Chương 22 tổng kết

Chương 22 TÍNH CÁCH Tính cách của một người có mừng, giận, buồn vui, có hiện có ác. Nếu biết được tính cách sẽ có lợi cho việc tuyển dụng nhân tài, trong xã giao cũng rất có lợi cho việc kết bạn rộng rãi. Tính cách của con người, theo ngũ hành đại thể chia ra: mộc chủ về nhân đức; hỏa chủ về lễ độ; thổ về tín; kim chủ về nghĩa; thuỷ chủ về trí. Người đời thường nói: biết người, biết mặt nhưng không biết lòng. Song lòng người tốt hay xấu, lành hay dữ đều có thể thấy được trong | Tứ trụ. I. TÍNH CÁCH (1) Ấn tinh và thiên đức cùng cung thì thành thật, hiền lành.

Thiên đức, nguyệt đức không bị phá, nam thì trung hiếu, nữ hiền lành. Nhật đức chủ về tính cách từ thiện.

Thiên đức, nguyệt đức được ấn sinh thì hay làm việc ân đức.

Chính ấn nhiều là người thông minh, ung dung tự tại, hiền từ.

Tài quan ấn thực đều có thì người cổ đức rất rõ.

Ất canh hợp sát, nam gặp thì hiền hòa, chan hòa với mọi người.

Giáp gặp kỉ mà sinh vượng là người có lòng trung chính.

Ất gặp canh vượng, ngũ hành không bị xung phá thường là người nhân nghĩa.

Giáp mộc sinh vào tháng mùa xuân, gặp dân mão là tính ôn hòa, hiền hậu.

Mệnh nữ thân nhược là người thuần tuý mà ôn nhu, kính trọng cha mẹ, giúp chồng.

Thực thần tú khí là người béo.

Thực thân thiện ẩm là người thích ca hát.

Khôi canh là người anh nghiệm, tiết tháo, thông minh, nhạy cảm,

Người thường ngày kính thản tin phật là Tứ trụ có tuất hợi.

Bính gặp tân kim là người tuy nghèo nhưng có đức,

Lục giáp không vong gặp được sinh vượng là người khoan thai hào phóng.

Giờ sinh gặp tương tinh là người quyền mưu sâu.

Trụ kim nhiều là người uy vũ cứng rắn, người mộc thịnh là người có lòng trắc ẩn,

Thuỷ nhiều là người thông minh khéo léo.

Tứ trụ bình hòa là người hay đố kị.

Thổ vượng là người có chữ tín, mộc vượng thì nhân từ.

Hỏa vượng thì tính nóng mà hùng biện, kim vượng thì danh cao nghĩa trọng. .

Thủy vượng là người túc trí đa mưu.

Quan vượng mã vượng là người khảng khái trong tình bạn.

Các con của năm tháng ngày giờ đều cùng trong một tuần là người vui, ít lo buồn.

Tài vượng thân nhược là kẻ sĩ trung chính, hiền lành lộ rõ.

Mộc quan gặp cầm tinh con ngựa là người thông minh phong nhã.

Kim thuỷ thương quan là người thông minh hiếu thắng.

Thực thần và văn xương cùng cũng là người hùng biện, thao thao bất tuyệt.

Trụ tháng có quan ấn là người khảng khái thông minh, kiến thức cao, có công trong phò tá người khác.

Dấn thân tị hợi sinh vượng là người trong sáng, đẹp, ham tranh đấu.

Kim mùa đông đóng ở cục là người chí khí kiên cường, giám hy sinh vì nghĩa.

Đinh hóa thương quan là tính ngạo mạn, nhiều mưu.

Trụ có thiên tài là người thanh cao, khảng khái.

Trụ giờ có thiên tài là người hay giúp người nghèo.

Tài thầu ra là người khảng khái, hào phóng, tài tàng ẩn là người nhỏ nhen, biển lận,

Kim trắng thuy xanh là người thông minh hiển đạt.

Đinh nhâm hoá mộc là người nhân từ, thông minh.

Ngũ hành tương sinh là người trung hiếu.

Sát có ấn mà không có uy là người đôn hậu, hoà nhã, dễ thân.

Giáp ất thuận là người nhân từ đại lượng.

Nhâm quý thuỷ thịnh là người thông minh, trí tuệ.

Trong trụ hợp nhiều là tuy sơ nhưng thân.

II. TÍNH CÁCH (2) Trong trụ quan sát hỗn tạp, quan tinh bị hợp là người vô tình.

Thất sát hiện rõ là người tính nóng, lòng dạ ác.

Kình dương là người oán lại ân nhân, tính thô bạo mà tham.

Trụ ngày quá yếu là người buồn nhiều vui ít.

Thổ gặp ngôi mão là người mới ở tuổi trung niên đã có nhiều việc hối hận.

Kim gặp hỏa thì tuy lúc thiếu thời mạnh mẽ nhưng về sau nhụt chí dần.

Kim mộc giao xen nhau hình phạt nhau là người không có nhân nghĩa.

Thất sát đóng ở trụ ngày là tính nóng gấp, tính lợi, thông minh khéo léo nhưng ác.

Trụ có thương quan là người nhiều tài nghệ, thích làm to, bị quan trên không ưa, người dưới đố kị.

Trụ có bình dương là liều, to gan, râu dài, cương nghị quả cảm, không có lòng trắc ẩn.

Có khối canh là người thông minh, quả đoán, hiếu kỳ.

Mệnh nữ thân mạnh là hay lừa chồng, không hiếu kính cha chồng, nhiều thị phi, tính nóng.

Nữ ấn bị thương là người đố kị cha chồng.

Người thương quan gặp quan là tính giả dối, gian giảo.

Người mà thất sát, kiêu thần nặng là tha phương cầu thực.

Mã rơi vào không vong là tính nóng, ác. Trong trụ nhiều hình phạt) là người không có nghĩa.

Nữ mà thương quan đóng ở trụ ngày thì hay chửi chồng.

Thiên ấn, kiếp, bình dương là người lòng lang dạ thú.

Thiên ấn, tài lộ rõ là người coi thường tiền của, thích nghệ thuật, thích người ta nịnh mình, hay thị phi cãi cọ, tham tửu sắc.

Tài tinh nặng quá là người cô đơn, khắc người khác.

Hoa cái gặp tuần không là người hà khắc. Trụ ngày yếu, thuỷ hỏa tương tranh là chuốc lấy thị phi. nhân nghĩa.

Giáp mộc suy gặp kim vượng là không có

Năm khắc ngày là kẻ trên lăng mạ người dưới, ngày khắc năm là người dưới phạm thượng.

Bính định đóng ở quẻ ly (nam) mà không bị kiềm chế là người không tôn trọng lễ phép, tính hung bạo.

Ngũ hành vượng quá là hành động vô lễ.

Ấn thụ bị hình xung là lòng rối loạn.

Ngày, giờ ở mộ kho là lo buồn nhiều, vui ít.

Trụ có thiên quan, bình dương là người thô bỉ, gian lận.

Ấn vượng thân mạnh là người hay rượu chè.

Trụ có thiên quan là tính cứng, ít lễ độ, ham tửu sắc, đấu tranh.

Chính ấn lẫn với thực thân thì ăn nói như ngậm hột thị.

Thiên ấn chủ về người làm việc có đầu, không có đuôi, thích làm việc phi pháp, bề ngoài nhã nhặn nhưng bên trong hiểm độc.

Trụ có thực thân là người hiếu thắng, có cả sát thì làm việc tỉ mỉ.

Thiên quan có cả sát là người đầu siêng sau lười, hành động không nhất định, hay cãi vã.

Người có tỉ kiếp thì nhát gan, tính không thuần, không nhận ra sai sót.

Thất sát đóng ở trụ ngày là nhà có vợ ác.

Tài tinh bị can ngày hợp làm cho suy là người bên ngoài hồ hởi mà bên trong gian trá.

Dương mộc kim nhiều mà không có hỏa chế ngự là người tính cương bạo, hung ác.

Tài nhiều thân nhược là người sợ vợ, hay bị xúi dục.

Kinh dương bị thương quan xung chiếu là người hung ác, bất hoà với xung quanh,

Thuỷ nhiều, mộc ít, thân lại nhược là người lênh đênh phiêu bạt khắp nơi.

Trong trụ mậu, kỉ nhiều là người kĩ tính, nhỏ nhen không khoáng đạt.

Hỏa mạnh, thổ táo là người thích lễ nghĩa.

Trụ có bình dương là người mắt lồi tính nóng, chơi bời với người ác.

Kinh dương, đào hoa ở ngày, giờ là người tính khéo léo, nếu vượng là người tính nóng , suy là người tính chậm.

Quan ấn ở đất hình xung là người tính rối

Kiêu, thực đều gặp là người do dự, hành động rụt rè, đầu voi đuôi chuột.

Thương quan mà không có tài, lại có hình dương là gian dối.

Thực thân bị chế ngự là người hay bị khuất phục, không tự lập.

Canh tân và giáp Ất xen kẽ nhau là người bất nhân bất nghĩa.

Nam giới tài mạnh, kiếp nạnh là vợ có dục vọng riêng.

Nam gặp thương quan kình dương, thất sát là sứt mẻ tình cảm với anh em hoặc bạn bè.

Trong trụ chỉ có một ngôi thất sát là người thông minh, linh lợi có hai ba ngôi là ban đầu trong sau đục.

Kiếp tài bại tài là người lòng dạ thay đổi, tham lam.

Ngũ hành làm thương tổn lẫn nhau là người bất nhân bất nghĩa.

Can chi hình khắc hợp là vui biến thành buồn.

Đào hoa lẫn hợp là người phong lưu nho nhã. Ấn lộ rõ là người thông minh, ấn hưu tù là người lười biếng.

Hợp nhiều quá là người có tình, nhưng chí không lớn.

Trạch mã vô cương là người làm khách của bốn phương.

Tị mão tượng hình nhau là người không đức độ.

Lục hợp nhiều là kẻ vong ân bội nghĩa.

Trụ ngày gặp đất tử tuyệt là ngu xuẩn, cố chấp.

Trạch mã bị xung là người làm khách khắp nơi.

Mã nhiều lộc ít là đồ bôn ba dối trá. Khội canh lẫn sát là bình sinh tính ngạo mạn can cường.

Thất sát gặp hình dương là kẻ lỗ mạng cứng rắn.

Kiều nhiều, thương nhiều là người hay đơm đặt chuyện.

Mệnh nữ đào hoa lẫn sát là người đa dâm.

Kiếp tài, bình dương đứng ở hai đầu là người bề ngoài màu mè nhưng bên trong rỗng tuếch.

Trong trận gặp kiêu thân là người không nhân nghĩa.

Mão thìn ngó sứu sinh vượng là người hiếu thắng, hay tự ái.

Thiên quan không bị chế ngự là tiểu nhân, không biết điều, thô bạo.

Một ngôi khoa canh đóng trên trụ ngày, bị xung nhiều là kẻ tiểu nhân.

Trụ năm, trụ tháng: quan, sát hỗn tạp là kẻ tiểu nhân.

Người có thương quan phần nhiều tính kiêu ngạo.

Trong trụ không có quan tinh là người tự do, không chịu sự ràng buộc.

Dương thuỷ gặp mậu thổ là người lính nóng như hổ, thường bất bình, thích đấu tranh.

Vong thân tỉ kiếp trùng lặp là khẩu phật tâm xà.

Nữ gặp tỉ kiếp là chị em khó hợp, hay tranh cãi, điêu toa.

Tài tinh lẫn kiếm, nhật can suy là bên ngoài thon thớt, bên trong dối trá.

Kình dương thi sát là người ham sát, giàu không bền.

Thuỷ chủ về trí, bị thổ hỗn tạp là người ngu, lỗ mãng.

Tứ trụ thuần dương là tính cương trực mà thô bạo, thuần âm là tính nhu.

Thiên ấn, kiếp, bình dương là người xa rời tổ tiên, xanh vỏ đỏ lòng, vô ý thức.

Tí ngọ đối nhau là nhà không có con đức độ.

Quý hợp với mậu là hợp vô tình.

Vong thân có thêm sát là đồ trộm cướp.

Ngũ hành thái quá là cầu ngang dễ gãy, lòng bất chính, bọn lưu manh.

Về tính cách con người, thiện ác tất xấu, xanh vỏ đỏ lòng, ngoài khiêm tốn, trong kiêu ngạo... những điều đã nêu ra ở trên khá ứng nghiệm.

III. CĂN CỨ SỰ VƯỢNG, NHƯỢC CỦA NGŨ HÀNH ĐỂ XEM CÁ TÍNH 1. Cá tính người nhật chủ thuộc kim Vượng,quá: khắc bạc, khô khan, hay đấu tranh, ham mê sắc dục, vô liêm sỉ, bổ dũng vô mưu. Vượng vừa: con người không biết chừng mực, gặp việc thì hiếu thắng, thấy việc nghĩa thì hay bênh vực, chính trực cứng rắn. Vừa phải: uy vũ không khuất phục, vào việc thì quyết đoán, có tình có nghĩa.

Thuỷ nhiều thì lễ nghĩa bề ngoài, tình cảm không lâu, hay nói rằng, Bề ngoài thì bao dung, bên trong thì dối trí, Mộc nhiều thì phân minh rõ ràng, chính trực, không lạ mắt lồi), được bạn bè ủng hộ tín nhiệm. Hỏa nhiều thì suy nghĩ không chu đáo, cặp việc không biết suy đo11) tính toán; phải trái không phân biệt, ít tình nghĩa, Thổ nhiều thì hay đặt điều cãi vã, ngoan cố, cố chấp, đa nghi, Nhược quá: tính tuy có nghĩa, có đầu nhưng không có đuôi, hay suy nghĩ, nhưng luẩn quẩn việc không thành.

2. Cá tính người nhật chủ thuộc thuỷ Vượng quá: đa mưu xảo quyệt, tàn khốc vô tình, hay đặt điều cãi cọ đa dâm, hoang đường. Vượng vừa: lòng hay thay đổi, không thành đạt, nói nhiều mà làm ít. Vừa phải: bản tính thông minh, nhạy bén, học rộng nhiều tài, rộng rãi hào phóng, kế hoạch, tính toán chu đáo. Thuỷ nhược (kim nhiều ): tham lam vô độ, gặp việc ít biết suy nghĩ, tay chân khéo léo, ít tình nghĩa. Thuỷ nhược (mộc nhiều): tính tình lan man, thông minh khéo léo, nhưng thấy lợi thì quên tình. Thuỷ nhược (hoả nhiều): ham mê tửu sắc, tham lam, hay lo, quyết đoán vội vàng nên hay hối hận. Thủy nhược ( thổ nhiều): bề ngoài cứng rắn nhưng bên trong nhu nhược, tín nghĩa thất thường. Thuỷ nhược quá: thay đổi thất thường, nhát gan vô mưu, ít mưu trí, thô tục.

3. Cá tính người nhật chủ thuộc mộc Vượng quá: tính toán phức tạp, tủn mủn vụn vặt, tính hay thiên lệch, cố chấp đố kỵ, bất nhân. Vượng vừa: Học nhiều thành đạt ít, giao thiệp hạn hẹp, mềm yếu không quyết đoán, thông minh nhưng vô dụng. Vừa phải: phong cách lịch thiệp, cá tính khảng khái, nhân từ trung hậu, tâm tính tế nhị, chu đáo.

Mộc nhược (kim nhiều): ham muốn quá mức, tính tình hay thay đổi, hay làm ít nói, lúc làm lúc bỏ. Mộc nhược (thủy nhiều): phiêu lưu bất định, tính cách tiểu nhân, nói một đường làm một nẻo. Mộc nhược (hoả nhiều): thông minh láu cá, không thiết thực, không biết phân biệt thiện ác, biết sai vẫn làm. Mộc nhược (thổ nhiều): thiện ác phân minh, biết cứng biết mềm, biết ăn nói cảm hoá người. Mộc nhược quá: lời nói và việc làm mâu thuẫn nhau, tự tư tự lợi thấy sai vẫn làm.

4. Cá tính người nhật chủ thuộc hỏa

Hỏa vượng quá: phong cách mãnh liệt, dễ giận dữ, kiêu ngạo, cố chấp, không nghe lời nói ngay, dễ gây thù chuốc oán.

Hỏa vượng vừa: tính tình đạm bạc, bên ngoài phân minh nhưng bên trong mờ ám, gặp việc thì vội vàng, đầu voi đuôi chuột.

Hỏa vừa phải: phân biệt được đúng sai, thiện ác phân minh, văn võ đều có, ham học hỏi.

Hỏa nhược kim nhiều: ít tự ái, hiếu thắng, hay tranh cãi, dễ chuốc lấy những lời gièm pha.

Hoả nhược thuỷ nhiều: dễ thành công cũng dễ thất bại, nghĩ nhiều thành có hại, hay làm việc tốt, thích được khen.

Hỏa nhược mộc nhiều: thô tục, hay làm uy làm phúc, ít làm thì đỡ sai, làm nhiều hay gây tai hoạ.

Hỏa nhược thổ nhiều: dám nghĩ dám làm, nói hay làm dở, cố chấp, ngoan cố.

Hỏa quá nhược: có tài vặt, gặp việc không biết tính toán, ít thành công.

5. Cá tính người nhật chủ thuộc thổ

Thổ vượng quá: u mê chậm chạp. Thổ vượng vừa: không linh hoạt, dễ chuốc lấy những lời chê trách.

Thổ vừa phải: người trung hậu, không phản lại lời hứa, hay tin thần phật, trung hiếu tận tâm. Thổ nhược kim nhiều: giữ chữ tín mà hiếu nghĩa, cương trực nóng này, không kiên trì, ít nhường nhịn.

Thổ nhược thuỷ nhiều: ham thành tích, hám công danh, dễ gặp trắc trở, ít tình nghĩa, qua cầu rút ván. Thổ nhược mộc nhiều: chí lớn nhưng không tưởng, làm nhiều mà hiệu quả ít. Thổ nhược hỏa nhiều: vong ân, vong nghĩa, bằng mặt mà không bằng lòng. Thổ quá nhược: không được lòng người, không hiểu biết công việc, biển lận dối trá.

V. CĂN CỨ DỤNG THẦN CỦA CHÍNH CÁCH ĐỂ XEM CÁ TÍNH

Dụng thần là chính quan. Tính tình quang minh chính trực. Nếu chính quan quá nhiều thì ý chí không kiên định,

Dụng thần là thất sát. Hào hiệp, hiếu thắng. Nhưng thất sát nhiều quá thì do dự rụt rè.

Dụng thần là thực thần. Ôn hậu, hiền lành. Nhưng thực thần nhiều quá thì cố chấp.

Dụng thân là thương quan. Thông minh sắc sảo. Nhưng thương quan nhiều quá thì kiêu ngạo, cứng rắn.

Dụng thần là ngang vai. Đằm thắm hòa nhã. Nhưng ngang vai nhiều quá thì tại quái, ít hoà nhập.

Dụng thần là kiếp tài. Nhiệt tình, thẳng thắn. Nhưng khiếp tài nhiều quá thì lỗ mãng, hay gây rối.

Dụng thân là chính tài. Siêng năng, cần kiệm. Nhưng chính tài nhiều quá là do của nhiều làm hại bản thân.

Dụng thần là thiên tài. Nhạy bén, khéo léo. Nhưng thiên tài nhiều quá thì hay cầu an hưởng lạc.

Dụng thần là chính an. Nhân từ, đoan chính, nhưng chính ấn nhiều quá thì do dự, yếu đuối nên ít thành công.

Dụng thần là thiên ân. Có ý chí phấn đấu, vươn lên, nhưng nếu thiên ấn nhiều quá thì tham lam, biển lớn.

Các cách khúc trực, gia tường, kìm cách, nhuận hạ cách, viêm thượng đều lấy kiếp tài, ngang vai làm dụng thần. Các cách tòng tài, tòng sát, tòng nhi, tông vượng, tòng cường, hoá khí đều lấy dụng thần theo thế vượng của nó.

VI. XEM CÁ TÍNH CỦA NGOẠI CÁCH Cách khúc trực: nhân từ, đôn hậu. Cách gia tường: từ thiện, hào phóng. Cách tòng cách: sắc sảo, có chí tiến lên. Cách nhuận hạ: toàn diện mà linh hoạt. Cách viêm thượng: hào kiệt, trọng nghĩa, Cách tòng tài, tòng sát, tòng nhi: hiền lành, lễ nghĩa. Cách tòng vượng, tòng cường: kiến nghị, hào hiệp. Cách hóa khí: thông minh, trí tuệ. Ngoài ra trong Tứ trụ khi nhật chủ vượng tướng, trong mệnh cục có khắc chế hoặc không có khắc chế thì đặc điểm tính tình như sau: Nhật chủ vượng, trong Tứ trụ có khắc chế: người như thế bản tính minh bạch, hào phóng, thuận với tự nhiên. Gặp việc biết quyết đoán, tính lạc quan, nhân từ, nặng tình nghĩa, không sợ khó, không hay nghi ngờ. Nhật chủ vượng, trong Tứ trụ không có khắc chết người đó tàn bạo, hay đấu đá, tính tình thất thường, không biết kiềm chế, liều lĩnh, hay kết bè đảng, a dua với kẻ mạnh, coi thường kẻ yếu. Cùng một Tứ trụ, khi nhật chủ suy nhược, trong mệnh cục có sinh phù hoặc không có sinh phù thì đặc điểm tính tình như sau: Nhật chủ nhược, trong Tứ trụ có sinh phù: chủ về người tính tình cần kiệm, thích điều thiện, suy nghĩ chu đáo, trầm mặc ít nói, kín đáo, ít bộc lộ, giữ chữ tín, nói năng và hành động cẩn thận. Nhật chủ nhược, trong Tứ trụ không có sinh phù là chủ về người đối trá, câu nệ cố chấp, nói và làm khác thường, đúng ít, sai nhiều, do dự chậm chập, gặp việc không biết tính toán. Những điều trên đây chỉ mới nói được một cách đại thể, khái quát về cá tính. Trong thực tiễn cần phải kết hợp với kinh nghiệm mới có thể nói được chính xác, tức là khi vận dụng phải linh hoạt không câu nệ. Sau khi lập xong Tứ trụ, phối với mười thân, xác định được dụng thân, hỉ thần, kỵ thần, lập đại vận, lưu niên. Trên cơ sở đó là có thể dự đoán được vượng suy, cát hung, và sự thành bại trong sự nghiệp.