Chương 8 tổng kết

Chương 8 PHƯƠNG PHÁP LẤY CUNG

Trong cách lấy cung, xưa có lấy cung mệnh, cung thai nguyên, tử tức, biến pháp, thông pháp và tiểu hạn. Nhưng trong ứng dụng thực tế giá trị không lớn, nên nói chung có thể coi là những phương pháp truyền thống để giữ lại mà thôi. Trong sách "Tam mệnh thông hội” chỉ bàn về cách lấy hai cung là cung mệnh và thai nguyên.

Tôi rút từ trong thực tiễn nêu ra: hai cung mệnh và thai nguyên trong khi dự đoán nhất thiết phải có. Như sao mã chủ về động, có Tứ trụ không có sao mã, nhưng khi địa chi của cung mệnh tưogn xung với một chi nào đó của Tứ trụ thì cung mệnh bị xung, trong cuộc đời phải đi nhiều. Có người trong Tứ trụ không có quý nhân nhưng địa chỉ của thai nguyên gặp quý nhân thì không những bổ sung được những chỗ còn thiếu trong Tứ trụ mà thai nguyên gặp quý nhân tất sẽ có âm phúc. Tóm lại cung mệnh, cung thai nguyên không những có vai trò quan trọng của mình mà còn có thể bổ sung cho Tứ trụ.

I. LẤY THAI NGUYÊN

Thai là chỉ tháng bắt đầu mang thai. Cách lấy như sau: lấy thiên can của tháng liền sau tháng sinh (cũng là tháng thứ hai) phối với chi của tháng thứ ba sau tháng sinh, đó là thai nguyên. Ví dụ sinh tháng canh tí năm 1991, sau canh là tân, địa chi của tháng thứ ba là tháng 2 – 1992 là mão nên thai nguyên là tân mão.

Người xưa lấy thai nguyên làm mâm rễ của Tứ trụ, nếu tháng thai không bị phạm hoặc được gặp đất vượng tướng lộc mã thì phúc tốt lại nhiều. Nếu ngày giờ gặp ngôi tốt, nhưng thai nguyên bị phạm thì tốt cũng như không.

Thai nguyên sinh cho mệnh là tốt, khắc mệnh thì không lợi. Ví dụ sinh tháng canh tí năm tân mùi được thai nguyên là tân mão, Tân mão là nạp mộc, tàn mùi nạp âm thổ mộc khắc thổ thì không có lợi cho mình. Nếu sinh tháng dàn năm binh tế, thai nguyên là tân tị, Bính tí là mệnh thuỷ, tin tị là kim, kinh sinh thuỷ lợi cho mệnh. Nếu người ta muốn sinh được tốt thì đây chính là một trong những phương pháp ưu sinh.

Thai nguyên thấy quỳ (nhàm) tức là được ân phúc. Thai nguyên bị hình, xung khắc, hại là cuộc đời gian khổ. Nên sách có nói: "Trong thai nguyên có lọc là sinh vào nhà giàu sang, còn nếu gặp tuần không, vong là rơi vào nhà đói khổ". Can chi của thai nguyên và can chi nạp âm của giờ sinh tương sinh lẫn nhau là chủ về sống lâu, nếu hai cái hình khắc nhau là đoản thọ. Thai nguyên gặp đế vương tật sẽ thọ lâu.

II. PHƯƠNG PHÁP LẤY CUNG MỆNH

Cung mệnh có thể nói là sự thu nhỏ của mệnh. Phương pháp là lấy tỉ làm tháng giêng, hợi tháng hai, tuất tháng ba đếm ngược đến sứu là tháng 12. Sau đó cho giờ sinh rơi vào chi của tháng sinh đếm thuận đến mão, mão là cung mệnh. Thiên can của cung mệnh theo phương pháp lấy tháng theo thiên can của năm sinh để xác định thiên can của cung mệnh.

Ví dụ: sinh giờ mùi, ngày 21 tháng 11 năm 1991. theo hình vẽ bàn tay lấy tí là tháng giêng đếm ngược đến tháng 11 là dân, sau đó chỗ ngồi dần tính là giờ mùi, trên mạo là giờ thân thuận đếm đến tuất là mão, lại theo cách lấy tháng cho năm bính tân, thiên can của tuất là mậu, nên mậu tuất là cung mệnh.

Ý nghĩa của cung mệnh rất nhiều người bàn đến. Xưa có nói: "Thần không có miếu thì không có chỗ về, người không có nhà như không có chỗ bám víu. Không có cung mệnh là không có chủ". Điều đó nói lên vai trò của cung mệnh trong Tứ trụ đối với vận mệnh của con người có một ảnh hưởng nhất định. Cho nên khi dự đoán phải xem quan hệ hình, xung, khắc, hại của cung mệnh với Tứ trụ ra sao.

Cung mệnh nên sinh vượng, không nên suy bại, nên tương sinh tương hợp với năm mệnh, không nên hình, xung, khắc, hại lẫn nhau. Tương sinh tương hợp thì tốt, hình xung khắc hại thì xấu. Nó là hỉ thần, dụng thân thì tốt, là kị thân thì xấu. Người mà trong thân sát có cát thân thì tốt, có hung sát là xấu.

Ngoài kết hợp với Tứ trụ ra, cung mệnh còn có các xu hướng sau: Cung tí: Sao thiên quý, chỉ khí khác thường, giàu có thanh bạch.

Cung Sủu: Sao thiên ách, trước khó khăn, sau tốt, vất vả xa quê, tốt về sau.

Cung dần: Sao thiện quyền, thông minh sắc sảo, trung niên có quyền bính.

Cung mão: Sao thiên xích, khảng khái hào phóng, khi có quyền nên khiêm tốn là hơn.

Cung thìn: Sao thiên như, việc nhiều chồng chất, cơ mưu tháo vát.

Cung tị: Sao thiên văn, văn chương phát đạt, nữ gặp chồng tốt.

Cung ngọ: Sao thiên phúc, vinh hoa, mệnh tốt.

Cung mùi: Sao thiên trạch, cuộc đời vất vả, xa quê mới an nghiệp.

Cung thân: Sao thiện cô, không nên kết hôn sớm, nữ thì cản tr chồng.

Cung Dậu: Sao thiên bí, tính tình cương trực, có lúc thị phi.

Cung tuất: Sao thiên ất, tâm tính ôn hoà, nghệ thuật nổi tiếng.

Cung hợi : Sao thiên thọ, hiền lành, sáng suốt, kìm nén mình, hay giúp người.

III. LẤY SỐ TUỔI

Trong dự đoán ta thường gặp trường hợp, đặc biệt là với người già tuổi cao, họ không nhớ rõ sinh năm nào mà chỉ nhớ năm con gì, hoặc thậm chí cũng không nhớ năm con gì nữa. nên không thể nào sắp xếp Tứ trụ được. Do đó ta phải tính ra năm sinh cho họ.

1- Có người nói họ thuộc tuổi hổ, năm nay hơn 50 tuổi, nhưng không biết năm nào và bao nhiêu tuổi. Cách tính là: năm 1991 lưu niên là tân mùi. Trên bàn tay lấy mùi là 1 tuổi, cứ đếm nhưng cứ đến dậu là 11 tuổi, hợi là 21 tuổi, sửu là 31 tuổi, mão là 41 tuổi, tị là 51. Vì người đó tuổi hổ lại trên 50 nên lấy đến 51 tuổi. Sau đó đếm ngược thìn là 52, mão 53, dần 54, nên là năm mậu dần là năm 1938. Năm 1991 tính đúng là 54 tuổi.

2- Nếu có người lưu niên năm tân mùi hỏi, năm nay ông ta 77 tuổi không biết sinh năm nào, thuộc con gì, hoặc nói sinh năm 1915, không biết thuộc con gì. Vậy cách tính như sau:

Bắt đầu từ lưu niên năm mùi tính từ 1 tuổi, nhảy cách theo chiều thuận đến dậu là 11 tuổi, hợi 21, sửu 31, mão 41, tị 51, mùi 61, dậu 71. Sau đó đếm ngược lên thân là 72, mùi 73, ngọ 74, tỷ 75, thìn 76, mão 77, nên người đó thuộc tuổi con thỏ năm 1915.