiên ngang. Nếu ấn gặp sinh vượng và có các cát tinh tương trợ, không gặp xung, phá, khắc, hại thì không những có thể đứng đầu cơ quan mà còn có khả năng tốt.

IX. BÀN VỀ TỪ QUÁN, HỌC ĐƯỜNG

Học đường: Mệnh kim thấy tự, tân tị là chính ngôi; mệnh mộc thấy hợi, kỉ lợi là chính ngôi; mệnh thủy thấy thân; giáp thân là chính ngôi; mệnh thổ thấy thân, mậu thân là chính ngôi mệnh hỏa thấy dân, bính dân là chính ngôi.

Từ quán: Giáp thấy canh dần, ất thấy tân hợi, bính thấy ất tị, định thấy mậu ngọ, mậu thấy đinh tị, kỉ thấy canh ngọ, canh thấy nhâm thân, tận thấy quý dậu, nhâm thấy quý hợi, quý thấy nhâm tuất.

Canh tra học đường, từ quán đều lấy can năm và can ngày làm chủ. Địa chỉ trong Tứ trụ gặp tức là có. Học đường, từ quán nạp âm ngũ hành cũng giống với ngũ hành can ngày, can năm.

Người có học đường quý nhân ví dụ như người được học cao, nên gọi là văn tinh, tức chỉ về những việc công danh, học nghiệp. Phàm người có sao này nhập mệnh chủ về thứ bậc thi đỗ hoặc tiền đồ học nghiệp.

Người có từ quán quý nhân là làm ở hàn lâm quán (ví dụ ngày nay là làm ở Bộ Giáo dục). Là những người học vấn tinh thông, văn chương giỏi. Những người học cao gọi là học đường chính vị, ví dụ người mệnh kim thấy tân tị, vì kim trường sinh ở tị, nạp âm lại thuộc kim. Người được đi làm quan gọi là từ quán chính vị, ví dụ mệnh kim gặp nhâm thân, nhâm lâm quan ở thân, nhâm thân nạp âm lại thuộc mệnh kim. Những cái khác cách hiểu tương tự như thế.

Học đường, từ quán chủ về tú khí phát sinh, thông minh khéo léo, văn chương nổi tiếng, cuộc đời giàu sang. Nên được sinh vượng không nên bị khắc, hại, xung, phá. Nếu có thiên ất quý nhân hoặc cát tinh phù trợ thì tốt, nếu không thì tài năng khó thi thố, ý chí bị bó buộc.

X. BÀN VỀ ĐỨC, TÚ QUÝ NHÂN ,

Sinh tháng dần, ngọ, tuất thì bính, định là đức quý nhân còn mậu quý là tú quý nhân.

Sinh tháng thân, tí, thìn thì nhâm, quý, mậu, kỉ là đức quý nhân, còn bính, tân, giáp, kỉ là tú quý nhân.

Sinh tháng tị dậu sứu thì canh tân là đức, còn ất canh là tú. Sinh tháng tân mão mùi, thì giáp ất là đức, đinh nhầm là tú.

Cách tra đức, tú lấy tháng sinh làm chủ, xem trong thiên can Tứ trụ có không. Ví dụ người sinh tháng dần hoặc ngọ, hoặc tuất, thiên can trong Tứ trụ thấy có mậu, quý là có tú quý nhân, nếu Tứ trụ còn có bính hoặc định là thêm đức quý nhân. Những cái khác cũng tra tương tự.

Có đức quý nhân là tháng đó đức sinh vượng, người có tú quý nhân là hòa hợp với tú khí ngũ hành trong trời đất biến hóa mà thành.

Đức quý nhân là thần giải hung âm dương; tú quý nhân là khí thanh tú của trời đất, là thân vượng bốn mùa. Người trong mệnh có đức, tứ quý nhân và không bị xung, pháp khắc áp thì tính thông minh, ôn hòa trung hậu, nếu gặp học đường quý nhân thì có tài, quan, cao sang, nếu gặp xung khắc thì bị giảm yếu. Tóm lại, đức, tú cũng là một loại quý nhân, nó có thể biến hung thành cát. Trong mệnh có nó là người thành thật, tinh thần sáng sủa, nghĩa hiệp thanh cao, tài hoa xuất chúng.

XI. BÀN VỀ TRẠCH MÃ

Thân tí thìn mã ở dân, dần ngọ tuất mã ở thân. Tị dậu sứu mã ở hợi, hợi mão mùi mã ở tị.

Cách tra trạch mã lấy chi năm hoặc chi ngày làm chủ, xem trong Tứ trụ gặp địa chỉ nào thì có trạch mã.

Thời xưa trạch trạm là cơ quan truyền văn thư của quan. Trạch mã là công cụ giao thông truyền văn thư của quan, cho nên trạch mã thông thường là chỉ về trạng thái động. Trong mệnh cát thân là mã, lớn thì tin vui ngất trời, nhỏ thì lợi về động. Hung thần là mã, lớn thì tai vạ ngã lên ngã xuống, nhỏ thì chạy ngược chạy xuôi vất vả. Nếu gặp xung thì như bị roi quất, gặp hợp như được nghỉ chân, gặp lưu niên cũng thế. Mã gặp tài của lưu niên đại vận thì phát tài nhanh. "Mã đầu đeo kiếm là uy trấn biên cương" tức nói mã tinh, nhật nguyên lâm ngày nhâm thân hoặc ngày quý dậu thì ra trấn giữ biên cương. Mã tinh ở trụ giờ thì người đó đi kinh doanh, hiếu động mới lợi cho câu danh cầu lợi. Sợ nhất là gặp bình dương đầy máu; gặp thiên lộc, chính lộc, khối canh thì thông minh cao quý; gặp bệnh hại tử tuyệt thì đi giang hồ, bôn ba nơi xa. Quý nhân mà gặp mã tinh thì thăng vượt, người bình thường gặp mã tinh thì long đong.

Trạch mã sinh vượng là người nhanh nhẹn, trí lự, thông biến luôn luôn, bình sinh nhiều danh vọng; gặp tử tuyệt thì có đầu không có đuôi, cuộc đời ít thành công mà phiêu bạt vô định; gặp lộc thì phúc nhiều, gặp sát tương xung, hoặc cô thần, điều khách, tang môn là người xa quê hương để đi theo tăng đạo hoặc buôn bán; gặp lưu niên thì ốm đau, bệnh tật kinh dị, gặp quan phù thì bị việc quan.

Mã là động, là tượng bôn ba. Người Tứ trụ gặp trạch mã là người hiếu động, đi khắp bốn phương như quân nhân, thương nhân hoặc làm ngoại giao thường đi công tác. Mã tinh còn là tiêu chí dự đoán đi nước ngoài. Mã tinh bị hợp chặt thì có cũng như không, mã tinh bị xung mất thì ngày đi nghìn dặm. Nữ giới gặp mã tinh thì tâm bất an, không ở một chỗ, là tượng bất lợi.

XII. BÀN VỀ HOA CÁI

Dân ngo tuất thấy tuất, hợi mão mùi thấy mùi, thân tỉ thìn thấy thìn, tị dậu sứu thấy sứu.

Cách tra sao hoa cái lấy chị năm và chi ngày làm chủ. Phàm trong Tứ trụ thấy là có sao hoà cái.

Sách "Tam mệnh thông hội" nói: "Hoa cái giống như cái lọng quý, trên trời ngôi sao này có hình như cái lọng, thường dùng che chỗ vua ngồi". Trong Tứ trụ có hoa cái phần nhiều chỉ về cô quả, dù có cao sang cũng khó tránh khỏi cô quả. Sách "Mệnh lý tâm luận” nói: "Người trong mệnh có sao hoa cái, thường thông minh chăm học, thanh tĩnh, ít ham muốn, nhưng khó tránh khỏi cô đơn. Nếu hoa cái gặp ấn thụ và lâm vượng tướng thì ở chốn thi cử sẽ đỗ đạt cao; nếu hoa cái gặp tuần không, vọng hoặc bị phá, hại thì khó tránh khỏi con đường tăng tạo đi tu, hoặc cô hoặc quả, nếu không cũng là loại thừa ế, phiêu bạt giang hồ".

loa cái là một ngôi sao phía trên đầu vua, có chức năng hiển uy, nên huyết khí mạnh mẽ, nhưng tính cô độc ít tình không xem ai ra gì, người thân không nương nhờ được, tự mình trôi nổi. Hoa cái còn là sao nghệ thuật. Người có sao đó thông minh hiếu học, giải nghệ thuật, hội họa, âm nhạc, hợp với thần linh, mệnh lý, theo đạo, nên có hiểu biết siêu quần, tài hoa nổi tiếng. Nếu tốt, thuận lợi thì quan cao chức trọng, cao tặng danh đạo, nghệ thuật cao siêu, tiếng khắp bốn phương; xấu thì đi tu, phiêu bạt giang hồ hoặc là người cô quả.

Nếu họ cái gặp tử, tuyệt, tuân không, phá hoặc Tứ trụ tổ hợp không tốt thì tốt nhất là nhờ một hòa thượng hoặc người theo đạo làm thầy, năng lui tới chỗ chùa chiền thì trẻ dễ nuôi, lớn lên ít bệnh tật, nếu không, trước 24 tuổi không tai họa liên miên thì cũng là luôn gặp việc xấu, còn hay bị những bệnh lạ, thậm chí khó qua. Nếu vượt qua tuổi 24, có người suốt đời trắc trở, cô đơn. Nếu trẻ em trong Tứ trụ có sao hoa cái là người bất hiếu với cha mẹ, lười học, hay cãi vã, có đứa bệnh tật liên miên... Sau khi thành tâm sửa chữa có thể sẽ tốt, học giỏi, có tài.

Tôi trong thực tiễn phát hiện thấy có người gặp sao hoa cái lại còn có những biệt tài riêng, nhưng cũng có lúc có biểu hiện khác thường như điên, nếu tướng bệnh điện, chữa lầm thì không khỏi được. Gặp trường hợp như thế nên mời người giúp đỡ.

XIII. BÀN VỀ TƯỚNG TINH

Dần ngọ tuất thấy ngọ, tị dậu sửu thấy dậu, thân tí thìn thấy tí, tân mão mùi thấy mão.

Cách tra tướng tinh, lấy chi năm hoặc chi ngày để tra các chi còn lại, thấy tức là có tướng tinh.

Người có tướng tinh giống như đại tướng giữ kiếm trong quân, nên lấy ngôi trong tam hợp là tướng tinh. Tướng tinh mừng có cát thân phù trợ là tốt, nếu gặp vong thân thì chỉ là quan trường cột của quốc gia. Cho nên nói có cát tinh trợ giúp là sang, có thêm một kho, thuần túy không tạp là xiết tướng nhập tướng. Lời cổ nói: "Tướng tinh văn võ đều thích hợp, đều là lộc trọng quyền cao". Mệnh có tướng tinh, nếu không bị phá hại thì chỉ về đường quan lộ hiển đạt; Tứ trụ phối hợp được tốt thì là người nắm quyền bính. Tướng tinh đóng ở chính quan là tốt, nếu đóng ở thất sát, kình dương thì chủ về quyền sinh sát; nếu đóng ở chính tài thì chủ về nắm quyền tài chính. Nếu làm những nghề khác thì nói chung đều thành công. Tướng tinh là ngôi sao quyền lực, có tài tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, có uy trong quần chúng. Nhưng nếu bị tử tuyệt xung phá thì bất lợi, nếu hợp với hung tinh thì tăng thêm khí thế cho hung tinh. Nếu mệnh kị kiếp tài gặp phải tướng tinh thì điều hại càng tăng gấp bội.

XIV. BÀN VỀ KIM DỰ

Giáp rồng, ất rắn, bính mậu dê, đinh hỉ khỉ, canh chó, tân lợn, nhâm trâu, quý hổ.

Kim dự còn gọi là lộc kim dư, cách tra kim dự phần nhiều lấy can ngày làm chủ, lộc ở trước đó hai ngôi. Ví dụ: giáp lộc ở dần, nếu trong Tứ trụ thấy thìn bức có kim dự.

Cách tra kim dự có sách lấy can ngày làm chủ; có sách lấy can năm, can ngày làm chủ. Cách xác định ngôi, có sách lấy lộc ở trước hai ngôi, có sách lấy mã ở trước hai ngôi. Trong thực tiễn thấy cách tra lấy can ngày và lộc ở trước hai ngôi ứng nghiệm khá chuẩn xác.

Kim dư, kim là quý, dư là xe, nên kim dư có nghĩa là xe chở vàng, là xe mà quân tử, quý nhân đi, ví như quân tử làm quan được lộc phải ngồi xe chở đi.

Kim dư là cát tinh, là xe hoa lệ, là hành vi phú quý, là phương tiện của quan và người giàu đi lại. Người gặp nó thì phúc đặc biệt, chủ về thông minh, phú quý, tính cách uyển chuyển ôn hòa, dáng người thanh thản. Ngày sinh giờ sinh gặp là tốt. Cho nên phàm là người có phúc, nam gặp thì nhiều thê thiếp, anh em hòa thuận, con cháu đông đúc. Nữ gặp thì nhiều phú quý. Nếu cùng gặp kim dự, mã tinh thì không những lên xe xuống ngựa mà càng có người ra vào tấp nập, uy phong lừng lẫy.

XV, BÀN VỀ KIM THẦN

Kim thần là ất sửu, kỉ ti, quý dậu, tức ba nhóm can chi.

Kim thần lấy trụ ngày trụ giờ đều được. Căn cứ thực tiễn, trụ ngày gặp kim thần, trường hợp trong Tứ trụ thiếu hỏa, khi vận nhập vào hỏa thì lập tức giàu sang. Điều đó nói lên trụ ngày gặp kim thần cũng đúng. Do đó, cho dù là trụ ngày hay trụ giờ, chỉ cần lâm kin thần thì đều là được.

Kim không có hóa không thể thành vũ khí, nên kim cần phải có hỏa để luyện, do đó kim gặp hành hóa thì phát. Trong Tứ trụ có hỏa, nhưng không hành hoả thì hỏa cục ban đầu đó không có lực, phải gặp hỏa vận mới phát, cho nên có câu: "Kim thân gặp hỏa, uy trấn biên cương". "Kim thân nhập hỏa, phú quý vang xa".

Kim thấy thủy thì trầm cho nên kim thần gặp thủy là gặp tai vạ. Vận đến kim thủy thì tai họa đến ngay, đi lên phương bắc là xấu, có thể tại nạn rất nặng.

Kim thần gặp tài là tốt, gặp tài vận là phát. Gặp tài vận đã tốt, gặp cả hỏa nữa càng tốt hơn.

Kim thần là quy cách, gặp nó người đó không giàu thì sang, thông minh hiếu học, có tài, nhưng tính gấp, mạnh mẽ, khăng khăng làm một mình. Trong Tứ trụ kim nhiều (hoặc nạp âm kim nhiều) thủy vượng là phá cách, chủ về họa nhiều mà thành công ít, không có tình nghĩa với lục thân, anh em chia lìa, người vất vả khổ sở.

XVI. BÀN VỀ THIÊN Y

Sinh tháng giêng thấy sửu, sinh tháng hai thay dần, sinh tháng ba thấy mùi, sinh tháng tư thấy thìn, sinh tháng năm thấy ti, sinh tháng sáu thấy ngộ, sinh tháng bảy thấy mùi, sinh tháng tám thấy thân, sinh tháng chín thấy dậu, sinh tháng mười thấy tuất, sinh tháng mười một thấy hơi, sinh tháng mười hai thấy tí.

Cách tra thiên y, phàm sinh tháng giêng, địa chỉ trong Tứ trụ thấy sửu là được. Những tháng khác cách tra cũng như thế.

Thiên y, có sách gọi là thiên ất, có sách gọi là bệnh phù. Vì thiên ất có sao thiên tất quý nhân, bệnh phù có hung tinh bệnh phù, cho nên không thể gọi chúng là thiên y được.

Thiên y là thần tinh chủ về bệnh tật. Tứ trụ gặp thiên y, nếu không vượng lại không có cát thân quý nhân phù trợ, thì không bệnh tật luôn cũng là người gầy mòn ốm yếu. Nếu sinh vượng và còn có quý nhân phù trợ thì không những thân thể khỏe mạnh còn rất phù hợp với công việc nghiên cứu y học, y dược, tâm lý học, triết học, làm nghề y. Cho nên sách "Lý thông giám" nói: "Có sao chiếu thiên y là có thể làm lương y".

XVII. BÀN VỀ LỘC THÂN

Giáp lộc ở dần, ất lộc ở mão, bính mậu ở tị, đinh bỉ ở ngọ, canh lộc ở thân, tân lộc ở dậu, nhâm lộc ở hợi, quý lộc ở tí.

Cách tra, lấy can ngày làm chủ, địa chi của Tứ trụ thấy là có. Lộc là tước lộc, nhờ có thế lực mà được hưởng gọi là lộc. Lộc là nguồn dưỡng mệnh. Lộc ở chi năm là tuế lộc, ở chi tháng gọi là kiến lộc, ở chi ngày gọi là chuyên lộc, ở chi giờ gọi là quy lộc. Người thân vượng mà có lộc thì tài nên thấy khắc, lộc gặp thân yếu thì tài kị thấy khắc. Lộc mã từ suy đến tử, kể cả tử tuyệt, nếu không có cát thân hỗ trợ thì nhất định phá tan sự nghiệp tổ tiên. Lộc sợ nhất là nhập không vong hoặc bị xung, nếu lấy nó làm dụng thần, không may nhập không vong hoặc bị xung lại không có cát thân giải cứu thì nhất định đói rách ăn xin, làm thuê, phiêu bạt khắp nơi. Nếu không bị như thế thì cũng không có danh vọng gì, có lộc như không. Lộc phạm xung gọi là phá lộc, như lộc giáp ở dân, gặp thân là phá, khí tan không tụ, quý nhân thì bị đình chức, tước quan, thường dân thì cơm áo không đủ. Lộc gặp xung hoặc địa chi của tháng kiến lộc là nghèo đến mức không được hưởng nhà của cha mẹ để lại, hoặc rời bỏ quê hương, đi mưu sinh nơi khác. Lộc nhiều thân vượng không nên gặp bình dương (kiếp tài), nếu không sẽ khắc vợ (chồng), khắc cha. Lộc còn là ngang hòa, nếu gặp đất quan vượng là tốt, nhật nguyên yếu mà có thân lộc giúp đỡ lại gặp ấn sinh cát tinh trợ giúp thì sẽ thành sự nghiệp, là người có phúc.

Sự cát, hung, nên và không nên có thân lộc như sau:

Giáp-lộc ở dân, gặp bính dần là lộc phúc tinh, gặp mậu dần là lộc phục mã, cả hai đều tốt cả. Gặp canh dần gọi là lộc phá, nửa tốt * Ra xấu; gặp nhấm dần là chính lộc, có kèm với tuần không, vong thì có nhiều khả năng đi theo đạo. Gặp giáp dần gọi là lộc trường sinh, đại cát.

Ất lộc ở mão, gặp mão gọi là lộc hỉ thần vượng, chỉ về cát; gặp định mão là cắt ngang đường, chủ về hung. Gặp kỉ mão là lộc tiến thần, gặp tân mão là lộc phá hay còn gọi là lộc giao, tức nửa tốt nửa xấu. Gặp quý mão có kèm theo thiên ất là lộc chết, tuy sang nhưng nghèo suốt đời.

Bính lộc ở tị, gặp kỉ tị là lộc kho trời, chủ về cát. Gặp tân tị là đứt đường, coi như bị tuần không, vong. Gặp quý tị là lộc phục quý thần, nửa tốt nữa xấu. Gặp ất tị là lộc mã, gặp định tị là lộc khố, đều tốt.

Đinh lộc ở ngọ, gặp canh ngọ là đứt đường giống như không vong, xấu. Gặp nhâm ngọ là lộc đức hợp, gặp giáp ngọ là lộc tiến thân, đều tốt. Gặp bính ngọ là mừng gặp lộc thân, gặp bình dương thì nửa tốt nửa xấu. Gặp mậu ngọ là gặp bình dương, phần nhiều xấu.

Mậu lộc ở tị, gặp kỉ tị là lộc kho trời, tốt. Gặp tân tị là đứt đường, tuần không, vong. Gặp quý tị là lộc quý thần, hóa hợp với mật quý là được chức quan quan trọng; gặp ất tị, trạch mã là lộc đồng hương, gặp định tị vượng là lộc kho, đều tốt.

Kỉ lộc ở ngọ, gặp canh ngọ là đứt đường, tuần không, vong, gặp nhâm ngọ là lộc tử quý, đều xấu. Gặp giáp ngọ là lộc hợp tiến thần, là tượng hiển đạt. Gặp bính ngọ là mừng gặp được lộc thân. Gặp mậu ngọ là lộc phục thần kình dương, xấu.

Canh lộc ở thân, gặp nhân thân là lộc đại bại, gặp giáp thân là lộc đứt đường, tuần không, vong, đều xấu. Gặp bính thân là lộc đại bại. Gặp mậu thân là lộc phúc mã, trì trệ; nếu gặp phúc tinh quý nhân thi tốt. Gặp canh thân là lộ, trường sinh, đại cát.

Tân lộc ở dậu, gặp quý dậu là lộc phục thân, xấu. Gặp Ất dậu là lộc bị phá, phần nhiều thất bại. Gặp đinh dậu là lộc quý thân nhưng tuần không vong, nên chủ về những việc gian dâm, nếu gặp được hỉ thần thì tốt. Gặp kỉ dậu là lộc tiến thân, gặp tân dậu là chính lộc, đều tốt. Nhâm lộc ở hơi, gặp ất hợi là lộc thiên đức, gặp đinh hợi là lộc hợp quý thần, gặp kỉ hơi là lộc vượng, gặp tân hợi là lộc cùng với mã, đều là tốt cả. Gặp quý hợi là lộc đại bại, chủ về đói khó suốt đời.

Quý lộc ở tí, gặp giáp tí là lộc tiến thần, chủ về đăng khoa tiến đạt. Gặp bính tí là lộc bình dương, nếu có cả thần tinh quý nhân thì có quyền. Gặp mậu tí là lệ• kình dương phục nấp, hợp với lộc quý là chỉ tốt một nửa. Gặp canh tí ấn lộc là cát. Gặp nhâm tí là chính lộc bình dương, xấu.

XVIII. BÀN VỀ CỦNG LỘC

Củng lộc có năm ngày, năm giờ. Giờ quý sửu ngày quý hợi, giờ quý hợi ngày quý sửu, là lộc củng tí.

Giờ định mùi ngày định tị, giờ kỉ tị ngày kỉ mùi, là lộc củng ngọ.

Giờ mậu ngọ ngày mậu thìn là lộc củng ti. Sách "Tam mệnh thông hội" viết: "Củng lộc đòi hỏi ngày giờ phải cùng can, như thế quý lộc và nguyệt lệnh mới thông khí với nhau. Vận gặp thân vượng là quý lộc ở vượng địa mới tốt, nếu gặp ấn thụ thương quan thực thần tài vận thì đại cát. Không nên bị hình, xung, phá, hại, bình dương, thất sát làm tổn thương ngày giờ, khiến cho củng lọc không giữ được khí quý. Kị nhất là xuất khỏi tuần không vong tức được điền đây. Củng lộc ví như cái cốc, rỗng thì có thể chứa vật, đây rồi thì không chứa được gì nữa, vô dụng. Cho nên chỉ nên là củng rỗng. Rỗng thì có thể đựng; phá thì vô dụng, nên sợ nhất là không vong, tuế vận". Củng lộc là cùng quý, điền đầy thì xấu. Gặp nó thì có ích nhưng cách bàn luận khác nhau. Sách "Cổ thi" nói "Ngày giờ cả hai cùng lộc là trung đình, là có hương vàng hôm ngọc; mệnh cao quý như quan tử đòi hỏi phải gặp nguyệt lệnh nữa, nguyệt lệnh vô thần thì cũng lộc đó rất kì diệu. Củng lộc sợ nhất là gặp điền đầy (xuất không), cũng sợ gặp trong chi tháng có thương quan, hình dương đến phá hoại. Nếu không gặp những cái đó thì củng lộc chắc chắn là tốt". Người mà củng lộc, củng quý thuần tuý là bậc vương hầu. Người mà eủng lộc bị điên đây thì không có danh lợi gì. Người có củng lộc mà không gặp tài, ấn là không bị làm tổn hại, kị nhất là gặp quan sát, đặc biệt là gặp tuần không, vong. Giáp góc. Giáp gặp mão sửu, ất gặp dần thìn, bính mậu gặp thìn ngọ, đinh hỉ gặp tị mùi, canh gặp mùi dậu; tận gặp thân tuất, nhâm gặp tuất tí, quý gặp hợi sửu đều gọi là giáp góc. Giáp lộc là có cát thần phù trợ, chủ về giàu thọ quan quý. Cho nên nói: "Giáp lộc là giáp quý, được kính trọng". Cách góc. Tức là giữa ngày và giờ bất kì có một địa chỉ bị trống. Củng lộc cũng tương tự như thế, nhưng cách góc không tốt bằng củng lộc. Cách góc chủ về việc cốt nhục chia lìa nhau.

XIX. BÀN VỀ THIỆN XÁ

Xuân mậu dần, hạ giáp ngọ, thu mậu thân , đông giáp tí

Cách tra thiên xá trong sách "Uyên hải tử bình” là lấy bất cứ ngôi nào trong Tứ trụ cũng được. Ngày nay trong "Mệnh lý tham nguyên” và sách: "Thần sát thám nguyên" đều lấy trụ ngày làm chính, vì như thế càng hợp lý. Sinh các tháng dần, mão, thìn lấy ngày mậu dần; sinh các tháng tị ngọ mùi lấy ngày giáp ngọ; sinh các tháng thân dậu tuất lấy ngày mậu thân; sinh các tháng hơi tí sứu lấy ngày giáp tí. ?

Thiên xá là ngôi sao gặp hung hóa cát, sao giải tai họa. Trong mệnh gặp nó là có cứu. Đặc biệt đối với người có tội là có dịp may được hoàng để đại xá, cho nên là sao tốt.