chương 3 tổng kết

Chương 3: THIÊN CAN

Mười thiên can và mười hai địa chi, sách "Sử ký" gọi mười thiên can là mẹ, mười hai chi là con, gọi tắt là can chi.

Từ quá trình phát triển của lịch sử để xem xét thì đại thể ban đầu phát minh ra thiên can, sau đó mới phát minh ra mười hai địa chi, cuối cùng mới ghép can chi lại với nhau. Từ thế kỷ XVI trước công nguyên qua các đời nhà Ân, nhà Thương đã có được can chi giáp tý. Mười can ban đầu được dùng làm đế hiệu của vua nhà Thương như Thành Thương có tên là Thiên Ất, con trai của ngài gọi là Đại Đinh, Trung Bính, Trung Nhâm, cháu có tên là Đại Giáp...

I. MƯỜI THIÊN CAN VỚI ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH

1. Ngũ hành của mười can

Mười can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là can dương; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là can âm.

Giáp, ất đều thuộc mộc, giáp là dương mộc, ất là âm mộc;

Bính, đinh đều thuộc hoả, bính là dương hoả, đinh là âm hoả;

Mậu, kỷ đều thuộc thổ, mậu là dương thổ, kỷ là âm thổ;

Canh, tân đều thuộc kim, canh là đương kim, tân là âm kim;

Nhâm, quý đều thuộc thuỷ, nhâm là dương thuỷ, quý là âm thuỷ.

Giáp mộc là mộc thuần dương, tên là mộc của đại ngàn, tính của nó là cứng, là gỗ làm cột trụ cho nên gọi là dương mộc.

Ất mộc là mộc thuần âm có tên là gỗ của thảo mộc, có vẻ đẹp kiều diễm, có tính mềm yếu, tình khắp nhân gian nên gọi là mộc âm.

Bính hoả là hoả thuần dương, có tên là hoả của mặt trời, có công chiếu sáng trời đất, tính mãnh liệt làm tan sương tuyết, chiếu khắp vạn vật, cho nên gọi là dương hoả.

Đinh hoả là hoả thuần âm có tên là lửa của nến, chỉ chiếu sáng trong nhà, tính mềm yếu, quên mình vì mọi người, nên gọi là âm hoả.

Mậu là thổ thuần dương, là thổ trên tường thành, là tư lệnh của vật, tính cao thượng, chất cứng mà hướng dương, dưỡng dục cho vạn vật nên gọi là dương thổ.

Kỷ là thổ thuần âm, tên gọi là thổ của ruộng vườn, có chức năng bồi dưỡng cây cối và ngăn nước, tính của nó ẩm ướt, chất mềm, ở những chỗ thấp, hướng về âm, tạo phúc cho nhân gian nên gọi là âm thổ.

Canh kim là kim thuần dương, tên là kim mũi kiếm, tính cứng khỏe, có sức sát phạt, phong cách cương trực, cứng rắn, sát phạt vạn vật nên gọi là dương kim.

Tân kim là kim thuần âm, tên gọi là ngọc quý, có công dụng khảm, nạm vật quý, tính nhu nhược, chất sáng trong, ấm, trang sức cho mọi người nên gọi là âm kim.

Nhâm thuỷ là thuỷ thuần dương, có tên gọi là nước của sông, hồ biển, chảy khắp nơi không ngừng, tính mạnh, chất cứng tưới tắm cho vạn vật nên gọi là dương thuỷ.

Quý thuỷ là thuỷ thuần âm, tên gọi là nước mưa có sức biến thành khí, tính của nó yên tĩnh, mềm yếu, nuôi nấng vạn vật nên gọi là âm thuỷ.

2. Mười cân phối với bốn mùa và các phương vị

Giáp, ất là phương đông, mộc; Bính, đinh là phương nam, hoả; Mậu, kỷ là trung ương, thổ; Canh, tân là phương tây, kim; Nhâm, quý là phương bắc, thuỷ; Giáp, ất thuộc mộc, nó là mùa xuân gặp đất đai thì sản sinh ra vạn vật, nó thuộc phương đông nên giáp, ất gọi là mộc phương đông.

Bính, đinh thuộc hoả, nó là mùa hạ, nóng gay gắt làm cho vạn vật sinh trưởng, thuộc phương nam, nên gọi bính đinh là hoả phương nam.

Mậu, kỷ thuộc thổ, nó là mùa hạ, được chính khí của hoàng cục nên nó hàm chứa đức của hoàng cục, có thể bao gồm vạn vật ở bên trong, nên gọi là thổ trung ương.

Canh, tân thuộc kim, thuộc mùa thu là mùa bắt đầu âm khí, vạn vật ngừng phát triển, ngôi vị thuộc phương tây nên gọi là canh tân là kim, phương tây.

Nhâm, quý thuộc thuỷ, là mùa đông, âm hóa nhũ chảy ra nên vạn vật vào mùa đông thì ẩn tàng, ngôi vị thuộc phương bắc nên gọi nhâm, quý là thuỷ, phương bắc.

Do đó mà mười can phối với tứ thời như sau: giáp ất thuộc xuân, bính đinh thuộc hạ, mậu kỷ thuộc trưởng hạ, canh tân thuộc thu, nhâm quý thuộc đông.

3. Mười can phối với thân thể

Mười can phối với thân thể như sau: Giáp là đầu, ất là vai, bính là trán, đinh là răng lưỡi, mậu kỷ là mũi mặt, canh là gân bắp, tân là ngực, nhâm là bắp chân, quý là bàn chân.

Mười can phối với tạng phủ: giáp là mật, ất là gan, bính là ruột non, đinh là tim, mậu là dạ dày, kỷ là lá lách, canh là ruột già, tân là phổi, nhâm là bàng quang, quý là thận. Chữ thứ tự lẻ là phủ, chữ thứ tự chẵn ta tạng.

4. Mười can phối với lục thân

Giáp, ất là thanh long, bính đinh là chu tước, mậu là câu trần, kỷ là phi xà, canh tân là bạch hổ, nhâm quý là huyền vũ.

Lục thần thực tế là tên gọi các ngôi sao trong thiên văn. Thanh long chủ về các việc vui mừng khánh chúc; chu tước chủ về việc thị phi cãi vã, câu trận chủ về lo lắng vì ruộng đất, về giam cầm; phi xà chủ về những việc lo lắng vu vơ, bạch hổ chủ về những việc máu me tang tóc; huyền vũ chủ về những việc ám muội, trộm cắp.

II. MƯỜI CAN HÓA HỢP

Giáp hợp kỷ hoá thô; Ất hợp canh hóa kim; Bính hợp tân hóa thuỷ; Đinh hợp với nhâm hóa mộc; Mậu hợp với quý hóa hoả.

Có hai loại ý kiến bàn về sự hòa hợp của mười can.

1. Giáp hợp với kỷ hóa thổ là năm giáp, hay năm kỷ lấy bính làm đầu, bính dần là tháng giêng của năm giáp, năm kỷ. Bính là hoả, hoả sinh thổ nên giáp kỷ hóa thổ.

Ất hợp với canh hóa kim là nói năm ất, hay năm canh lấy mậu làm đầu, mậu dần là tháng giêng của năm ất, làm canh. Mậu là thổ, thổ sinh kim nên ất canh hóa kim.

Bính hợp với tân hóa thuỷ là nói năm bính, hay năm tân lấy canh làm đầu, canh dần là tháng giêng của năm bính, năm tân. Canh là kim, kim sinh thuỷ, nên bính hợp với tân hóa thuỷ.

Đinh hợp với nhâm hóa mộc, là nói năm đinh, hay năm nhâm lấy nhâm dần làm đầu, tức nhâm dần là tháng giêng của năm đinh, năm nhâm. Nhâm là thuỷ, thuỷ sinh mộc nên gọi đinh hợp với nhâm hóa mộc.

Mậu hợp quý, hóa hoả, tức là năm mậu, hay năm quý lấy giáp dần làm đầu, giáp dần là tháng giêng của các năm mậu, năm quý. Giáp là mộc, mộc sinh hoả nên mậu hợp quý hoá hoả.

2. Có ý kiến nói mười can hóa hợp với nhau là do phương vị của 28 ngôi sao trên trời quyết định.

Mười can hóa hợp là dương hợp với âm, âm hợp với dương, là âm dương hoá hợp. Sách "Chu dịch" có câu: "Một âm, một dương gọi là đạo". Âm dương hợp với nhau như nam nữ hợp với nhau để thành đạo vợ chồng.

Giáp hợp với kỷ có tên là sự hợp trung chính. Giáp là dương mộc, tính nhân từ, là đứng đầu các thập can. Kỷ là âm thổ, tính yên tĩnh, có đức sản sinh nuôi dưỡng vạn vật nên giáp hợp kỷ là sự tương hợp trung chính.

Giáp hợp kỷ chủ về người được tôn kính, phúc hậu thẳng thắn, nếu trong ngũ hành không có khí lẫn với sát thì phần nhiều chủ về tính hay giận, tùy tiện.

Ất hợp với canh có tên là sự hợp nhân nghĩa. Ất là âm mộc tính nhu, nhân từ, canh là dương kim, tính cứng bất khuất, cho nên ất canh hợp với nhau thì có cả cứng và mềm, gọi là sự hợp nhân nghĩa. Ất hợp với canh ngũ hành sinh vượng thì cốt cách thanh tú, chủ về người có chí tiến thủ, nếu tử tuyệt có kèm với sát thì dũng cảm, tính cách lầm lì, hiên ngang, là người hay tranh cãi.

Bính hợp với tân có tên gọi là sự tương hợp có uy chế ngự. Bính là dương hỏa, xán lạn chói chang, tân là âm kim, chất nhu mà nhẫn nại. Bính hợp với tân là trong nhu có cương, gọi là sự tương hợp có uy chế ngự.

Bính hợp với tân chủ về người bề ngoài uy nghi, nghiêm túc, khiến người khác nể sợ, người hay nghiện ngập, ham cờ bạc, háo sắc nếu có sát lẫn vào hoặc ngũ hành gặp tử tuyệt thì là người hay vong ơn bội nghĩa, người vô tình.

Đinh hợp với nhâm gọi là sự tương hợp dâm loạn. Nhâm là thuỷ thuần dương, tính lạnh hướng hàn. Đinh hỏa là hoả tàng âm, ám muội không rõ ràng cho nên đinh hợp với nhâm là sự hợp dâm loạn.

Đinh hợp với nhâm chủ về người mắt sáng, thần sắc đẹp, đa tình dễ rung động, gặp vở thì không có chí nhưng lại thích nhan sắc, gia phong ô tạp, nặng tính cách tiểu nhân, tham lam, lừa dối. Nếu là đàn bà thì lấy chồng già hoặc tuổi cao lấy chồng không cưới. Nếu còn trẻ mà lăng loàn thì về già lại tốt. Hoặc ngược lại nếu còn trẻ mà tốt thì lúc về già lại hư hỏng.

Mậu hợp với quý gọi là sự hợp vô tình. Mậu là dương thổ, tính khô khan, là người chồng khó tính, quý là âm thuỷ tính nhu nhược là người vợ xấu xí. Mẫu hợp với quý là sự tương hợp dương già âm trẻ, nên gọi là sự tương hợp vô duyên.

Mậu hợp với quý chủ về người hoặc tốt hoặc xấu, nếu mậu được quý thì người đẹp đẽ, kiều diễm. Nếu là con trai thì lấy vợ trẻ, nếu là con gái sẽ lấy chồng đẹp. Nếu quý được mậu thì dung nhan thô lỗ, nam thì lấy vợ già, phụ nữ lấy chồng già.