Chương 4 tổng kết

Chương 4 ĐỊA CHI

Mười hai địa chi là tên gọi của tháng: tí, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi.

Thiên can chủ về trời, chủ về động, lộ ra bên ngoài, động là có hành vị. Địa chi chủ về đất, chủ về tĩnh, tàng ẩn ở phía dưới, nhiều cái tàng ẩn. Thiên can tính chất đơn thuần, còn địa chi tính chất phức tạp. Cát hung của thiên can thì rõ ràng dễ thấy, còn cát hung của địa chi thì tàng ẩn khó thấy, ngay một lúc khó nhìn ra họa phúc. Tuế vận đã đến mà cát hung còn chưa rõ.

Thiên can và địa chi tương phối thì địa chi là gốc của thiên can, thiên can là ngọn của địa chi. Địa chi trục năm là đứng đầu sự chúng sát (tức là sát nhiều), trục tháng là chủ tể quyền sinh sát, thiên can không có đặc quyền đó, cho nên địa chi là mấu chốt quyết định sinh, vượng, tử, tuyệt của thiên can. Do đó tính quan trọng của địa chi lớn hơn thiên can, nặng hơn thiên can, điều đó mọi người cần biết.

I. ÂM DƯƠNG CỦA MƯỜI HAI CHI

1. Mười hai chi và âm dương ngũ hành Tí, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi.

Tí, dần, thìn, ngọ, thân, tuất là dương.

Sửu, mão, tị, mùi, dậu, hợi là âm.

Dần, mão thuộc mộc, dần là dương mộc, mão là âm mộc.

Tị, ngọ thuộc hỏa, ngọ là dương hoả, tị là âm hoả.

Thân, dậu thuộc kim, thân là dương kim, dậu là âm kim.

Tí, hợi thuộc thuỷ, tí là dương thuỷ, hợi là âm thuỷ.

Thìn, tuất, sửu, mùi thuộc thổ. Thìn, tuất là dương thổ; sửu, mùi là âm thổ.

Mùi tuất là đất khô; sửu thìn là đất ướt. Đất khô thì trong đó chứa hỏa, đất ướt thì trong đó có nước.

Dần trực ở mùa xuân, phối với giáp là dương mộc. Mão trực ở trong xuân phối với ất là âm mộc. Cho nên tính chất của mười hai chi xem ở thiên can.

2. Mười hai chi phối với bốn mùa và phương

Dần, mão phương đông, mộc. Tị, ngọ phương nam, hoả. Thân, dậu phương tây, kim; Hợi, tí phương bắc, thuỷ. Thìn, tuất, sửu, mùi là bốn mùa, thổ.

Thiếu dương thấy ở dần, mạnh ở mão, suy ở thìn. Dần, mão, thìn thuộc mộc, mùa xuân, là phương đông.

Thái dương thấy ở tị, mạnh ở ngọ, suy ở mùi. Tị, ngọ, mùi thuộc hoả, mùa hạ, là phương nam.

Thiếu âm thấy ở thân, mạnh ở dậu, suy ở tuất. Thân, dậu, tuất thuộc kim, mùa thu, là phương tây.

Thái âm thấy ở hợi, mạnh ở tý, suy ở sửu. Hợi, tý, sửu thuộc thuỷ, mùa đông, là phương bắc.

Dần, mão, thìn là mùa xuân; tị, ngọ, mùi là mùa hạ.

Thân, dậu, tuất là mùa thu; hợi, tí, sửu là mùa đông. Trong đó, thìn, tuất, sửu, mùi là tháng cuối cùng của mỗi mùa, đều là vì thổ vượng ở bốn mùa nên là thổ của bốn mùa. Về sự phối với bốn mùa và phương vị của nó giống như mười thiên can.

3. Mười hai chi phối với nguyệt kiến

Tháng giêng kiến dần, tháng hai kiến mão, tháng ba kiến thìn, tháng tư kiến tị, tháng năm kiến ngọ, tháng sáu kiến mùi, tháng bảy kiến thân, tháng tám kiến dậu, tháng chín kiến tuất, tháng mười kiến hợi, tháng mười một kiến tí, tháng mười hai kiến sửu.

Tháng giêng kiến dần tức là lấy dần mộc làm lệnh, mà dần mộc làm lệnh tốt phải sau lập xuân mới có quyền sinh sát, gặp tiết kinh trập tức là mão mộc nắm lệnh (những cái khác cũng sắp xếp tương tự). Cho nên tháng giêng, 2 là mộc, tháng 4, 5 là hoả, tháng 7, 8 là kim, tháng 10, 11 là thuỷ, tháng 3, 6, 9, 12 là thổ.

Tháng giêng kiến dần tức tháng giêng là tháng dần. Như thế là vì chuôi của sao Bắc đẩu chỉ ở ngôi dần.

4. Mười hai chi phối với mười hai giờ

image

Giờ tí là giờ canh ba, tức là từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng. Lúc dự đoán nhất định phải phân biệt rõ giờ sinh ở trong khoảng nào. Mười một giờ còn lại cứ thế tính tiếp. Ở đây cần đặc biệt nhấn mạnh ngày xưa phân giờ tý vào trước nửa đêm và sau nửa đêm. Ngày nay chứng tỏ rằng, sự phân chia như thế không hợp lý mà cũng không có tác dụng trong thực tế. Qua rất nhiều người kiểm nghiệm cho rằng từ 11 đến 12 giờ hôm trước hay từ 0 giờ đến 1 giờ hôm sau thì đều lấy ngày sinh vào ngày hôm sau để định can chi của ngày hôm sau. Khi những bạn nước ngoài dự đoán thì cho dù giờ sinh ở nước nào đều phải đổi thành giờ của Bắc kinh mà dự đoán Tứ trụ, nếu không thì không chuẩn. Phàm gặp lệnh của mùa hạ cũng phải đổi thành lệnh không phải của mùa hạ để tính giờ.

5. Mười hai chi phối với các con vật và mười hai số

image

Tí là cực âm, nó tiềm tàng mờ ám nên phối với chuột, chuột tàng dấu vết tích. Ngọ là cực dương, rõ ràng mạnh mẽ nên phối với mã, mã hành động nhanh. Sửu là âm phủ, mà hiền từ nên phối với ngưu, ngưu là nghé đực; mùi là dương, ngửa mặt lên trời mà lễ, phối với dê, dê quỳ bú; dần số ba, dương nên mạnh bạo, phối với hổ, hổ tính bạo; thân là số ba, ám, am thắng thì thông minh giảo hoạt, lấy khỉ phối, khỉ tính thông minh nhanh nhẹn, mão là cửa ngõ của mặt trăng mặt trời, cả hai đều một khiếu, thọ, thông minh, thổ lông dựng đứng thì có thai, cảm mà không giao nhau thì không cảm. Thìn tị là mặt trời mới mọc, biến hóa rồng là thịnh rắn kém hơn, nên rồng rắn phối với thần ti rồng rắn đều là những con vật biến hóa. Tuất hợi âm liễm và bảo thủ, chó là thịnh, lợn kém hơn, nên chú lợn phối với tuất hợi, đều là những con vật trầm tĩnh.

6. Mười hai chi phối với nhân thể

Mười hai chi phối với cơ thể là: Tí là tai; sửu là bụng; dần là tay, mão là ngón tay, thìn là vai, ngực; tị là mặt, yết hầu, răng; ngọ là mắt; mùi là sống lưng; thân là kinh lạc; dậu là tinh huyết; tuất là mệnh môn, bàn chân, đùi; hợi là đầu.

Mười hai chi phối với tạng phủ: dần là mật; mão là gan; tị là tim; ngọ là ruột non; thìn, tuất là dạ dày; sửu, mùi là lá lách; thân là ruột già, dậu là phổi; hợi là thận, tâm bào; tí là bàng quang, tam tiêu.

II. HÓA HỢP CỦA MƯỜI HAI CHI

1. Lục hợp của mười hai chi

Tí hợp với sửu hóa thổ; dần hợp với hợi hóa mộc; mão hợp với tuất hoá hoả; thìn hợp với dậu hóa kim; tị hợp với thân hóa thuỷ; ngọ hợp với mùi, ngọ là thái dương, mùi là thái âm, hợp nhau thành thổ.

Cách vận dụng lục hợp của mười hai chi. Thứ nhất là dùng trong sự sắp xếp thiên can, địa chi của Tứ trụ, tức là năm, tháng, ngày, giờ sinh. Nếu năm, tháng, ngày, giờ sinh, trong địa chi có tí và sửu, tức là có tí hợp với sửu, có hai chi dần và hợi tức là dần hợp với hợi. Những người có sự tương hợp đó là có nghĩa tốt.

Tương hợp lại chia ra trong hợp có khắc và trong hợp có sinh. Người trong hợp có khắc là trước tốt sau xấu, trước nóng sau lạnh, trước hợp sau phân. Có những cặp vợ chồng hoặc quan hệ bạn bè bắt đầu rất tốt, sau đó cãi vã li hôn, quan hệ bạn bè chia rẽ, đó là vì trong Tứ trụ có tiêu chí thông tin trong hợp có khắc. Ví dụ: tí hợp với sửu, mão hợp với tuất, tí hợp với thân. Tí là thuỷ, sửu là thổ, thổ khắc thuỷ, mão là mộc, tuất là thổ, mộc khắc thổ, tị là hoả, thân là kim, hoả khắc kim. Như thế gọi là trong hợp có khắc.

Người trong hợp có sinh thì dù là quan hệ vợ chồng hay quan hệ và bạn với nhau đều ngày càng tốt hơn. Đó là trong Tứ trụ có tiêu chí thông tin trong hợp có bính. Ví dụ: dần hợp với hợi, thìn hợp với dậu, ngọ hợp mùi. Dần là mộc, hợi là thuỷ, thuỷ sinh mộc, thìn là thổ, dậu là kim, thổ sinh kim, ngọ là hoả, mùi là thổ, hoả sinh thổ. Như thể gọi là trong hợp có sinh.

2. Tam hợp cục của mười hai chi cục:

Thân - tí - thìn hợp hóa thuỷ cục.

Hợi - mão - mùi hợp hóa mộc cục.

Dần - ngọ - tuất hợp hoá hoả

Tị - dậu - sửu hợp hóa kim cục.

Tam hợp hóa cục có cát có hung. Người hợp hóa sinh là tốt, người hợp hóa khắc là xấu. Dưới đây xin cử vài ví dụ.

Hóa sinh: Giả thiết sinh năm canh thân, tháng ất dậu, ngày giáp thìn, giờ giáp tí. Trong Tứ trụ kim vượng, mộc ở địa, chi ngày thìn thổ lại khắc tý thủy của giờ, can ngày giáp mộc và ất mộc ở tháng, giáp mộc giờ bị khắc vô sinh là tượng xấu. Nhưng trong Tứ trụ có thân, tí, thìn hợp hóa thủy cục lại được canh kim của năm, dậu kim của tháng sinh thủy, cho nên có thủy sinh mộc là điều tốt, là bị khắc nhưng được cứu. Đó gọi là thân, tí, thìn hợp thành thủy cục hóa sinh.

Hóa học: Giả thiết sinh năm canh thân, tháng mậu tý, ngày bính ngọ, giờ nhâm thìn. Trong Tứ trụ thủy vượng, can ngày bính hỏa ở tử địa lại bị thủy vượng trong Tứ trụ khắc là tượng rất xấu; đã thế trong Tứ trụ lại còn thân, tí, thìn hợp thành thủy cục, tăng thêm khắc can ngày bính hỏa (ngọ cũng như thế). Bính hỏa có khắc vô sinh, bị khắc không có cứ tức là đã xấu lại càng thêm xấu, đó là tam hợp hóa khắc gây ra tình thế xấu.

Tam hợp cục của mười hai chi là sinh, vượng, mộ ba cái hợp thành cục Thủy lớn lên ở thân, vượng ở tí, mộ ở thìn. Cho nên thân, tý, thìn hợp thành thủy cục. Mộc lớn lên ở hợi, vượng ở mão, mộc ở mùi, nên hợi, mão, mùi hợp thành mộc cục. Hỏa lớn lên ở dần, vượng ở ngọ, mộ ở tuất, nên dần, ngọ, tuất hợp thành hỏa cục. Kim lớn lên ở tị, vượng ở dậu, mộ sửu nên tị, dậu, sửu hợp thành kim cục. Sức của tam hợp cục kém hơn tam hội cục. Tam hợp cục của 12 chi chỉ hợp bốn hành, vì sao lại không có thổ cục? Sách "Tam mệnh thông hội” nói: "Ngũ hành không nói đến thổ mà tứ hành đều thành thổ cục. Vạn vật đều tàng ở trong đất". Nếu thìn, tuất, sửu, mùi đều có thì tức là đã có thổ cục.

Trong tam hợp cục phải có đầy đủ ba chữ mới có thể hợp thành cục, thiếu một chữ không được. Đối với những người trong Tứ trụ thiếu một chữ có thể hiểu là bán hợp cục. Bán hợp cục lại chia thành sinh địa, và mộ địa bàn hợp cục. Sinh địa bàn hợp cục là: Hợi mão bán hợp mộc cục; dân, ngọ bán hợp hoả cục, tị, dậu bán hợp kim cục; thân, tí bán hợp thuỷ cục. Sức của sinh địa bàn hợp cục kém hơn tam hợp cục.

Mộ địa bàn hợp cục là: Mão, mùi bán hợp thành mộc cục, ngọ, tuất bán hợp thành hoả cục; dậu, sửu bán hợp thành kim cục; tí thìn bán hợp thành thuỷ cục. Sức của nó kém hơn sinh địa bàn hợp cục.

Phàm những người trong Tứ trụ có tam hợp, lục hợp người đó dáng người, tư thế đẹp, thần khí ổn định, lòng dạ ngay thẳng, thông minh, tháo vát, toàn diện, nhanh chóng. Nếu còn hợp với nhật nguyên thành tương sinh thì gặp việc gì cũng toại nguyện, nhiều tài năng, nói năng vui vẻ, lưu loát, không cãi vã và có quý nhân thân phúc, suốt đời phúc hậu nhưng cũng hay gặp việc xấu.

Người có tam hợp, lục hợp khắc thân thì thường gặp hung lẫn sát, năng động nhiều thì hay tổn thất, nhiều việc xấu dồn dập, có thể xảy tai nạn ghê gớm. Người tam hợp, lục hợp là tử tuyệt thì người đó hay hành động nhưng ít thành công, tinh thần ủ rũ, thô lậu, ít bạn bè, ý chí thấp kém, lòng hẹp hòi, thích tiểu nhân, không ưa quân tử, cả đời thấp hèn. Người tam hợp, lục hợp kiến lộc thì được phúc lộc ngoài ý muốn. Nếu hợp với quý nhân, chính ấn thì gặp được quý nhân nâng đỡ. Hợp với thực thần thì y lộc phong phú, hợp với nguyên thần đại hao thì đó là người vô lễ, nói năng thô tục, thích tiểu nhân, ghét quân tử. Nếu còn thêm cả hàm trì thì chủ về tư thông, gian ác, dâm loạn, tham ô, bất lương. Tam hợp, lục hợp nếu là nam thì dáng người thường thanh tú, nếu là nữ thì đa dâm, nên phụ nữ kiêng tam, lục hợp.

Tam hợp cục hóa tài là tài vượng, hóa quan là quan vượng, hóa ấn là văn thư vượng, hóa sát là sát vang. Tóm lại hóa cát là cát, hóa hung là hung.

3. Tam hội cục của mười hai chi

Dần, mão, thìn tam hội thành phương đông mộc.

Tị, ngọ, mùi tam hội thành phương nam hoả.

Thân, dậu, tuất tam hội thành phương tây kim.

Hợi, tí, sửu tam hội thành phương bắc thuỷ.

Sức của tam hội cục lớn hơn tam hợp cục vì: khí của nó cùng hội tụ về một phương.

III. HÌNH, XUNG, KHẮC, HẠI CỦA MƯỜI HAI CHI

1. Tương xung của mười hai chi

Tí, ngọ tương xung; sửu, mùi tương xung; dần, thân tương xung; mão, dậu tương xung; thìn, tuất tương xung; tị, hợi tương xung.

Tương xung thực chất là đối xung, trên hình Bát quái rất dễ thấy. Mão là mộc ở đông, dậu là kim ở tây, ngọ là hoả ở nam, tý là thuỷ ở bắc, những chi khác cũng thế, đều ở trên những phương đối lập nhau, cho nên gọi là đối xung. Tương xung có nghĩa là tương khắc. Phàm trong Tứ trụ gặp xung là có cát, có hung. Người bị xung mất thần phúc là hung; xung mất thần khắc là cát.

Lục xung là ngũ hành tương xung tương khắc. Ngoài đối xung ra còn có nghĩa trong chi các hành có tàng ẩn sự xung khắc. Tí, ngọ tương xung; quý thuỷ trong tí khắc đinh hoả trong ngọ, kỉ thổ tàng trong ngọ khắc quý thuỷ trong tí. Sửu mùi tương xung là tân kim trong sửu khắc ất mộc trong mùi, kỷ thổ đinh hoả trong mùi khắc quý thuỷ, tân kim trong sửu. Dần, thân tương xung là giáp mộc trong dần khắc mậu thổ trong thân. Canh kim, nhâm thuỷ trong thân khắc giáp mộc, bính hoả trong dần. Mão, dậu tương xung là tân kim trong dậu khắc ất mộc trong mão. Thìn tuất tương xung là quý thuỷ trong thìn, khắc đinh hỏa trong tuất, tân kim trong tuất khắc ất mộc trong thìn. Tị, hợi tương xung là canh kim trong tị khắc giáp mộc trong hợi, nhâm thuỷ trong hợi khắc bính hỏa trong tị.

Trong lục xung, tí ngọ tương xung, tí thuỷ xung khắc ngọ hoả, còn ngọ hoả chỉ có xung không có khắc. Mão dậu tương xung, dậu kim xung khắc mão mộc, còn mão mộc chỉ có xung không có khắc. Dần thân tương xung, thân kim xung khắc dần mộc, còn dần mộc chỉ có xung không có khắc. Tị hợi tương xung là hợi thuỷ xung khắc tị hoả mà tị hoả chỉ có xung không có khắc.

Tương xung trong Tứ trụ có tương xung cạnh nhau và tương xung cách nhau, có xung thuận và xung ngược.

Giá thiết sinh năm bính ngọ, tháng canh tí, ngày đinh mão, giờ kỷ dậu. Trọng Tứ trụ có tí ngọ xung nhau, mão dậu xung nhau đó là tượng không tốt, trừ người rất đặc biệt được đắc thế đắc địa thì mới đại quý. Trong tương xung, người xung cách ngôi thì nạn nhẹ, xung liên nhau nạn nặng hơn. Đó là vì xung liền nhau lực lớn, còn xung cách ngôi lực nhỏ.

2. Tương hại của mười hai chi

Tí mùi tương hại, sửu ngọ tương hại, dần tị tương hại, mão thìn tương hại, thân hợi tương hại, dậu tuất tương hại. Vì sao tí mùi lại tương hại? Vì tí hợp với sửu, mùi đến thì xung tan nên tý mùi tương hại. Sửu hợp với tí, ngọ xung tan nên sửu ngọ tương hại. Dần hợp với hợi, tị đến xung tan nên dần tị tương hại. Mão hợp với tuất, thìn đến xung tan nên mão thìn tương hại. Thìn hợp với dậu, mão đến xung tan, nên thìn mão tương hại. Tị hợp với thân, dần đến xung tan nên tị dần tương hại. Ngọ hợp với mùi, sửu đến xung tan, nên ngọ sửu tương hại. Mùi hợp với ngọ, tí đến xung tan, nên mùi tí tương hại. Thân hợp với tị, hợi đến xung tan, nên thân hợi tương hại. Dậu hợp với thìn, tuất đến xung tan, nên dậu và tuất tương hại. Tuất hợp với mão, dậu đến xung tan, nên tuất dậu tương hại. Dần hợp với hợi, thân đến xung tan, nên hợi và thân tương hại.

Người có tí và mùi tương hại là mùi thổ vượng, tí thuỷ vượng nên gọi là gia thế tương hại, không có lợi cho những người thân trong gia đình. Người có sửu ngọ tương hại, vì lấy ngọ làm vượng hoả để lăng nhục tử kim trong sửu nên gọi là bị quan quỷ tương hại.

Người có dần tị tương hại là vì được thăng quan mà bất lợi.

Người có mão thìn tương hại, mão lấy vượng mộc để xem thường tử thổ ở trong thìn, lấy trẻ mà lừa già nên bị hại.

Người có thân hợi tương hại là do đặc cách thăng quan, nhưng cuối cùng vì đố kỵ tài năng tranh giành nhau mà bị hại.

Người có dậu tuất tương hại, tuất là tử hoả hại vượng kim của dậu là đố kị tương hại. Cho nên nói người dậu gặp tuất thì xấu, nhưng người tuất gặp dậu thì vô sự.

Sáu điều hại ở trên chủ về gây cho bản thân cô độc, người thân trong gia đình bị tổn thất, của cải mất mát. Đối với phụ nữ rất không nên gặp sáu điều đó. Sách "Lạc lộc tử" có nói: "Những người có lục hại thì mệnh thường gặp bảy điều tổn thương". Trong "Kim thư quyết” có nói: "Người gặp lục hại kiêng nhất là tránh ngày giờ, đối với người già, tàn tật thì không có chỗ nương tựa. Nếu còn gặp bình dương thì không trúng phải mũi tên, hòn đạn cũng dễ gặp phải hổ". Cho nên mệnh gặp phải lục hại thì điều kị nhất là các can chi ngày giờ.

Tương hại là bị hại, tức là tương khắc. Giả thiết sinh vào năm bính thân, tháng ất mùi, ngày mậu tý, giờ đinh tị tức là trong Tứ trụ đã có tý mùi tương hại. Tương hại đương nhiên là không tốt, nhưng còn phải xem có bị chế ngự hay không. Người tương hại có gặp chế ngự thì không can gì, người không có chế ngự thì bất lợi.

3. Tương hình của mười hai chi

Tí hình mão, mão hình tí, là hình phạt do vô lễ; dần hình tị, tị hình thân, thân hình dần là hình phạt do đặc quyền đặc thế; sửu hình mùi, mùi hình tuất, tuất hình sửu là hình vì vong ơn; thìn, ngọ, dậu, hợi là hình phạt tự mình gây ra. Ân sinh ra hại, hại sinh ra ân, Tam hình sinh ra ở tam hợp, lục hại sinh ra ở lục hợp. Nếu tam hợp thân tý thìn lại còn thêm ba ngôi dần mão thìn thì thân hình dần, tý hình mão, thìn gặp thìn là tự hình. Dần, ngọ, tuất thêm ba ngôi tỵ, ngọ, mùi là dần hình tỵ, tuất hình mùi, ngọ gặp ngọ là hình phạt tự gây ra. Tị, dậu, sửu còn thêm ba ngôi thân, dậu, tuất là tị hình thân, dậu gặp dậu là tự hình, sửu hình tuất; Hợi, mão, mùi còn thêm ba ngôi hợi, tí, sửu là hợi gặp hợi tức tự hình, mão hình tí, mùi hình sửu. Trong hợp sinh hình là do vợ chồng hợp nhau mà dẫn đến hình hại, gây tổn thương.

Tí, mão tượng hình là hình phạt do vô lễ. Tí thuộc thuỷ, mão thuộc mộc. Thuỷ có thể sinh mộc, tí thuỷ là mẹ, mão mộc là con. Nay con tượng hình mẹ tức là vô lễ vậy.

Dần, tị, thân là hình phạt do vong ơn. Giáp mộc trong dần hình phạt mậu thổ trong tị, mậu lấy quý thuỷ để tương hợp làm vợ, quý thuỷ là mẹ của giáp mộc, mậu thổ là cha của giáp mộc, tí hình khắc cha chính là tội vong ơn. Bính trong tị hình phạt canh trong thân, canh trong thân hình phạt giáp trong dần cũng có nghĩa như thế. Hoả sinh trong dần hình phạt kim sinh trong tị, thổ ở trong tị hình phạt thuỷ sinh trưởng trong thân, thuỷ sinh trưởng trong thân lại hình phạt hoả trường sinh trong dần, nó không sinh ra nhau lại còn hình khắc, sát phạt nhau nên gọi là hình phạt vong ơn.

Sửu,mùi,tuất là hình phạt do đặc quyền đặc thế dẫn đến. Trong sửu có vượng thuỷ, ỷ thế vượng mà hình phạt mộ hoả trong tuất. Tuất ở vị trí tôn quý trong lục giáp, còn mùi là hèn yếu nhất trong lục quý, tuất ỷ thế cao sang mà hình phạt mùi kém cỏi. Mùi nhờ có vượng thổ, hình phạt vượng thuỷ trong sửu; mùi nhờ có vượng hoả mà hình phạt tân kim trong sửu; tuất nhờ có tân kim hình phạt ất mộc trong mùi, đều là lấy mạnh đè yếu, nên gọi là hình phạt đặc quyền, đặc thế.

Thìn, ngọ, dậu, hợi là tự hình. Đối với dần, thân, tị, hợi có hình phạt dần thân tị, duy hợi không có hình phạt. Thìn, tuất, sửu mùi có hình phạt tuất, sửu, mùi, duy thìn không có hình phạt. Tí, ngọ, mão, dậu, có tí mão hình phạt nhau; trong đó ngọ, dậu không có hình phạt. Thìn là kho nước, ngọ là vượng hoả, dậu là vượng kim, hợi là vượng thuỷ, nếu các khí vượng quá, thái quá thì sinh ra tại hoạ nên gọi là hình phạt tự gây ra.

Tự hình kiêng nhất là thìn gặp thìn, ngọ gặp ngọ, dậu gặp dậu, hợi gặp hợi. Xưa có câu: "Tự hình có thêm sát là không tốt. Năm sinh, tháng sinh mà tự hình thì nhất định bị tổn thương, không bị giam cầm thì cũng chết cháy, hoặc gặp nạn binh đao mất đầu. Thìn, ngọ, dậu, hơi tự hình thì đến tuổi trung niên không rõ, khó đoán.

Tam hình có cát, có hung. Ngôi của tam hình có kèm theo tam kì, có thiên ất còn kiếm được ngày giờ, có hình phạt nhưng nếu gặp được thiên đức, nguyệt đức, chức quan lại ở cực phẩm thì không xấu. Cho nên có thể thấy, nếu tam hình bằng nhau, lại gặp tam kỳ quý nhân hay thiên đức, nguyệt đức thì tốt. Phụ nữ gặp phải tam hình thường hay bị tổn thai, cả đời không có lợi cho người thân, nhưng người đó tính cách liêm chính.

Người bị hình tức là bị hình phạt. Hình phạt chủ yếu là các việc phạm pháp hoặc bị bệnh tật, đau khổ hay bị thương. Phàm trong Tứ trụ gặp hình phạt là không tốt, vì vậy nên tuân thủ pháp luật đừng làm việc xấu thì may ra có thể tránh được. Ngay như bệnh tật nhiều, nếu biết để phòng, kiên trì luyện tập thì cũng giảm được sự lo lắng đau khổ.

Phàm trong Tứ trụ có hai chi tí, mão (các chi khác cũng thế) là hình phạt do vô lễ, tức là do việc vô lễ mà gây ra phạm pháp hoặc sinh ra tại hoạ. "Hình phạt do đặc quyền, đặc thế" là do mình có quyền thế, làm bậy, làm càn, lừa dối hoặc áp đảo người khác mà dẫn đến phạm pháp hoặc tại hoạ." Hình phạt vong ơn" là chịu ơn, biết ơn nhưng không báo đáp, ngược lại còn làm hại ân nhân hoặc sát hại ân nhân mà gây ra tội lỗi. "Tự hình" tức là tự mình có âm mưu hoặc mưu đồ nào đó mà dẫn đến tội phạm.