Chương 5 Tổng kết

Chương 5 BẢNG SÁU MƯƠI GIÁP TÍ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁC

I. BẢNG NAP ÂM SÁU MƯƠI GIÁP TÍ

Bảng sáu mươi giáp tí được dùng rất rộng rãi, sự sắp xếp thiên can địa chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh là tra trong bảng này. Trong bảng chia ngũ hành: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ, tức là lấy năm sinh trong sáu mươi năm để phân loại mệnh theo kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ. Trong bảng hai năm là một hành, là một mệnh. Người sinh năm kim là mệnh kim, sinh năm hoả là mệnh hoả. Ví dụ năm 1924 với năm 1984, năm 1925 với năm 1985 là năm ất sửu đều là mệnh Hải trung kim (kim đáy biển), gọi tắt là người mệnh kim. Các mệnh khác cách gọi cũng thế.

hạp âm Trong bảng sáu mươi giáp tí, căn cứ theo nguyên tắc gì để ngũ hành? Người xưa tuy có bàn đến nhưng không có căn cứ rõ ràng và cũng chưa bàn được minh bạch, do đó vẫn là huyền bí khó hiểu. Bảng 60 giáp tí biến hóa vô cùng, cho đến nay đối với giới học thuật của Trung Quốc, đó vẫn còn là một bí ẩn.

Bảng 60 Giáp tí phân chia mệnh của người ta thành 5 loại: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ. Năm loại mệnh này tồn tại và phát sinh theo quan hệ tương sinh, tương khắc giữa các ngũ hành. Đặc biệt đối với tương khắc, ta phải phân tích cụ thể để làm rõ tính tương khắc của nó. Như hoả khắc kim nhưng "Hải trung kim" là kim ở đáy biển, "Sa trung kim" là kim trong cát nên hoà không dễ khắc được kim. Lại có kim không những không sợ hoả khắc mà còn mừng có hoả như "Kiếm phong kim" mừng có hoả luyện, vì chỉ có hoả luyện nó mới trở thành sắc bén. "Bạch lạp kim" là kim trên ngọn nến rất dễ bị hoả khắc. "Hải trung kim", "Sa trung kim" tuy khó bị hoả khắc, nhưng nó lại sợ lửa của sét, vì lửa của sét có thể đánh tận đáy biển, đánh rất sâu vào đất.

Kim có thể khắc mộc, nhưng mộc ở trong cột trụ lại mừng có kim để làm lõi cho thêm cứng. Suy kim không thể khắc vượng mộc. Nếu mộc yếu gặp vượng kim thì bất lợi. Nói chung một rừng xanh, mộc bình địa không dễ gì bị kim khác. Nhưng mộc rất sợ "Kiếm phong kim" vì kiếm phong kim là kim đã thành vũ khí.

Mộc có thể khắc thổ, nhưng trong Tứ trụ thể nhiều, thổ vượng mừng có mộc lỏng lẻo, nếu không thì không nuôi được mùa màng. Mộc suy thổ vượng thì mộc không thể khắc thổ. Mộc vượng thổ suy tất nhiên sẽ bị mộc khắc. Nói chung thổ trên tường, thổ ở đầm lớn thì không bị mộc khác. Nhưng thổ dễ bị mộc rừng xanh, mộc bình địa khắc.

Thổ có thể khắc thuỷ, thuỷ nhiều và vượng mừng có thể bao bọc, có thể tưới cho ruộng đồng nuôi sống vạn vật, nhưng thổ suy thì khó khắc thuỷ vượng. Nếu thuỷ suy, thổ vượng sẽ bị thổ khắc.

Thuỷ sợ thổ khắc, nhưng "Thiên hà thuỷ", "Đại hải thuỷ" thì không những không sợ thổ khắc mà thực tế thể không thể khắc nổi vì thiên hà thuỷ ở trên trời, còn thổ ở dưới đất; Đại hải thuỷ thì nước to và dũng mãnh, thổ không khắc nổi nên đành chờ thuỷ tinh rút lui, thổ tinh trực ban mới khắc được.

Thuỷ có thể khắc hoả, hoả nhiều, hoả vượng mừng có thuỷ khống chế, hỏa vượng thuỷ suy thì không sợ thuỷ khắc. Thuỷ vượng hoả suy sẽ bị thủy khắc. Nói chung hoá trên trời, hoả sấm sét không dễ bị thuỷ khắc. Có thể nói hoả sấm sét không những không sợ thuỷ khắc, mà ngược lại khi trời mưa càng to thì hoả sấm sét càng lợi hại, có thể đánh tận xuống đáy biển.

Tương sinh, tương khắc của âm dương ngũ hành đương nhiên có ảnh hưởng rất quyết định, rất to lớn đến cuộc đời con người. Sinh nhiều là tốt, khắc nhiều là bất lợi. Nhưng trong xử lý mối quan hệ giữa người với người, đặc biệt là quan hệ vợ chồng đương nhiên năm mệnh gặp tương sinh là tốt. Nếu hai người gặp năm mệnh tương khắc thì vừa phải xem khắc nhiều hay khắc ít và có thể khắc được không, ngoài ra còn phải tổ hợp sắp xếp Tứ trụ của hai người, tương sinh, tương khắc, tương hợp ra sao? Không thể cứ hễ thấy năm mệnh tương khắc đã cho là xấu, vì như thế là xét chưa toàn diện, chưa sâu.

Ngũ hành mỗi cái chủ một mặt, đặc điểm rất khác nhau. Về mặt tính cách của con người nói chung người mệnh kim thì ăn nói nghĩa khí, trong Tứ trụ kim nhiều, kim vượng thì tính cách cương trực, nhưng dễ bị gãy. Người mệnh hoả là người lễ nghĩa, đối với người khác nhã nhặn lễ độ, gặp việc hay nói lí luận. Nhưng hoả nhiều, hoả vượng thì tính gấp và nóng, dễ làm hỏng việc. Người mệnh thổ là người trọng chữ tín, nói một là một, hai là hai, nói đến đâu làm đến đấy. Nhưng thổ vượng, thổ nhiều thì hay trầm tĩnh, không năng động, do đó hay bị mất thời cơ. Người mệnh mộc hiện từ lương thiện, độ lượng bao dung. Nhưng mộc nhiều, mộc vượng thì tính cách bất khuất, đặc biệt là người mệnh mộc cây tùng, cây dâu thì "Thà chết đứng không chịu sống quỳ". Loại người này thích hợp với binh nghiệp, làm lính trinh sát, hoặc làm nhân viên đặc biệt. Người mệnh thuỷ là người trí tuệ, thông minh, ham học. Nhưng người mệnh thuỷ khúc khuỷu nhiều như nước từ núi Côn Lôn chảy ra biển, trải qua muôn vàn gian khổ. Nếu người thuỷ vượng thì tính tình nóng gắt, hung bạo, dễ gây ra tai hoạ.

Bảng 60 Giáp tý không những là tiêu chí thông tin của cơ thể mà cũng là tiêu chí thông tin hưng suy của muôn vật, muôn việc trong tự nhiên. Đối với một đất nước mà nói cũng thế. Ví dụ có lúc mưa thuận gió hoà, nông nghiệp được mùa, mọi mặt đều tốt. Có lúc không hạn hán thì lụt lội, hoặc bị động đất, đủ các loại thiên tai và sự cố xảy ra liên miên, tạo thành tai hoạ cho con người, làm cho nhân lực, tài lực đất nước chịu tổn thất to lớn. Nguyên nhân tạo nên những cái đó, đặc biệt là thiên tai đều do ngũ hành, âm dương tương sinh, tương khắc mà ra. Để nói rõ vấn đề này xin cử ví dụ năm 1988.

Năm 1988 là năm mộc rừng xanh, năm mệnh của nó là mệnh mộc, can chi mậu thìn của năm đó là thổ, là mộc khắc thổ, như thể gọi là năm mệnh tự hành tương khắc. Cho nên năm 1988 các loại thiên tai rất nhiều.

1. Dịch bệnh gan loại A ở Thượng Hải. Đất Thượng Hải ở phương động (Bát quái ngày xưa lấy Tây An Thiểm Tây làm trung tâm). Phương đông là mộc, năm mệnh lại là mộc. Tháng giêng, tháng hai là mùa mộc vượng, Thượng Hải lại ở bên nước, mộc được nước sinh nên vượng lại càng thêm vượng. Vượng quá là thái quá tất sẽ có hại. Vì mộc là gan nên có dịch bệnh gan.

2. Lụt lội nhiều. Năm 1988 nạn lụt nhiều, chủ yếu là vì mộc khắc thổ, thể bị thương nên không có sức để khắc thuỷ, do đó tạo thành nạn lụt.

3) Lương thực thiếu thốn. Thổ là mẹ nuôi dưỡng vạn vật. Năm 1988 là năm mệnh mộc, là năm tự khắc thổ của thái tuế mậu thìn, do thể bị thương giống như mẹ có bệnh nên không sinh dưỡng được. Lại còn thể bị khắc thương tổn, thuỷ không bị chế ngự, do đó mùa màng không tốt hoặc bị ngập nước nên lương thực thu hoạch sút kém. Năm 1989 là năm mệnh mộc rừng xanh, vẫn là năm mệnh thổ bị khắc bởi can năm. Do đó năm 1989 tình hình vẫn chưa chuyển tốt, tai hoạ so với năm 1988 càng thêm nghiêm trọng. Vận khí của một nước cũng giống một con người, cũng có lúc tốt lúc xấu, cũng có quy luật nhất định, theo thời gian mà nói, những năm 1926, 1927, 1928, 1929; 1936, 1937, 1938, 1939; 1946, 1947, 1948, 1949; 1956, 1957, 1958, 1959; 1966, 1967, 1968, 1969: 1976, 1977, 1978, 1979; 1986, 1987, 1988, 1989, Trung Quốc đều có những việc lớn không tốt. Ví dụ lấy năm 1928 mà nói, ở Thượng Hải xảy ra nạn bắt bớ, giết chóc là tai hoạ do người tạo ra. Năm 1988 bệnh viêm gan A ở Thượng Hải trầm trọng, cũng là nhân dân bị nạn. Tuy tính chất tai hoạ khác nhau, nhưng vẫn là con người bị nạn. Căn cứ theo những điều ghi lại trong "Địa mẫu kinh” thì vận nước tốt hay xấu cũng có một quy luật tuần hoàn, có một số tai hoạ đến lúc sẽ xảy ra trở lại, chẳng qua tính chất, mức độ có thể khác nhau. Cho nên Trung Quốc những năm có số 6, 7, 8, 9 cuối cùng đều là những năm không thuận, đặc biệt là năm gặp số 9 thì động binh đao, có chiến tranh tức là phát sinh sự kiện đổ máu. Năm 1929 bọn quân phiệt cát cứ tàn sát lẫn nhau; năm 1939 cuộc kháng chiến chống Nhật triển khai toàn diện, năm 1949 cuộc nội chiến thứ 3 nóng bỏng, năm 1959 chiến tranh biên giới Trung - Ấn kịch liệt, năm 1969 chiến tranh biên giới Trung - Xô chấn động toàn cầu. Năm 1979 chiến tranh sang biên giới với Việt Nam; năm 1989 cũng là năm không yên lành. Căn cứ tình hình trên, nếu ta đi sâu vào nghiên cứu bảng 60 Giáp tí, đặc biệt là đối với tai hoạ tự nhiên của từng năm thì có thể đưa ra dự báo. Nếu là năm lụt lội thì chuẩn bị đề phòng chống lụt năm hạn thì sửa chữa tốt các đập nước, có dịch bệnh thì phải làm tốt công tác dự phòng, có động đất thì dự báo trước để chuẩn bị... Như thế sẽ giảm được tổn thất nhân, vật, lực rất nhiều. Do đó bảng 60 Giáp tý là tiêu chí thông tin tổng thể đối với vũ trụ.

image

Bảng sáu mươi Giáp tí khi sắp xếp Tứ trụ là không thể thiếu. Sự sắp xếp thiên can, địa chỉ trong ngày tháng năm sinh chính là những tiêu chí thông tin mệnh vận của cả đội, như cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái, sức khoẻ và mệnh vận tốt xấu của mình đều nằm trong đó cả. Nó là căn cứ để đoán đúng mệnh vận tốt xấu hoặc cát hung hoạ phúc của đời mình.

Trong ngày, giờ, tháng, năm sinh của một người đã chứa đựng những thông tin khác nhau đối với cha mẹ, anh chị em, vợ chồng và con cái. Trong sách cổ có hai cách sắp xếp. Cách thứ nhất lấy năm sinh là ông bà tổ tiên, tháng là cha mẹ, ngày là anh em và mình, giờ là con cái. Cách sắp xếp thứ hai thường dùng hơn cả là cách sắp xếp theo sách "Ký môn độn giáp thống tôn đại toàn”. Cách sắp xếp của sách đó như sau: can năm là cha, chi năm là mẹ; can tháng là anh em, chi tháng là chị em; can ngày là mình, chi ngày là vợ (hoặc chồng), can giờ là con trai, chi giờ là con gái. Chúng tôi căn cứ thực tiễn thấy cách sắp xếp sau phù hợp với thực tế hơn.

Ví dụ.

- Sinh năm 1989 - Tháng 3 - Ngày 15 - Giờ Tị

- Kỉ Tị - Mậu Thìn - Canh Tuất - Tân Tị

- Cha mẹ - Anh em , chị em - Mình, vợ - Con trai , con gái

Dùng Tứ trụ để dự đoán thông tin không những độ chính xác cao mà phạm vi đoán khá rộng và cụ thể. Nhưng phương pháp này vô cùng phức tạp và cao xa, ở đây tạm chưa bàn kĩ mà chỉ nói đến phương pháp sắp xếp thiên can, địa chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh chủ yếu là khi dự đoán theo Tứ trụ lấy lệnh tháng, lệnh ngày làm tiêu chuẩn để quyết định sự vượng suy của can chi. Đặc biệt là lệnh tháng năm quyền chủ tể sinh sát, nên lệnh tháng vô cùng quan trọng. Không biết được lệnh tháng thì không có cách gì lường được sự vượng suy của Tứ trụ, tức là không thể quyết đoán sự chính xác của thông tin dự đoán. Ví dụ tháng giêng tháng hai mộc vượng, nhưng khi kim của canh thân hay tân dậu trong Tứ trụ gặp tử địa là không lợi. Mùa thu kim vượng, nhưng mộc của giáp dần, ất mão trong Tứ trụ gặp tử địa thì vẫn là không tốt. Những cái khác như phân "ngũ hành vượng, tướng, hưu, tù" đều đã giải thích.

II. BẢNG SINH, VƯỢNG, TỬ, TUYỆT CỦA MƯỜI HAI THIÊN CAN

Bảng sinh, vượng, tử , tuyệt của mười hai thiên can là lấy thời lệnh của mười hai can vượng cổ suy để giải thích sự vật qua các giai đoạn: sinh trưởng, hưng vượng, y, đến bệnh tật mà chết. Quá trình này là quy luật tất yếu phát triển của vạn vật.

Ứng dụng mười hai thiên can đưa vào dự đoán thông tin của con người đã có lịch sử phát triển hàng nghìn năm. Thực tiễn chứng minh đó là khoa học, vì trong sự sắp xếp mười hai thiên can của năm tháng ngày giờ sinh có thể căn cứ tiêu chí thông tin vượng suy của tiết lệnh mười hai thiên can để thấy được, lường được những tin tức vượng suy của vận mệnh con người và những tin tức vượng suy của mọi sự vật. Về vấn đề này xưa nay chưa hề bị phủ nhận. Nhưng vì khoa học hiện đại còn chưa có cách gì để giải thích được nguyên lý huyền diệu của nó, cho nên có người thường nói liều đó là duy tâm chủ nghĩa.

Trong bảng: "Trường sinh" là chỉ lúc mới ra đời, "Mộc dục" là trẻ em sau khi sinh ra ở giai đoạn tắm rửa; "Quan đới" là trẻ con có thể mặc áo, đội mũ; "Lâm quan" cũng gọi là "Kiến lộc" và "Đế vượng" tức là thân vượng, tức giai đoạn vận khí vượng. Vật đã vượng tất có giai đoạn suy thoái cho nên từ suy đến tuyệt đều là bại địa. "Thai", "Dưỡng", đối với vận mà nói đều gọi là vận bằng phẳng, vì "Thai" là mang thai, "Dưỡng" là nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Các trạng thái nêu ra trong bảng đối với quy luật phát triển, biến hoá của sự vật mà nói, chính là sự vật từ sơ sinh đến lớn lên, cường tráng đến suy bạ rồi tử vong. Sau đó lại lặp đi lặp lại vòng tuần hoàn ấy.

Can trong bảng là lấy can ngày làm chủ, tức là can của ngày sinh. Ví dụ: giáp mộc gặp hợi là thời kỳ sinh, gặp tý là mộc dục, gặp sửu là quan đới..., gặp thìn là suy, gặp tị là bệnh. Tức là nói giáp mộc gặp được năm hơi, hoặc tháng hợi, ngày hợi, giờ hơi đều là gặp sự sinh trưởng. Ngược lại, giáp mộc gặp năm ngọ, hoặc tháng ngọ, ngày ngọ, giờ ngọ thì đều là gặp tử địa. Gặp tử địa không nhất định là chết. Tử địa phần nhiều chủ về vận khí không thuận hoặc có tai hoạ. Cho nên người sinh giáp mộc, nếu năm, tháng, ngày, giờ đều gặp ngọ, hoặc người đó không biết tổ hợp sắp xếp Tứ trụ của mình thì nên cẩn thận đề phòng mọi mặt, nếu không nhất định sẽ bị tổn thất. Các trường hợp khác cũng hiểu tượng tự như thế.

image

Trong bảng, từ sinh đến vượng là có lợi, từ suy đến tuyệt là không lợi. Thai, dưỡng là chỉ chung chung. Các địa chỉ trong bảng là dùng để đoán thời gian ứng nghiệm cát, hung, tức để biết thời điểm và phương vị xảy ra sự việc. Ví dụ giáp đế vượng ở mão. Mão ở đây là năm, hoặc tháng, ngày, giờ mão. Phương vị là phương đồng so với nơi sinh ra mình. Gặp mộc mộ ở mùi. Mộ là nhập mộ, đương nhiên không tốt. Mùi là năm, tháng, ngày, giờ mùi, phương tây nam. Cho nên là việc có lợi thì nên làm vào thời gian và phương có lợi. Việc không lợi thì không nên làm vào thời gian hoặc ở phương bất lợi, như thế có thể tránh được tại nạn bất ngờ. Vì vậy bảng trên là tiêu chí về thông tin và thời gian để hướng về cái tốt, tránh xa cái xấu. Cách tra bảng như sau: dân mộc căn cứ theo giáp mộc; mão mộc theo ất mộc; thìn tuất theo mẫu thổ, sửu mùi theo kỷ thổ; tị hoả theo đinh hoả; ngọ hoả theo bính hoả, thân kim theo canh kim; dậu kim theo tân kim; tí thủy theo nhâm thủy; hợi thủy theo quý thủy.

III. MƯỜI HAI TIẾT LỆNH

Tháng giêng lập xuân, tháng hai kinh trập, tháng ba thanh minh, tháng tư lập hạ, tháng năm mang chủng, tháng sáu tiểu thư, tháng bảy lập thu, tháng 8 bạch lộ, tháng 9 hàn lộ, tháng 10 lập đông, tháng 11 đại tuyết, tháng 12 tiểu hàn.

Mười hai tiết lệnh cũng gọi là lệnh của 12 tháng. Lệnh tháng năm quyền sinh sát của một tháng, là cương lĩnh của vạn vật. Lệnh tháng không những là ranh giới phân chia một năm, một tháng mà cũng là tiêu chuẩn vượng, suy của can chi trong Tứ trụ. Cho nên lệnh tháng vô cùng quan trọng trong việc dự đoán thông tin của con người.

1. Cách sắp xếp Tứ trụ trước và sau lập xuân của năm

1. Ví dụ cách sắp xếp Tứ trụ trước lập xuân Năm 1987, tháng 12, ngày 17, giả thiết 3 giờ 30 ngày đó là lập xuân, đối với người sinh giờ dân, tính như sau:

Năm đinh mão, tháng quý sửu, ngày kỷ sửu, giờ bính dần (đây là cách sắp xếp Tứ trụ của người sinh trước 3h30). Nếu sinh sau 3h30 ngày 17 tháng 12 năm 1987, tức sinh sau giờ lập xuân thì sắp xếp là: Sinh giờ dần, ngày 17 tháng giêng năm 1988, Tứ trụ là: mậu thìn, giáp dần, kỉ sửu, bính dần.

Vì sinh sau 3h30 tức là sau lập xuân, cho nên tính vào tháng giêng năm 1988, còn thiên can, địa chỉ của ngày và giờ sinh không đổi.

2. Ví dụ cách sắp xếp Tứ trụ sau lập xuân của năm Giả thiết 10h4' ngày mồng 7 tháng giêng là lập xuân năm 1987. Sinh năm 1986, tháng 12, mồng 7, giờ tị. Bính dân, tân hợi, giáp thân, kỷ tị. Đó là người sinh trước lập xuân. Năm 1987, tháng giêng, mồng 7, sau 10h4' Tứ trụ của người sinh sau lập xuân là: Năm đinh mão, nhân dân, giáp thân, kỉ tị.

2. Cách sắp xếp lệnh tháng

Giống như lệnh năm, người sinh trước giao tiết lệnh thì sắp xếp theo can chi của lệnh tháng trước. Người sinh sau giao tiết thì sắp xếp theo can chi của lệnh tháng sau. Tức là người sinh trước giao tiết lệnh thì tính theo tháng trước, người sinh sau giao tiết lệnh thì tính theo lệnh tháng sau. Dưới đây lấy ví dụ trường hợp tháng nhuận. Giả thiết người sinh trước lập thu, tức trước 10h4' ngày 14 tháng 6 nhuận năm 1987, Tứ trụ là: Năm đinh mão, tháng định mùi, ngày kỷ sửu, giờ kỷ tị. Người sinh sau 10h4', ngày 14 tháng 6 nhuận năm 1987, tức là sinh giờ tị, ngày 14 tháng 7 năm 1987, Tứ trụ là: năm đinh mão, tháng mậu thân, ngày kỷ sửu, giờ kỷ tị. Trên đây là nói về cách sắp xếp Tứ trụ của người sinh trước và sau giao tiết lệnh. Ở đây tôi giới thiệu về phương pháp sắp xếp Tứ trụ chuyên dùng để đoán theo Tứ trụ, tức là dùng lệnh tháng để đo lường sự vượng suy của thiên can, địa chỉ trong Tứ trụ, cũng tức là nói sự vượng suy của thiên can địa chỉ trong Tứ trụ là lấy lệnh tháng làm tiêu chuẩn và lấy sinh vượng tử tuyệt làm căn cứ. Bảng nạp âm và 60 giáp tí là kinh nghiệm dự đoán quý báu của nhân dân lao động Trung Quốc, qua thực tiễn lâu đời tổng kết ra. Khi dự đoán theo Tứ trụ, những kinh nghiệm này, nguyên tắc này có ý nghĩa vô cùng to lớn, tuyệt đối không được xem thường.