Chương 13 tổng kết

Chương 13 TỔ NGHIỆP CỦA ÔNG CHA

Tổ nghiệp phần nhiều là chỉ các tiêu chí thông tin thịnh suy của sản nghiệp ông cha. Một người có giàu sang hay không về nguyên tắc không liên quan với sự thịnh suy của sản nghiệp ông cha mà chủ yếu được quyết định bởi tổ hợp sắp xếp. Tứ trụ của mình và sự nỗ lực của mình nhiều hay ít.

Có người sản nghiệp ông cha hùng hậu, nhưng Tứ trụ của mình lại thân nhược không thể thắng tài cho nên không thừa kế nổi sản nghiệp của ông cha, thậm chí ngày càng nghèo đi. Cuối cùng sản nghiệp của ông cha bị tan nát vì tay mình, với người như thế không thể nói là có mệnh phú quý. Ngược lại, có những người đời ông cha nghèo khổ, nhưng tổ hợp sắp xếp Tứ trụ của người đó tốt, chẳng qua vì vận tốt chưa đến nên cuộc sống vẫn còn khó khăn, đến lúc vận tốt đến thì trở thành phố ông giàu có. Người có mệnh như thế gọi là mệnh phú quý. Điều này trong thực tiễn ta bắt gặp rất nhiều.

I. DỰ ĐOÁN VỀ SẢN NGHIỆP ÔNG CHA (1)

Trụ năm, trụ tháng đều có tài, quan, ấn là ba đời giàu sang.

Trụ năm, trụ tháng có tài, thực là tổ nghiệp hưng thịnh.

Trụ năm, có tài quan tương trợ lẫn nhau thì được hưởng hạnh phúc của ông cha.

Quan gặp vượng địa thì ông cha vinh hiển.

Quan, ấn của trụ năm, trụ tháng gặp vượng địa thì tổ nghiệp có gốc hùng hậu.

Trụ năm làm dụng thần thì được hưởng tài sản tổ nghiệp để lại.

Tài gặp vượng địa lại không bị phá hại thì nết nhà hưng thịnh. Ấn thụ không bị thương tổn, lại còn sinh cho thân thì nhà cửa sang quý.

Trụ năm gặp chính lộc, chính ấn, chính tài mà không bị phá hại thì được tiếng thơm của tổ nghiệp để lại.

Tài tàng, quan thấu thì nết nhà thịnh vượng.

Tài mệnh có khí là được hưởng của ông cha để lại.

Thân và tài đều vượng là suốt đời vui thú với ruộng vườn cha ông để lại. Bỗng nhiên hiển đạt thành công nhất định là nhờ hình xung mà gặp quý thần.

Can năm làm dụng thân là tốt, tức là được âm đức của cha ông để lại. Tài, thương, ấn trên trụ năm mà đắc địa hoặc gặp thiên ất quý nhân, hoặc thiên đức, nguyệt đức thì đời ông cha phú quý.

Can năm đóng ở đế vượng lại gặp quan là tổ tiên phú quý. Tài vượng sinh quan là tuổi còn trẻ mà đã thành nghiệp. Ngày thông với lệnh tháng là nhờ tổ tiên mà yên ổn.

Ví dụ 1. Cần tạo (nam).

Quan - Quan - Nhật nguyên - Thực

Mậu tí - Mậu Ngọ - Quý dậu - Giờ ất mão

Trụ năm, trụ tháng ở vượng địa nên gốc của tổ nghiệp hùng hậu.

Ví dụ 2. Khôn tạo (nữ).

Tài - Quan - Nhật nguyên - Kiêu

Quý tị - Giáp tí - Ất mậu - Giờ đinh mão

Mùa thu năm 1990 cô Trương nhờ tôi đoán hậu vận, tôi xem trong Tứ trụ thấy tài quan của năm và tháng đều ở vượng địa nên đoán: tổ nghiệp của cô là phú quý. Cô ta thừa nhận đời ông nội là nhà đại phú.

Ví dụ 3. Càn tạo (nam).

Sát - Tài - Nhật nguyên - Kiếp

Quý tị - Tân hợi - Bính tí - Giờ đinh dậu

Năm 1991 khi tôi đoán việc buôn bán cho ông Trương, căn cứ trong Tứ trụ thấy trụ năm tài ở cung trường sinh, lại sinh ra vượng quan nên nhất định là nhà đại phú và ông được hưởng sản nghiệp ông cha để lại. ông ấy trả lời là đúng.

Ví dụ 4. Càn tạo (nam).

Thực - tài - nhật nguyên - tài

Ất dậu - Đinh hợi - Quý mão - Gio bính thìn

Tháng 5 năm 1991, khi con hậu vận cho ông Vương, đầu tiên tôi nói: ông chủ của ông rất giàu, giật tư có hàng ức vạn. Ông ta nhận là đúng thể và bây giờ vẫn còn được hưởng hồng phúc đó. Ví dụ này ứng với câu: "Trên trụ năm, trụ tháng có tài, thực là tổ nghiệp ông cha hưng thịnh”.

Ví dụ 5. Càn tạo ( nam )

Tài - Kiêu - Nhật nguyên - Tài

Bính dần - Tân Mão - Quý mão - Giờ bính thìn

Tháng 5 năm 1991 ông Dương nhờ tôi đoán vận. Xem qua Tứ trụ tôi nói: bản thân ông không những là nhà tư bản lớn mà cha ông rất giàu. Ông nói: chính nhờ ông cha tôi giàu nên trước năm 1919 tôi đã ra Hồng Kông.

Ví dụ này chính ứng với câu: "Tàu gặp vương da thì nết nhà hưng thịnh" và câu: "Thân, tài đều vượng thì suốt thời vui thú ruộng vườn cha ông để lại".

II. DỰ ĐOÁN VỀ SẢN NGHIỆP ÔNG CHA (2)

Trong Tứ trụ ấn bị tổn thương là nhà cửa sa sút dần, rời xa quê hương. Nếu rơi vào đất tử tuyệt thì còn mất quan, mất chức.

Lệnh tháng bị xung khắc thì bại sản tổ nghiệp.

Năm tháng xung nhau thì khó giữ được tổ nghiệp.

Bị kình dương, thất sát cướp đoạt tài hoa quỷ (xấu) là nhà cửa sa sút, xa rời quê hương.

Ấn tinh bị thương thì làm hỏng tổ nghiệp, lìa bỏ quê hương. Trụ già gây tổn thương cho ngày và tháng thì gia tài tự phá.

Năm, tháng, ngày hợp với quý nhân hoặc trạch mã, hoặc ấn thụ và không bị khắc hại, hình, xung thì tổ nghiệp phú quý vinh hoa.

Trong Tứ trụ kho bị phá lại còn gặp xung phá thì nhà cửa sa sút dân. Thiên ấn gặp bình dương thì xa rời quê hương hoặc đi làm tăng đạo. Trên trụ năm gặp thất sát, kình dương, kiến tài, kiêu thân thì cha ông nghèo đói.

Trên trụ năm gặp tử, tuyệt, mộ địa hoặc bị hình, xung, khắc hại là ông cha phiêu bạt lênh đênh.

Thiên quan mà có chế ngự thì không phải là hung, có cơm ăn áo mặc đầy đủ.

Trong Tứ trụ gặp cả vong thần, thất sát là cha ông không để lại được gì.

Nếu trụ ngày và trụ giờ có thìn, tuất tương xung nhau thì xa rời quê hương là tốt.

Cách góc, tam hình là cốt nhục hình khác nhau, phải rời bỏ quê hương. Tài tinh bị phá cũng là rời bỏ quê hương.

Kiều thần đóng ở trụ năm là rời bỏ quê hương.

Trụ năm gặp bình dương là người phá tổ nghiệp. Lệnh tháng kiến lộc là khó giữ được tổ nghiệp. Chi tháng giống chi năm là không có tổ nghiệp.

Trụ ngày đi ngược với kiến lộc và trạch mã là phá tổ nghiệp, rời bỏ quê hương.

Trụ năm làm thương tổn quan thì đời cha tốt, đời ông kém. Trụ ngày hưu tù, tài quan vượng là nhà chồng vượng, nhưng nhà vợ mất tổ nghiệp.

Trên năm tháng không có tài quan, từ bé lại hành bại bận là phá nhà xa quê.

Trụ ngày vượng nhưng không có chỗ dựa là rời quê đi xa, nếu không dời chỗ ở luôn thì sẽ chết xa quê hương.

Hàm trì hợp với quan là nhà sa sút, người xa rời nhau. nhà tan, người mất. đói rách.

Thực thân gặp kiêu thần, gặp tài là Trong Tứ trụ gặp cả kiêu tiền, thực thân thì người đó nghèo xơ xác. Ấn thụ bị thương tổn thì khó giữ được tài sản của ông cha. Trụ năm là kị thần thì ông cha nghèo đói rách nát.

Trụ năm là thất sát, tỉ kiếp, thương quan là ông cha Can năm đóng ở tử tuyệt, mộ hoặc bị hình, xung khắc, là tổ tiên suy bại. Lộc bị xung phá là rời quê hương đi xa.

Thân vượng không có chỗ dựa, lại gặp trụ năm xung lệnh tháng là lập nghiệp xa quê hương.

Thân bị phá lại không có chỗ dựa, nếu không xa rời tổ nghiệp thì cũng là người phải đi xa.

Thân, tài đều nhược thì khó mà giữ được gia nghiệp,

Thổ khô, thuỷ cạn là người phá tổ nghiệp, rời xa quê hương.

Mộc nặng, thổ nhẹ là người suốt đời phiêu bạt.

Ngũ hành phản lại nhau là người tuy đang yên ổn nhưng cần để phòng nguy cơ. Sát nhiều là tuy đang yên nhưng phải phòng xa sự nguy hại. Ngày giờ mão dậu xung nhau là suốt đời dời chỗ ở. Âm dương xô lệch nhau là giao thiệp bạn bè ít. Mã rơi vào không vong là lưu lạc khắp nơi. Năm và tháng không có tài, quan, ngày giờ không có tài quan là tự mình phấn đấu làm nên cơ nghiệp. Trụ năm gặp trạch mã là ông cha đi buôn bán ở bên ngoài. Trụ tháng phá tài quan là ông cha nghèo không để lại gì, tay trắng dựng cơ đồ. Kiêu thân đóng ở ngôi tí là phá mộ tổ. Tứ trụ đều có kiêu, ấn là ông cha lênh đênh phiêu bạt. Tài tinh bị phá là lúc hết ruộng vườn, đi khỏi quê hương. Trụ năm có thất sát, tỉ kiếp là ông cha không có một tấc đất, xa rời quê hương. Trụ ngày xung khắc trụ năm là không dựa được cha ông. Tài phúc bị mất là khuynh gia bại sản. Trạch mà không hợp là rời bỏ quê hương.

Ví dụ 1. Cần tạo (nam). Thương - Quan - Nhật nguyên - Quan Quý dậu - Định tị - Canh thìn - Giờ đinh hợi

Người này họ Dương, trong Tứ trụ có tiêu chí phá tổ nghiệp, ứng với câu: "Trên trụ năm, thương quan, lại còn phục hình dương" dẫn đến.

Ví dụ 2. Khôn tạo (nữ)

Tài - Sát - Nhật nguyên - Tài Bính tí - Kí hợi - Quý hợi - Giờ bính thìn

Ví dụ này can năm ở đất tử, tuyệt nên ứng với câu: "Tổ nghiệp suy bại".

Vi dụ 3. Cân tạo. Tài

Tài - Ấn - Nhật nguyên - Tỉ

Bính tí - Canh tí - Quý mùi - Gio quý hợi

Ví dụ này chi tháng giống chi năm nên không có tổ nghiệp".

Ví dụ 4. Cần tạo

Kiếp - Kiếp - Nhật nguyên - Tài

Đinh sửu - Đinh mùi - Bính thân - Gio canh dần

Ví dụ này tổ nghiệp rất nghèo vì "trụ ngày, trụ giờ đều gặp tài, là tự mình thành gia lập nghiệp". Sau lúc đất nước mở cửa thì người ấy đã giàu vọt lên.

Ví dụ 5. Cần tạo (nam)

Kiêu - kiêu - Nhật nguyên - Kiêu

Kỉ sửu - Kỉ tị - Tân hợi - Gio Kỉ hợi

Tháng 4 năm 1991 khi tôi ở Singapo ông Lưu nhờ đoán vận. Tôi thấy trong Tứ trụ rất nhiều tiêu thân nên đoán ông là người "bỏ tổ nghiệp, rời quê hương". Ông ta nói: ông cha rất nghèo, tôi cũng rất nghèo nên đã đi làm thuê ở mấy nước.

Ví dụ 6. Cần tạo (nam)

Ấn - Kiêu - Nhật nguyên - Thương

Ất hợi - Giasp thân - Bính dần - Gio Kỉ sửu

Người này ở Thái Lan tuy không được xem là nhà tư bản lớn nhưng cũng là một phú ông, vì trong "Tứ trụ gặp cả kiêu và ấn" cho nên đời ông cha nghèo phiêu bạt sang Thái.