chương 6 tổng kết

Chương 6 ỨNG DỤNG CAN, CHI

Thiên can là trời, là động, là cái sinh ra lục thân. Địa chi là đất, là tĩnh, là cái tàng ẩn trong người. Sắp xếp Tứ trụ, lấy vận trình, dự đoán cát hung không thể không biết điều đó.

I. SỰ THÔNG BIẾN CỦA THIÊN CAN

Trong âm dương ngũ hành sinh khắc đều có cái sinh ra tôi và cái tôi sinh ra, cái khắc tôi và cái tôi khắc. Ngũ hành trong lục thân chủ như sau:

- Sinh ra tôi là chính ấn, thiên ấn (chính ấn là mẹ đẻ, thiên ấn là mę kế).

- Tôi sinh ra là thương quan, thực thần (con cháu).

- Cái khắc tôi là chính quan, thiên quan Công chủ, cấp trên...).

- Cái tôi khắc là chính tài, thiên tài (vợ, vợ lẽ).

- Ngang vai, kiếp tài là anh em, chị em. Đó là lấy mười can mà nói.

Lục thân do thiên can biểu thị và quan hệ sinh khắc của chúng đều lấy can ngày làm chủ. Can ngày sẽ phát sinh tác dụng với lục thân tàng ẩn trong thiên can và địa chỉ khác của Tứ trụ, từ đó mà phát sinh quan hệ sinh khắc. Nếu can dương gặp can âm, can âm gặp can dương là chính, còn can dương gặp can dương, can âm gặp can âm là thiên. Cái giống với ngũ hành của can ngày là ngang nhau, kiếp tài, bại tài. Kiếp tài, bại tài là chính, ngang nhau là thiên tài.

Giáp là dương Lộc, ất là âm mộc. Giáp gặp giáp đều là dương mộc, ất gặp ất đều là âm mộc, vừa đồng thanh tương ứng, lại có thể đồng khí tương cầu, là người thân của tôi nên là ngang vai, là bại tài, kiếp tài.

image

Giáp gặp ất, ất gặp giáp tuy đều là mộc nhưng có khác nhau âm dương, tuy có thể đồng thanh tương ứng, nhưng không thể đồng khí tượng cầu, không thân không sợ nên giáp gặp ất là bại tài ất gặp giáp là kiếp tài.

Giáp mộc sinh bình hoa, là dương sinh dương, ất mộc sinh định hoả là âm sinh âm nên là thực thần. Giáp mộc sinh đinh hoả, ất mộc sinh bính hoả là dương sinh âm, âm sinh dương nên là thương quan.

Giáp mộc khắc mậu thổ, ất mộc khắc kỉ thổ là dương khắc dương, âm khắc âm nên là thiên tài. Giáp mộc khắc kỉ thổ, ất mộc khắc mậu thổ là dương khắc âm, âm khắc dương, có nghĩa âm dương tương hợp nên là chính tài.

Giáp mộc gặp canh kim, ất mộc gặp tân kim là dương khắc dương, âm khắc âm nên là thiên quan, thất sát. Giáp mộc gặp tân kim, ất mộc gặp canh kim là âm khắc dương, dương khắc âm nên là chính quan.

Giáp mộc gặp nhâm thuỷ, ất mộc gặp quý thuỷ là dương sinh dương âm sinh âm nên là thiên ấn. Giáp mộc gặp quý thuỷ, ất mộc gặp nhâm thuỷ là âm sinh dương, dương sinh âm nên là chính ấn. Những cái khác cũng suy ra như thế. Trong thập can, thiên tài là cha, thiên ấn là kiêu. Thiên tài là quan tinh của ân, là chồng của mẹ, nên cha là thiên tài. Người trong Tứ trụ có thục thần thì thiên ấn là kiểu thần, người không có thực thần thì lấy kiêu thần làm thiên ấn. Kiêu thân là hung thân, có cả tiêu thần và thực thân thì không lợi.

II. TÀNG ĐỘN CỦA MƯỜI HAI CHI

Trong Bát quái sáu hào có thuyết tam tài là: Trời, đất, người và âm dương. Thiên can, địa chỉ trong Tứ trụ cũng thế. Thiên can là dương là trời, địa chỉ là âm là đất, người ở giữa đất và trời, do đó can mà địa chỉ tàng chứa là người. Cho nên thiên can là thiên nguyên, địa chi là địa nguyên, can ở trong chi là nhân nguyên. Quan hệ giữa ba cái đó trong Tứ trụ vừa tương sinh vừa tương khắc, vừa trợ giúp nhau vừa khống chế nhau. Mỗi cái chỉ một việc, phát huy hết tác dụng của mình (xem phần nhập môn).

Những thiên can mà địa chi tàng chứa là căn cứ theo trường sinh, lâm quan, mộ kho của ngũ hành thiên can để xác định.

Tí, ngọ, mão, dậu là bốn quan. Tí là lâm quan của quý thuỷ, nên quý được tàng chứa trong tí.

Mão là lâm quan của ất mộc, nên ất mộc tàng chứa trong mão.

Ngọ là lâm quan của đinh, kỉ nên định kỉ tàng chứa trong ngọ.

Dậu là lâm quan của kim nên tên tàng chứa trong dầu.

Thìn, tuất, sửu, mùi là bốn mộ kho, lại là đất quan đái. Thìn là quan đái của ất mộc, mậu thổ; là mộc địa của thuỷ; nên ất mộc mậu thổ, quý thuỷ tàng chứa trong thìn.

Tuất là quan đới của tân kim; là mộ địa của định hoả và mậu thổ; nên tận kim, định hoả, mậu thổ tàng chứa trong tuất.

Sửu là quan đới của quý, là mộ địa của tân kim và kỉ thổ, nên quý thuỷ, tân kim, kỉ thổ tàng chứa trong sửu.

Mùi là quan đới của đinh, kỉ, là mộ địa của mộc nên định hoả, kỉ thổ, ất mộc tàng chứa trong mùi.

- Dần, thân, tị, hợi là đất trường sinh, lâm quan, đất bệnh. Dân là trường sinh của bính, mậu, lâm quan của giáp mộc; nên bính hoả, mậu thổ, giáp mộc tàng chứa trong dân. - Thân là đất trường sinh của nhâm, lâm quan của canh; đất bệnh của mậu; nên nhâm thuỷ, canh kim, mậu thổ tàng chứa trong thân.

- Tị là trường sinh của canh, là lâm quan của bính mậu, nên canh kim, bính hoả, mậu thổ tàng chứa trong tị.

- Hợi là trường sinh của giáp, là lập quan của nhâm, nên giáp mộc và nhâm thuỷ tàng chứa trong hợi.

Để tiện cho mọi người nắm vững, dưới đây nêu một ví dụ ứng dụng thiên can địa chỉ và những thiên can được địa chỉ tàng chứa sắp xếp trong Tứ trụ như sau (trong sách này tháng, ngày, giờ đều dùng theo âm lịch).

image