Chương 2 tổng kết

Chương 2 ÂM DƯƠNG, NGŨ HÀNH

Trong lĩnh vực khoa học thông tin của nước ta, phàm dùng phương pháp kỹ thuật để dự đoán thông tin như Bát quái, Tứ trụ, Kỳ môn, Tinh tượng, phong thuỷ, vv... đều là lấy theo nguyên lý biến hoá của âm dương và quy tắc ngũ hành sinh khắc chế hoá. Do đó dùng Tứ trụ để đoán thông tin tốt xấu của một người cũng phải hiểu được nguyên lý và quan hệ của âm dương ngũ hành biến hóa sinh khắc.

I. HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG

Học thuyết âm dương là tư tưởng duy vật và biện chứng của nhân dân lao động trước đây, thông qua quan sát các sự vật và hiện tượng, chia vạn vật trong vũ trụ thành hai loại âm dương mà xây dựng nên. Học thuyết âm dương cho rằng, sự hình thành, biến hoá và phát triển của vạn vật đều do sự vận động của hai khí âm dương. Nó tổng kết các quy luật biến hoá âm dương của thế giới tự nhiên, thống nhất với tư tưởng triết học đối lập thống nhất. Học thuyết âm dương không chỉ ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học mà còn trở thành cơ sở lý luận của khoa học tự nhiên và thế giới quan duy vật của Trung Quốc.

1. Khởi nguồn của học thuyết âm dương

Học thuyết âm dương, từ đời Hạ xa xưa đã hình thành. Điều đó có thể được chứng thực bằng sự xuất hiện hào dương, hào âm trong bát quái của Kinh dịch. Hào âm (- ) và hào dương (-) trong Bát quái xuất hiện trong sách cổ "Liên sơn" của đời nhà Hạ Trung Quốc, cho nên trong "Sơn hải kinh" có câu: "Phục Hy được hà đồ", người Hạ nhân đó nói là "Liên Sơn"; Hoàng đế được hà đồ nên người Chu gọi là "Chu dịch". Tức là nói ở đời Hạ đã có quyển sách về Bát quái liên sơn này, còn Bát quái lại do hai hào cơ bản nhất: âm và dương cấu tạo thành. Cho nên học thuyết âm dương bắt nguồn từ nhà Hạ là điều tin được.

Nhân đây tôi muốn nói thêm rằng: giới học thuật ngày nay đối với mối quan hệ của học thuyết âm dương, ngũ hành và bát quái, cũng như khởi nguồn và quá trình diễn biến của nó, vẫn có những kiến giải khác nhau. Nhà sử học Bàng Phác trong bài "Nghiên cứu về nguồn gốc âm dương ngũ hành” (đăng ở mục "Bàn về lịch sử văn hóa cổ đại Trung Quốc", do Tạp chí Đại học Bắc Kinh xuất bản năm 1986) có nêu: nguồn gốc của quan niệm ngũ hành là ở quy bốc của dân tộc Thương, nguồn gốc quan niệm âm dương là mai bốc của dân tộc Ngô Việt ở phương nam (tức ở trong "Sở từ" gọi là "Diên bạ"). Bát quái thì bắt nguồn ở Phệ chiêm của dân tộc Chu, tức trong sách cổ có ghi là "Lục nhâm" mà về sau phát triển thành "Sáu hào"). Do đó ngài Bàng Phác đã căn cứ vào tích Thù Ty Mã ở trong sách cổ mà suy đoán ra, cho rằng các dân tộc ở phương Bắc và phương Nam Trung Quốc cổ đại (chủ yếu là nhà Thương, nhà Chu và Việt Sở) do sự thâm nhập văn hóa mà thành, đến thời Chiến quốc do các nhà nho như Khổng Tử, Trâu Diễn đã hòa trộn ba nền văn hóa lớn lại với nhau. Đến đời nhà Hán, Đổng Trọng Thư mới tập hợp thành học thuyết âm dương ngũ hành và cùng với thuật số Bát quái của Chu dịch kết hợp lại thành một công trình vĩ đại. Cách chứng minh trong các bài viết của ngài Bàng Phác chặt chẽ, có giá trị là tác phẩm diễn giải độc đáo. Nhưng giới khảo cổ và giới sử học ngày nay vẫn chưa có sự nhất trí đối với văn hóa cổ đại của đời nhà Hạ, với Liên Sơn, Quy tàng trong kết quả nghiên cứu của mình. Các tài liệu và chứng vật cũng không đầy đủ, do đó ở quyển sách này cũng chỉ có thể dựa theo cách nói truyền thống để xác định khởi nguồn của thuyết âm dương vào thời kỳ nhà Hạ. Nếu sau này phát hiện được những chứng cứ mới đủ để bác bỏ cách nói truyền thống này, cho rằng khởi nguồn của học thuyết âm dương ở những thời đại về sau hơn thì chúng tôi cũng sẽ tuân theo chân lý mà không sửa đổi những luận điểm trong sách này.

2. Sự đối lập của âm dương

Âm dương đối lập là nói bên trong mọi vật, mọi việc trong tự nhiên, đồng thời tồn tại hai thuộc tính trái ngược nhau, tức là tồn tại hai mặt âm dương đối lập nhau. Như Bát quái là do hai ký hiệu đối lập âm đường hợp thành, cũng tức là do bốn nhóm kí hiệu đối lập làm thành Bát quái, từ đó lại thành 32 nhóm ký hiệu đối lập để lập thành 64 quẻ. Cho nên sách "Chu dịch càn tạc độ" chỉ rõ: "Càn khôn là gốc của âm dương, là tổ tông của muôn vật". Quẻ càn thuần dương, quả khôn thuần âm, cho nên nói: sự mâu thuẫn đối lập của âm dương là mâu thuẫn căn bản của mọi sự vật. Song càn, khôn tuy là hai mặt đối lập, nhưng lại thống nhất lẫn nhau. Chỉ có sự thống nhất này sau đó mới có thể có sự biến hoá để thành ra vạn vật. Cho nên sự đối lập và thống nhất của âm dương là xuyên suốt của vạn vật.

3. Thuộc tính của âm dương

Âm dương không những là hai mặt đối lập có mặt trong vạn vật mà còn có hai thuộc tính hoàn toàn trái ngược nhau. Song hai mặt đối lập ở trong các hiện tượng và sự vật lại có thuộc tính âm dương, tức là không thể tùy ý tạo ra, không thể tùy ý đảo ngược mà là được phân loại theo một luật nhất định. Vậy dùng tiêu chuẩn nào để chỉ ra cái thuộc tính âm hay thuộc tính dương của vạn vật? "Hệ từ” có câu: "Đạo càn là nam, đạo khôn là nữ". Càn là cha, khôn là mẹ sinh ra: chấn, cấn, khảm, tốn, ly, đoài gồm sáu con. Sáu con chia ra nam nữ, tức trời đất sinh ra vạn vật, vạn vật không có cái nào không có hai tính.

Hệ từ còn nói: "Trời quý, đất hèn", "Càn dương là vật, khôn âm cũng là vật", và "Quẻ dương lẻ, quẻ âm chẵn". Phàm những cái đại loại như nam, cao và lẻ đều thuộc phạm trù dương, những cái có tính chất như nữ, thấp và mềm đều thuộc phạm trù âm.

4. Âm dương là gốc của nhau

Âm dương là gốc của nhau tức là hai mặt đối lập trong mọi vật hoặc hiện tượng, chúng vừa dựa vào nhau, vừa lợi dụng lẫn nhau. Mỗi mặt âm hay dương đều lấy mặt kia làm tiền để tồn tại của mình, tức không có âm thì dương không thể tồn tại; và ngược lại. Đúng như không có càn thì không có khôn, không có trời cũng sẽ không có đất. Sách: "Tố vấn âm dương ứng tượng đại luận" nói: "Âm ở trong, dương giữ ở ngoài, dương ở ngoài khiến âm ở trong". Do đó âm dương dựa vào nhau để tồn tại và cùng có ích cho nhau.

5. Âm dương tiêu giảm và tăng trưởng

Âm dương tiêu giảm và tăng trưởng là chỉ hai mặt đối lập nhau trong mọi sự vật và hiện tượng, đó là sự vận động biến hoá. Sự vận động của nó được tiến hành dưới hình thức cái này giảm, cái kia tăng. Do đó mâu thuẫn đối lập của âm dương từ đầu chí cuối đều ở trạng thái cái này giảm, cái kia tăng, nó ở trong trạng thái cân bằng động, cái này tiến lên, cái kia lùi xuống, chỉ có thế mới giữ được sự phát triển biến hóa bình thường của sự vật. "Hệ tử” có câu: "Mặt trời lặn thì mặt trăng lên, mặt trăng đi thì mặt trời đến, lạnh đi thì nóng đến..." Cái gọi là đi và đến chính là sự tiêu giảm và tăng lên của âm dương, ngày biến thành đêm, đêm lại thay thế ngày. Trời từ nóng biến thành lạnh, rồi lại từ lạnh chuyển sang nóng. Dùng quy luật biến hóa của ngày đêm, lạnh nóng để phản ánh quy luật phát triển của sự vật. Nếu sự biến hóa này không bình thường cũng tức phản ứng khác thường của sự tiêu giảm hay tăng lên của âm dương.

6. Sự chuyển hóa của âm dương

Âm dương chuyển hóa tức là âm dương biến hóa, hai thuộc tính khác nhau của âm dương trong sự vật dưới một điều kiện nhất định sẽ chuyển hóa thành phía bên kia. "Hệ từ” nói: "Âm dương hợp đức, tức là cứng mềm hợp thành vật thể". Âm dương vừa đối lập lẫn nhau nhưng lại dựa vào nhau, chỉ có âm dương thống nhất lại mới có thể thúc đẩy sự vật biến hóa và phát triển, như thế âm dương mới cùng tồn tại lâu dài.

Tuy âm và dương có thuộc tính khác nhau, nhưng lại có thể chuyển hóa lẫn nhau. "Sinh sinh gọi là dịch", "Đạo có biến động nên gọi là hào". Dịch tức là âm dương cùng dịch, tức là âm đến cùng cực sinh dương, dương đến cùng cực sinh âm, cho nên từ âm biến thành dương, dương biến thành âm, hào đầu dương của càn ở dưới, hào sáu đầu của khôn là âm. Điều đó nói lên hai quả càn, khôn đại diện cho sự thống nhất của mâu thuẫn âm dương. Hào đầu của hai quả là sự kết hợp giữa âm dương, là sự bắt đầu âm dương chuyển hóa, tức là âm dương chuyển đổi lẫn nhau, là quy luật tất yếu của sự phát triển của vạn vật. Mọi vật thể chỉ cần phát triển thuận theo sự biến hóa của âm dương thì cuối cùng sẽ đạt được mục đích vạn vật chuyển hóa lẫn nhau.

II. HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH

Học thuyết ngũ hành cũng là tư tưởng sáng tạo độc đáo của nhân dân Trung Quốc. Tư tưởng triết học xán lạn của nó có tác dụng thúc đẩy vô cùng to lớn đối với sự phát triển sự nghiệp khoa học của Trung Quốc. Thực chất của học thuyết ngũ hành cho rằng, thế giới là do năm loại vật chất cơ bản: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ cấu tạo thành. Sự phát triển biến hóa của các sự vật và hiện tượng (bao gồm cả con người) trong thế giới tự nhiên đều là kết quả của 5 loại vật chất khác nhau này không ngừng vận động và tác dụng lẫn nhau tạo thành. Phát hiện nay đã tìm ra quy luật và nguyên nhân sự ra đời và huỷ diệt của vạn vật trong vũ trụ, cho nên học thuyết ngũ hành cũng là chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thô sơ. Học thuyết ngũ hành được dùng rất rộng rãi trong các lĩnh vực khoa học.

1. Khởi nguồn của học thuyết ngũ hành

Trong giới học thuật, sự ra đời của học thuyết ngũ hành vẫn là vấn đề chưa được làm sáng tỏ. Có ba loại ý kiến đối lập nhau rất rõ. Giới dịch học cho rằng, sự ra đời của học thuyết ngũ hành rất có thể cùng đồng thời với học thuyết âm dương. Nhưng với sử học lại có người cho rằng, người sáng tạo ra bọc thuyết ngũ hành là Mạnh Tử. Trong sách "Trung Quốc thông sử giản biên" Phạm Văn Lan có nói: "Mạnh Tử là người đầu tiên sáng tạo ra học thuyết ngũ hành. Trâu Diễn sau Mạnh Tử một ít đã mở rộng học thuyết ngũ hành và ông trở thành nhà âm dương ngũ hành".

Nói học thuyết ngũ hành do Mạnh Tử phát minh, thật ra không có chứng cứ gì xác đáng. Về điểm này, ngay Phạm Văn Lan cũng đã tự phủ nhận cách nói của mình. Trong cùng chương của cuốn sách đó, ông Phạm Văn Lan lại viết: "Mặc Tử không tin ngũ hành, bác bỏ thuật chiêm bốc, dùng năm sắc thanh long để định cát hung, đủ thấy rõ thời Đông Chu thuyết ngũ hành đã sớm được phổ biến, đặc biệt đến thời Trâu Diễn phát huy càng mạnh". Mạnh Tử là người nước Lỗ thời Chiến quốc, còn thời Đông Chu thì đã có học thuyết ngũ hành rồi, rõ ràng không phải là Mạnh Tử đã phát minh ra ngũ hành. Có sách sử nói học thuyết âm dương ngũ hành là do Đổng Trọng Thư đời Hán sáng lập, điều đó lại càng không đúng.

Giới triết học như Vu Bạch Tuệ, Vương Liêm lại cho rằng: "Ngũ hành được viết thành văn thấy trong sách: "Thượng thư của Hồng Phạm” (Tương truyền đó là sách ở những năm đầu thời Tây Chu. Theo nghiên cứu ngày nay thì có thể đó là tác phẩm thời Chiến quốc. Xem sách "Ảnh hưởng của học thuyết âm dương ngũ hành đối với khoa học truyền thống của Trung Quốc"). Qua đó có thể thấy vấn đề nguồn gốc của học thuyết ngũ hành vẫn còn chưa sáng tỏ.

2. Đặc tính của ngũ hành

Mộc có đặc tính mọc lên và phát triển; Hoả có đặc tính nóng, hướng lên trên; Thổ có đặc tính nuôi lớn, phát dục; Kim có đặc tính thanh tĩnh, thu sát; Thủy có đặc tính lạnh rét, hướng xuống dưới.

Học thuyết ngũ hành dùng phương pháp lấy hình tượng để so sánh phân loại, đem các sự vật hoặc hiện tượng cần giải thích chia ra một cách thô sơ thành 5 loại; đem các sự vật và hiện tượng có thuộc tính tương tự nhau quy thành một trong ngũ hành và trên cơ sở thuộc tính ngũ hành này, vận dụng quy luật ngũ hành để giải thích và nói rõ mối liên hệ và biến hóa giữa các sự vật và hiện tượng.

3. Ngũ hành sinh, khắc

Học thuyết ngũ hành cho rằng giữa các sự vật với nhau tồn tại mối liên hệ nhất định. Mối liên hệ này đã thúc đẩy sự vật phát triển và biến hóa. Giữa các ngũ hành tồn tại quy luật tương sinh, tương khắc, do đó sinh, khắc chính là quan điểm cơ bản của học thuyết ngũ hành dùng để khái quát và nói rõ mối quan hệ và sự phát triển giữa các sự vật.

Tương sinh có nghĩa là nuôi dưỡng, thúc đẩy, trợ giúp lẫn nhau; tương khắc có nghĩa là ràng buộc, khắc chế, khống chế lẫn nhau. Ngũ hành tương sinh là: Mộc sinh hoả, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thuỷ, thủy sinh mộc.

4. Ngũ hành sinh khắc và phản khắc

Trong ngũ hành sinh khắc, nếu ta chỉ biết thuần sinh và thuần khắc, mà không biết được sự phản sinh, phản khắc thì sẽ vận dụng không tốt lý luận ngũ hành sinh khắc để tiến hành dự đoán các thông tin về nhân thể. Trong ngũ hành sinh khắc, trong sách "Nguyên lý phú” của Từ Đại Thăng có nói: "Kim vượng mà được hoả sẽ thành vũ khí. Hoả vượng được thủy sẽ thành cứu nhau. Thuỷ vượng được mộc sẽ thành thông thương. Mộc vượng được kim sẽ thành trụ cột". Ở đây kim vượng được hoả, sẽ thành vũ khí", là nói nhật nguyên trong Tứ trụ lấy can ngày làm chủ. Can ngày là kim phải có hoả khắc kim để rèn luyện thì kim đó mới thành vũ khí. Can ngày vượng tướng, đắc thời, đắc địa mới có thể đảm nhiệm làm quan hoặc để khắc cái sát tôi. Nhật can vượng có thể thắng khắc, tức là nói tổ hợp Tứ trụ phải tốt thì lưu niên, đại vận mới có thể tốt được. Nếu nhật can yếu lại gặp sát thì Tứ trụ thiên về yếu, lưu niên đại vận tất nhiên sẽ xấu nhiều, tốt ít.

Phản sinh tức là khắc: "Kim dựa vào thổ sinh, nhưng thổ nhiều thì kim bị vùi lấp. Thổ dựa vào hoả sinh, nhưng hoả nhiều thì thổ thành than. Hoả dựa vào mộc sinh, nhưng mộc nhiều thì hỏa không bốc mạnh được. Mộc dựa vào thuỷ sinh, nhưng thuỷ nhiều thì mộc bị trôi dạt. Thủy dựa và kim sinh, nếu kim nhiều thì nước đục. Thổ là cái để sinh kim, nhưng thổ quá nhiều thì kim bị vùi lấp, làm cho kim mất đi tác dụng vốn có của nó. Ví dụ một người thân thể vốn rất khoẻ mạnh, lại ăn các chất bổ như sâm, kết quả không những không có tác dụng bồi bổ mà ngược lại vì bổ quá nhiều nên gây ra bệnh (ví dụ ra máu mũi). Như thế gọi là phản sinh là khắc.

Thổ sinh kim, thổ là ấn, ấn nhiều tất phải dùng tiền tài khống chế lại, nếu trong Tứ trụ không có tài thì phải tìm cách bổ cứu để cho không đến nỗi bị vùi lấp, ví dụ bổ cứu bằng cách trong tên gọi thêm một chữ nào đó có liên quan với chữ tài. Ví dụ khi trong Tứ trụ thổ quá nhiều, thổ là ấn, mộc là tài, mộc khắc thổ nhưng trong Tứ trụ không có mộc thì trong tên gọi phải thêm chữ dương để có chữ mộc bên cạnh, hoặc chữ lâm... Nếu không thì suốt đời không thuận, thậm chí giữa chừng chết yểu.

Xì hơi nhiều tức là khắc: "Kim có thể sinh thuỷ, thuỷ nhiều thì kim chìm xuống. Thủy có thể sinh mộc, mộc thịnh thì thuỷ co lại. Mộc có thể sinh hoả, hoả nhiều thì mộc bị đốt. Hoả có thể sinh thổ, thổ nhiều thì hoả âm ỉ. Thổ có thể sinh kim, kim nhiều thì thổ không còn đáng kể. Kim sinh thuỷ là cái tôi sinh ra, cái tôi sinh ra là thương, quan, thực, thân. Nếu sinh nhiều quá là con vượng mẹ suy, là thân thể bị mất khí nhiều quá, làm cho thân thể yếu đi. Như thế gọi là xì hơi nhiều là khắc. Ví dụ gặp "thủy nhiều kim sẽ chìm xuống", khi đó dụng thần và tuế vận lấy tỉ kiếp để giúp thân mới tốt, nếu lấy thổ để chế ngự thuỷ thì sẽ mất vẻ đẹp của thuỷ tinh. "Mộc thịnh thì thuỷ bị co lại", vì vậy khi mộc nhiều cần lấy kim trị mộc và còn lợi cho sinh thuỷ. "Hoả nhiều mộc bị thiêu", do đó hoả nhiều phải dùng thuỷ chế ngự, đồng thời lợi cho thuỷ sinh mộc, nếu dùng mộc ngang hoà (mộc của anh em) thì mộc đó sẽ sinh hoả làm tăng khí thế của hoả, hoả càng vượng. "Thổ nhiều thì hoả âm ỉ", cho nên thổ nhiều cần lấy mộc chế thổ vì còn có lợi cho sinh hoả, hoặc lấy kim xì hơi thổ làm dụng thần, chứ không được dùng hoả, vì hoả sinh thổ, thổ sẽ càng vượng. "Kim nhiều thì thổ không còn đáng kể", kim nhiều lấy thổ làm ngang hoà (anh em) để giúp thân là tốt, hoặc dùng hoả chế ngự kim để sinh thổ.

Phản khắc: trong ngũ hành sinh khắc không chỉ có khắc thuận như kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thuỷ, thuỷ khắc hoả, hoả khắc kim, vượng khắc suy, mạnh khắc yếu mà còn có phản khắc như: "kim vốn khắc mộc", nhưng nếu mộc cứng khắc lại thì kim phải mẻ. Mộc vốn là khắc thổ, nhưng khi thổ nặng chặt thì mộc bị thắt lại. Thổ vốn khắc thuỷ, nhưng khi thuỷ nhiều thì thổ bị trôi. Thủy vốn khắc hoả, nhưng khi hoả vượng thì thuỷ phải khô. Hoả vốn khắc kim, nhưng khi kim nhiều thì hoả phải tắt. Phản khắc ví như thân thể yếu nhưng của cải mạnh nên thân không giữ nổi của, kết quả là vì của hoặc phụ nữ mà bản thân bị tai họa. Trong Tứ trụ nếu gặp trường hợp đó, tốt nhất lấy tỷ kiếp giúp thân làm dụng thần để giải cứu.

Ngũ hành tương khắc là: Mộc khắc thổ, thổ khắc thuỷ, thuỷ khắc hoả, hoả khắc kim, kim khắc mộc.

Trong quan hệ tương sinh có hai mặt: sinh ra tôi và tôi sinh ra. Sinh ra tôi là phụ mẫu, tôi sinh ra là con, khắc tôi là quan quỷ, tôi khắc là thê tài, ngang hoà là anh em. Như can ngày sinh là canh kim, thổ sinh kim, nên thổ là phụ mẫu của kim; hoả khắc kim nên hoả là quan quỉ của kim, kim khắc mộc nên mộc là thê tài của kim, kim sinh thuỷ, nên thuỷ là tổ tôn của kim, kim và kim giống nhau nên là anh em; thê tài đối với nam giới mà nói vừa là tiền của, vừa là vợ; quan quỷ đối với nữ giới mà nói vừa là sao quan, vừa là chồng.

Tương sinh, tương khắc giống như âm dương, là hai mặt không thể tách rời nhau được của vạn vật. Không có sự sinh ra thì không có phát sinh và trưởng thành của vạn vật; không có sự khắc thì không thể duy trì sự cân bằng điều hoà trong quá trình phát triển và biến hóa của sự vật. Cho nên không có tương sinh thì không có tương khắc, hoặc ngược lại. Hiện tượng trong sinh có khắc, trong khắc có sinh này là mối quan hệ lợi dụng lẫn nhau, nó thúc đẩy duy trì sự sinh trưởng, phát triển và biến hoá bình thường của sự vật.

5. Ngũ hành quá dư thừa

Vật cực thịnh là thái quá, là can ngày vượng còn gặp phải tỉ kiếp trùng điệp. Phàm sự vật cực thịnh là dư thừa, mạnh mà yếu, đó gọi là thừa. Sự vật cực thịnh thái quá thường dễ gãy. Như ngọc cứng dễ vụn, thép cứng dễ gãy, nguyên lý là thế.