chương 11 Tổng kết

Chương 11 BÀN VỀ THỜI GIAN , CÁCH CỤC VÀ DỤNG THẦN

I. BÀN VỀ NĂM , THÁNG , NGÀY , GIỜ

Sự phát sinh , kết thúc , sinh trưởng và tiêu vong của mọi sự vật trên đời đều gắn liền với phạm trù thời gian . Do đó thời gian là số của mọi việc , mọi vật . Cũng tức là nói , bất cứ sự vật gì cũng có một số nhất định . Khái niệm thời gian là năm , tháng , ngày , giờ , phút , giây . Tứ trụ của người ta là do năm , tháng , ngày , giờ , tức số của bốn thời điểm đó làm nên . Cho nên dùng Tứ trụ để đoán về thông tin của người thì cần phải hiểu biết mối tương quan giữa trụ năm , trụ tháng , trụ ngày và trụ giờ .

1. Trụ năm

Trụ năm trong Tứ trụ ví như gốc cây . Cách nhìn đối với trụ năm của người xưa không giống nhau . Cách nhìn thứ nhất cho rằng : năm là mệnh , là căn bản , nhấn mạnh nằm trong Tứ trụ là vô cùng quan trọng . Một cách nhìn khác cho rằng năm tốt , không bằng tháng tốt , tháng tốt không bằng ngày tốt , ngày tốt không bằng giờ tốt , tức cho rằng năm không quan trọng , giờ mới quan trọng .

Sự tốt xấu của mệnh người cần phải có sự cân bằng giữa sinh , vượng , Buy , nhược và tổ hợp sắp xếp trong Tứ trụ . Năm trong Tứ trụ là rường cột đứng đầu , không thể xem nhẹ tính quan trọng của nó . Cho nên cách nhìn thứ hai là phiến diện .

Năm là thái tuế , là hoạ phúc một đời của người đó . Năm là gốc của cây , là nền móng của nhà , là nguồn gốc của mệnh . Gốc khô thì cây chết , rễ sâu thì cành lá xum xuê ; nền yếu thì nhà đổ , nền chắc thì nhà vững chãi ; nguồn hết thì mệnh hết , nguồn dồi dào thì mệnh mạnh mẽ . Do đó trong Tứ trụ năm là gốc , tháng là cành , ngày là hoa , giờ là quả .

Trụ năm là do một thiên can và một địa chỉ hợp thành . Nó vượng hay yếu , tốt hay xấu thứ nhất là lấy lệnh tháng để đo lường ; thứ hai là xem quan hệ sinh khắc lẫn nhau giữa can và chi năm ; thứ ba là dựa vào sự sinh khắc chế hóa của tháng , ngày , giờ đối với năm để quyết định .

Can , chi của năm tương sinh hoặc ngang hoà là tốt , nếu được tháng , ngày , giờ đến sinh thì càng tuyệt diệu . Như thế gọi là dưới sinh cho trên , là làm cho con chỉ nắm thêm bền gốc rễ , làm chủ cho sự hưng vượng cả cuộc đời . Tổ tiên có phúc đức , được hưởng nhiều âm phúc của tổ tiên , con cháu hiếu thuận , cha mẹ mạnh khoẻ sống lâu , bản thân người đó có năng lực và hiển đạt . Nếu năm sinh lợi cho tháng , ngày , giờ thì đó là sự dò rỉ tổn thất nguyên khí , làm cho gốc yếu đi , tổ nghiệp sa sút , bất lợi cho cha mẹ . Nếu là tháng , ngày , giờ hình xung , phá hại năm thì không những tổ nghiệp sa sút , bất lợi cho lục thân hoặc mất cha , chết mẹ , bản thân người đó cũng suốt đời khó khăn , mọi việc không thành và không thọ .

Nếu can chi của năm tương khắc lẫn nhau thì bất lợi cho cha mẹ , đại loại như : nhâm ngọ , giáp thân . Can khắc chi thì không lợi cho khắc cạn thì không lợi cho cha . Nếu trong Tứ trụ không có gì chế ngự hoặc giải cứu sự xung khắc đó , thì làm cho lực khắc càng mạnh , cha mẹ chia lìa , hoặc trong hai người chết một .

Người mà can , chi nằm ngang hoà nhau cùng khí thì phần nhiều cha mẹ bất hoà , đại loại như mậu thìn , nhâm tý . Việc nhà sóng gió , gia nghiệp khó khăn . Người mà can chi năm tượng sinh cho nhau thì cha mẹ hoà thuận , gia đình êm ấm , thịnh vượng .

2. Trụ tháng

Trụ tháng trong Tứ trụ ví như thân cây , thân mạnh khoẻ to lớn thì cành lá xum xuê

Trụ tháng là do can và chi của tháng hợp thành . Chị tháng tức là lệnh tháng . Lệnh tháng là tiêu chuẩn duy nhất đo lường sự vượng suy của can chi năm , ngày , giờ và tài , quan , ấn , sát , thương , kiêu , thực , tỉ , kiếp . Nó có thể trợ giúp cho cái yếu hoặc khống chế cái mạnh , là cương lĩnh của tháng , chủ tể quyển sinh sát của một tháng . Cho nên bàn về Tứ trụ , cách cục trước hết phải lấy lệnh tháng , sau đó mới xem nhật nguyên .

Lệnh tháng còn dùng để lấy cách cục . Chi của lệnh tháng đều có chứa một can , hai can hoặc ba can . Ví dụ can ngày là giáp sinh tháng dần đầu tiên phải bàn về giáp mộc , sau nữa mới xem bính hỏa , mậu thổ . Nếu

dần bị xung khắc , phá hại , giáp mộc vô khí thì lấy bính mậu , hoặc giả dẫn mộc không bị thương tổn , trong hai chị bính , mậu có một chi lộ rõ can thành hình tượng cụ thể , thì có thể lấy nó làm dụng thần . Lại ví dụ như dân mộc không bị thương tổn , cả ba giáp bính mậu đều lộ rõ thiên can hoặc chỉ lộ rõ hai thiên can thì chọn cái sinh vượng hoặc cái mạnh hơn làm dụng thần . Tháng chủ về anh chị em ( có sách cổ nói tháng chủ về cha mẹ ) . Nếu can chi của tháng tương sinh cho nhau , hoặc can của tháng gặp vượng địa lại được những trụ khác ( năm , ngày , giờ ) đến sinh trợ , không bị xung khắc phá hại thì đó là tượng anh chị em hoà thuận . Nếu can tháng bị khắc , hoặc can chi của tháng xung khắc nhau thì đó là tượng anh chị em không nương tựa vào nhau , hoặc bất hoà , hoặc mỗi người đi một ngả .

Tháng là vận nguyên , là vận bắt đầu từ tháng đó . Do đó vận nguyên có thể bổ sung cho những điều còn khiếm khuyết trong Tứ trụ , hoặc có thể sinh thần phúc của Tứ trụ , khắc hung thần của Tứ trụ , cũng có thể trợ giúp hung thần của Tứ trụ . Cho nên tháng có quan hệ mật thiết với mệnh suốt cả đời người .

Trong suốt cuộc đời , bất kể là nam nữ , vận thuận hay ngược , thời kỳ từ 50 tuổi đến 69 tuổi đều xảy ra vận của tháng sinh xung khắc với 10 năm trong giai đoạn ấy , cho nên trong thời gian đó nói chung là xảy ra nhiều việc và phức tạp , biến động nhiều . Người mà mệnh cục mạnh , nhật nguyên vượng thì xảy ra ít việc hoặc vô sự hoặc gặp điều tốt . Người mà mệnh cục yếu , nhật suy thì gặp nhiều việc có hại hoặc thân nhân chia lìa .

3. Trụ ngày

Trụ ngày trong Tứ trụ như hoa của cây . Nhật trụ thịnh vượng thì hoa nhiều như gấm , nhật nguyên suy nhược thì hoa ít lại không có màu

Lý Hư Trung đời Đường phát minh ra dùng thiên can địa chỉ để cắp xếp Tứ trụ và lấy can ngày làm chủ để dự đoán cát hung cuộc đời . Đến đời Tống , Từ Tử Bình lại phát minh ra trụ giờ . Đến đó thì bao gồm cả bốn trụ , dùng mãi cho đến nay . Nhất là chủ của cả đời người , là mảnh đất cát hung phúc hoạ của cả cuộc đời . Do đó sự : sinh , vượng , hưu , tù , suy , nhược của nhật chủ quan hệ đến vận mệnh tiển đồ suốt cả cuộc đời ,

Nhật chủ sinh , vượng , giống như thân thể người ta cường tráng thì có thể thắng của cải , đề kháng sự sát hại , bảo vệ được lục thân , thông minh , tháo vát , nuôi dưỡng được gia đình , gặp việc phân nhiều biến hung thành cát . Nếu nhật chủ suy nhược , hưu tù thì giống như người yếu , bệnh nhiều , tinh thần bạc nhược , không thể lấy thân che của , chắc chắn là xấu nhiều , tốt ít , việc gì cũng không thành . Tóm lại nhật nguyên trung hòa là quý , nhiều thì tốt , ít thì xấu . Nhật nguyên vượng quá hoặc yếu quá tất sẽ xấu nhiều hơn .

Can ngày là mình , chỉ ngày là vợ ( hoặc chồng ) . Can chi cùng sinh cho nhau thì vợ chồng hoà thuận . Can được chỉ sinh là nam lấy được vợ hiền giúp đỡ , nữ được chồng tốt giúp sức . Chỉ được can sinh , là nam yêu vợ , nữ giúp chồng . Can chi của ngày mà tương xung , tương khắc thì có nguy cơ vợ chồng xa nhau . Nam khắc nữ là không lấy được vợ sớm , nữ khắc nam là không lấy được chồng sớm , tức là tượng hôn nhân muộn . Nếu can chỉ tương khắc nặng thì không ly hôn cũng chết một trong hai. Can chỉ ngũ hành giống nhau là tượng bất hoà .

Can ngày còn phân ra cường vượng hay suy nhược .

Can ngày cường vượng: Tức là can ngày được lệnh , đắc địa , dược sinh , được trợ giúp . Can ngày vượng nhờ chi tháng là được lệnh . Can ngày được các chỉ của năm , tháng , giờ đến sinh là được lộc , nếu gặp mộ kho ( can dư ng gặp kho là có gốc , can âm thì không ) là đắc địa . Can ngày được ấn thụ đến sinh là được sinh . Can ngày gặp tỉ , kiếp là được trợ giúp .

Can ngày suy nhược : Tức là can ngày mất lệnh , không đắc địa . không có trợ giúp , không được sinh là suy và nhược . Nếu nó còn bị hình xung khắc phá thì càng yếu thêm . Can ngày hưu tù ở chi tháng là mất lệnh . Can ngày hưu tù ở các chi của năm , ngày , giờ là không đắc địa Can ngày không gặp ấn thụ là không được sinh . Can ngày suy nhược lại quan sát nặng quá , là can ngày bị khác vô sinh . Thực thương nhiều quá thì can ngày hao tổn cũng gọi là suy nhược . không có ti , kiếp , củng lộc , bình dương gọi là không được trợ giúp .

3. Trụ ngày

Trụ ngày trong Tứ trụ như hoa của cây . Nhật trụ thịnh vượng thì hoa nhiều như gấm , nhật nguyên suy nhược thì hoa ít lại không có màu

Lý Hư Trung đời Đường phát minh ra dùng thiên can địa chỉ để cắp xếp Tứ trụ và lấy can ngày làm chủ để dự đoán cát hung cuộc đời . Đến đời Tống , Từ Tử Bình lại phát minh ra trụ giờ . Đến đó thì bao gồm cả bốn trụ , dùng mãi cho đến nay . Nhất là chủ của cả đời người , là mảnh đất cát hung phúc hoạ của cả cuộc đời . Do đó sự : sinh , vượng , hưu , tù , suy , nhược của nhật chủ quan hệ đến vận mệnh tiển đồ suốt cả cuộc đời ,

Nhật chủ sinh , vượng , giống như thân thể người ta cường tráng thì có thể thắng của cải , đề kháng sự sát hại , bảo vệ được lục thân , thông minh , tháo vát , nuôi dưỡng được gia đình , gặp việc phân nhiều biến hung thành cát . Nếu nhật chủ suy nhược , hưu tù thì giống như người yếu , bệnh nhiều , tinh thần bạc nhược , không thể lấy thân che của , chắc chắn là xấu nhiều , tốt ít , việc gì cũng không thành . Tóm lại nhật nguyên trung hòa là quý , nhiều thì tốt , ít thì xấu . Nhật nguyên vượng quá hoặc yếu quá tất sẽ xấu nhiều hơn .

Can ngày là mình , chỉ ngày là vợ ( hoặc chồng ) . Can chi cùng sinh cho nhau thì vợ chồng hoà thuận . Can được chỉ sinh là nam lấy được vợ hiền giúp đỡ , nữ được chồng tốt giúp sức . Chỉ được can sinh , là nam yêu vợ , nữ giúp chồng . Can chi của ngày mà tương xung , tương khắc thì có nguy cơ vợ chồng xa nhau . Nam khắc nữ là không lấy được vợ sớm , nữ khắc nam là không lấy được chồng sớm , tức là tượng hôn nhân muộn . Nếu can chỉ tương khắc nặng thì không ly hôn cũng chết một trong hai. Can chỉ ngũ hành giống nhau là tượng bất hoà .

Can ngày còn phân ra cường vượng hay suy nhược .

Can ngày cường vượng: Tức là can ngày được lệnh , đắc địa , dược sinh , được trợ giúp . Can ngày vượng nhờ chi tháng là được lệnh . Can ngày được các chỉ của năm , tháng , giờ đến sinh là được lộc , nếu gặp mộ kho ( can dư ng gặp kho là có gốc , can âm thì không ) là đắc địa . Can ngày được ấn thụ đến sinh là được sinh . Can ngày gặp tỉ , kiếp là được trợ giúp .

Can ngày suy nhược : Tức là can ngày mất lệnh , không đắc địa . không có trợ giúp , không được sinh là suy và nhược . Nếu nó còn bị hình xung khắc phá thì càng yếu thêm . Can ngày hưu tù ở chi tháng là mất lệnh . Can ngày hưu tù ở các chi của năm , ngày , giờ là không đắc địa Can ngày không gặp ấn thụ là không được sinh . Can ngày suy nhược lại quan sát nặng quá , là can ngày bị khác vô sinh . Thực thương nhiều quá thì can ngày hao tổn cũng gọi là suy nhược . không có ti , kiếp , củng lộc , bình dương gọi là không được trợ giúp .

4. Trụ giờ

Trụ giờ trong Tứ trụ ví như quả . Trụ giờ mạnh là quá nhiều chồng chất , vừa ngon vừa đẹp . Trụ giờ suy nhược là quả kém , thậm chí có hoa mà không có quả .

Trụ giờ là cung của con cái , nó không những chủ về vượng suy của con cái mà còn phù trợ cho mình , là quan tả hữu của ngày . Cho nên xưa có câu : " Ngày là hội của tam vương , là tượng của đế vương , giờ là cận thần .

là chỗ dựa của vua Ngày và giờ là cô đủ vua Lôi , là trời đất hợp đúc " . Qua đó ta có thể thấy tác dụng của giờ trong Tứ trụ cũng rất quan trọng ,

Giờ không những có quan hệ mật thiết với các trụ của năm , tháng , ngày mà còn là chỗ thâu tóm của Tứ trụ hoặc cách cục . Giờ nên mình vượng , kiêng suy tuyệt . Phàm trong cách cực trên trụ giờ có hỉ thần thi đã sinh vượng lại còn thêm tốt , nếu gặp suy tuyệt thì không tốt . Trong cách cục nếu trụ giờ gặp kị thần sinh vượng thì lại càng xấu , nếu suy tuyệt thì lại không xấu ,

Giờ là quan tả hữu của ngày . Ngày là vua , giờ là thần . Ngày giờ tương sinh , tương hợp là vua tôi hòa hợp . Giờ bổ trợ cho ngày ở chỗ : thứ nhất có thể sinh trợ cho ngày thứ hai có thể trợ giúp hỉ thân hay dung thần trong cách cục thứ ba có thể chế ngự kị thần trong cách cục , nếu không thì không làm tròn vai trò hỗ trợ ,

Trụ giờ sinh vượng là chủ về con cái thịnh vượng , thân thể khoẻ mạnh , đẹp đẽ thông minh , tiền đồ rộng mở . Trụ già hưu tù tử tuyệt thì con cái tai nạn nhiều , hoặc chết yểu . Trụ giờ sinh phù trụ ngày thì con nhiều mà trung hiếu , về già được nhờ , bình yên êm ấm . Nếu trụ giờ xung trụ ngày thì con nhiều nhưng bất hiếu , về già cô độc , tinh thần bạc bẽo .

II . TÍNH ĐIỂM ĐỂ ĐO ĐỘ VƯỢNG SUY CỦA NHẬT CHỦ

Xưa nay , mệnh lý học Tứ trụ đều lấy nhật chủ ( còn gọi là nhật can , thân chủ , mệnh chủ , nhật nguyên thân , nguyên thần ) làm chủ . Nhật chủ mạnh hay yếu là lấy nhật chủ trong mệnh cục tổ hợp với sinh khắc chế hóa của các ngũ hành trong Tứ trụ để suy luận ra cát hung họa phúc của cuộc đời . Nói chui tổ hợp của mệnh cục trung hòa là quý . Nếu nhật chủ mạnh quá hoặc yếu quá đều là xấu ( trừ phi mệnh cục đó được xếp vào cách cục đặc biệt , sẽ bàn sau ) .

Mệnh cục trung hòa là chủ về một đời phú quý , thân thể khoẻ mạnh , gia đình hòa thuận , cho dù hành đến vận , năm , tháng nào cũng dểu không gặp những biến đổi to lớn . Mệnh cục mạnh quá hay yếu quá thì khó tránh khỏi phong ba gập ghềnh . Khi gặp được dại vận hay lưu niên tốt thì cuộc sống hanh thông , thuận lợi , công việc dễ thành công . Nhưng khi hành đến vận đấu hay năm xấu thì khó tránh khỏi cảnh nhà đột lại mưa lâu , tiêu điều khốn quẫn , vất vả trăm dường

Phán đoán sự mạnh yếu của nhật chủ là rất quan trọng . Nói chung các nhà mệnh lý học , có người tuy đã học hàng chục năm nhưng cũng rất khó khăn khi phán đoán nhật chủ mạnh yếu đến mức nào . Như thế đương nhiên càng không thể dự đoán chính xác mệnh vận cho người khác được . Vì vậy để giúp độc giả có thể tính toán chính xác , dưới đây sẽ giới thiệu chi tiết cách tính đó . Tuy có phức tạp một chút nhưng sau khi nghiên cứu tỉ mỉ , độc giả sẽ lượng hoá được vấn đề , bởi vì có tính toán chính xác sự mạnh yếu của nhật chủ thì mới có cơ sở để dự đoán đúng phúc hoạ cho cuộc đời .

Sự biến đổi độ vượng của các ngũ hành trong Tứ trụ được quyết định bởi : chỗ dựa , vị trí đóng , sự trợ giúp , khắc , xì hơi giữa các can chi . Sự tương hợp , tương khắc giữa các con khi có sự tương hợp , tương xung , tượng hình giữa các chi với nhau .

A. ĐỘ VƯỢNG CỦA NGŨ HÀNH CÁC THIÊN CAN

Trời có 360 độ , tức là một vòng tròn có 360 độ . Mười thiên can chia thành âm dương ngũ hành phân bố khắp trong không gian . Vì vậy lấy 360 độ chia cho mười can , mỗi can được 36 độ . Song trong Tứ trụ vì giữa các can chi chịu ảnh hưởng lẫn nhau , như xung , hợp , khắc , hoặc vì hư phù mà làm tăng hay giảm độ vượng suy của nhau . Vì vậy muốn tính chính xác độ mạnh yếu của thiên can thì phải dựa vào các căn cứ dưới đây :

1 ) Tra xem thiên can đó có chỗ dựa không . Nếu có chỗ dựa thì lấy 36 độ để tính , nếu không có chỗ dựa thì được xem là hư phù , giảm đi 3/4 tức còn 9 độ .

2 ) Tra xem thì II can đó có ngũ hợp không . Nếu có ngũ hợp thì mỗi can bị giảm mất 1/6 tức mỗi can còn lại 30 độ . Nếu hợp mà không hóa ( sẽ giải thích sau ) thì vẫn giữ nguyên 36 độ . Nếu hợp mà thành hóa thì tính theo ngũ hành mà nó hóa thành .

3 ) Lại tra xem can dó có bị khác hay không . Khác gần thì bị giảm mất 1/3 tức là 12 độ , còn 24 độ . Khắc cách ngôi thì giảm mất 1/6 tức còn 30 độ . Khắc xa thì không giảm . Khắc kẹp giữa thì can bị khắc giảm 2/3 tức giảm mất 24 độ , còn 12 độ .

4 ) Lại tra xem ảnh hưởng của địa chỉ đóng cùng trụ đối với thiên can ra sao ,

1. Tra điều kiện chỗ dựa của thiên can

1 ) Đầu tiên ghi các nhân nguyên tàng trong địa chi của cả bốn trụ

Nếu bốn địa chỉ không bị hợp hóa , hoặc lục xung , nếu trong nhân nguyên có ngũ hành cùng loại với thiên can đó hoặc sinh trợ cho thiên can đó thì thiên can ấy được xem là có chỗ dựa , nếu không thì được xem là hư phù .

Ví dụ 1.

Sinh năm kỷ mão ( chỉ mão tàng can ất mộc ) .

Tháng đinh mão ( ất mộc ) .

Ngày nhâm dần ( giáp mộc , bính hoả , mậu thổ ) .

Giờ định mùi ( kỷ thổ , định hoả , ất mộc ) .

Trước hết xét can kỷ thuộc thổ nhân nguyên tàng trong địa chỉ có bính , định hoả sinh cho , có ' thổ và tuất thổ trợ giúp , nên , cỷ thổ có chỗ dựa .

Xét đinh thuộc hoả . Nhân nguyên tàng trong địa chỉ có giáp , ất mộc sinh cho ; có tính , đinh hoả trợ giúp . Nên định hoả có chỗ dựa .

Xét nhâm thuộc thuỷ . Nhân nguyên tàng trong địa chỉ không có kim sinh cho , cũng không gặp thuỷ trợ giúp nên nhàm hư phù .

Ví dụ 2.

Sinh năm nhâm ngọ ( ngọ tàng can đinh hỏa , kỷ thổ ) .

Tháng giáp thìn ( thần tàng : mậu thổ , ất mộc , quí thuỷ )

Ngày mậu tuất ( tuất tàng : mậu thổ , tân kim , định hoả )

Giờ tận dậu ( dậu tàng : tân kim )

Đầu tiên xét can nhâm thuộc thuỷ . Nhân nguyên tàng trong địa chỉ có tân kim sinh cho có quý thủy trợ giúp Nên nhâm có chỗ dựa .

Xét giáp thuộc mộc . Nhân nguyên tàng trong địa chi có quý thuỷ sinh cho . Nên giáp có chỗ dựa .

Xét mậu thuộc thổ . Nhân nguyên tàng trong địa chỉ có mậu , kỉ thổ trợ giúp , có định hoả sinh cho nên mậu có chỗ dựa .

Xét tân thuộc kim . Nhân nguyên tàng trong địa chỉ có mậu , kỉ thổ sinh cho , có tân kim trợ giúp nên tân có chỗ dựa .

2 ) Khi địa chi gặp hợp hóa

Tra xem hợp hóa thành " thần " gì và các nhân nguyên tàng trong các địa chỉ khác có bị hợp hoặc xung không , ngũ hành có cùng loại với các thiên can khác hoặc sinh phù cho ngũ hành của thiên can đó không về vấn đề hợp hóa xin xem mục lục hợp thành hóa các địa chỉ của chương này ) .

image

Dần mão thìn tam hội , có giáp , ất , mộc dẫn xuất hóa thành mộc , ngoài mộc ra thì các bản khí và các tạp khí khác đều tan mất .

Tân , canh thuộc kim , các địa chỉ và các nhân nguyên không thấy có thổ hoặc kim . Nên tân và canh là hư phù .

Giáp , ất thuộc mộc . Địa chi tam hội hóa mộc . Trong hội còn tàng nhâm thuỷ , giáp mộc . Nên giáp , ất mộc có chỗ dựa .

image

Các địa chi dần , ngọ , tuất tam hợp hóa hoả ( có bính hoả dẫn xuất hoá hoả ) .

Xét bính thuộc hoả . Có dần ngọ tuất tam hợp hóa hoả , trong tị còn có bính hỏa nên tính có chỗ dựa

Quý thuộc thuỷ . Trong tị có kim sinh thuỷ , nên quý có chỗ dựa .

Giáp thuộc mộc . Trong các địa chi không có thuỷ mộc sinh trợ , nên giáp hư phù .

image

Các địa chi mão , tuất lục hợp thành hoả cục ( có bính , định hoả dẫn xuất hoá hoả ) .

Giáp thuộc mộc . Trong các địa chỉ hoặc nhân nguyên không có thuỷ , mộc , nên giáp là hư phù .

Bính , đinh thuộc hỏa . Trong các địa chỉ và nhân nguyên có lục hợp hóa hỏa , nên bình và định có chỗ dựa .

Mậu thuộc thể . Trong các địa chỉ và nhân nguyên có hỏa , thổ . Nên mậu có chỗ dựa .

3 ) Khi giữa các địa chi hợp mà không hóa thì giữ nguyên bản khí , hay gọi là khử bì

image

Dần ngọ tuất tam hợp không hóa , vì thiên can không có hỏa dẫn hóa ( hợp mà không hóa thì vẫn giữ nguyên bản khí ) .

Ất thuộc mộc . Trong nhân nguyên có giáp , ất mộc , nên ất có chỗ dựa .

Mộc thuộc thể . Trong nhân nguyên có mộc thổ , nên mậu có chỗ dựa . Nhâm thuộc thủy . Trong nhân nguyên địa chỉ không có kim sinh thủy , nên nhầm hư phì .

Canh thuộc kim . Trong nhân nguyên địa chỉ có mậu thổ sinh kim , nên canh có chỗ dựa .

image

Dần mão thìn tam hội không hóa vì thiên can không có mộc ( Hội mà không hóa thì giữ nguyên bản khí )

Canh thuộc kim . Trong nhân nguyên địa chỉ có mậu thổ sinh kim nên canh có chỗ dựa

Kỷ thuộc thể . Trong nhân nguyên địa chỉ có mậu thổ , nên kỷ có chỗ dựa

Bính thuộc hỏa . Trong nhân nguyên địa chỉ có giáp mộc sinh hỏa , nên bính có chỗ dựa

Vi du 3 :

image

Mão thất lục hợp không hóa thì giữ nguyên bản khí .

Tân thuộc kim . Có nhân nguyên mẫu , kỷ thổ sinh kim , nên tận có chỗ dựa .

Mậu , kỷ thuộc thổ . Có nhân nguyên vậu , kỷ thổ sinh cho , nên mậu , kỷ có chỗ dựa .

Quý thuộc thủy . Bản khí dia chi không có kim , thủy , nên quý hổ phù

4 ) Vi xung mà tan mất tạp khí

image

Ti ngọ dội xung làm tan tạp khí .

Hợi mão bán tam hợp hóa mộc ( có giáp dẫn xuất hóa mộc ) .

Giáp thuộc mộc . Có hợi mão bán tam hợp hóa mộc nên giáp có chỗ dựa

Canh , tân thuộc kim . Trong nhân nguyên địa chỉ không có thổ , kim , nên canh tân hư phù .

Đinh thuộc hỏa . Có hợi mão bán tam hợp hóa mộc sinh hỏa , lại còn có bản khí của can định hỏa nên định có chỗ dựa .

2. Thiên can ngũ hợp

Điều kiện của thiên can ngũ hợp là hai con phải kể nhau , không được có can khác chen vào giữa .

Thiên can ngũ hợp thành hóa : có thành hóa hay không là căn cứ vào các điều kiện sau :

1 ) Ngũ hành của " hóa thân " phải cùng loại với ngũ hành của lệnh thảng ( chi tháng ) , hoặc cùng loại với ngũ hành của một trong những nhân nguyên tàng trong chi tháng . Nếu không phù hợp điều kiện trên thì cho dù từng cặp thiên can ngũ hợp cùng với ngũ hành của các địa chỉ khác cũng chỉ là hợp mà không hóa ,

2 ) Ngũ hành của địa chi ( có hai can ngu hợp ) nếu cùng loại với hóa thân của ngũ hợp thiên can thì chỉ cần hóa thần đó nắm lệnh là ngũ hợp đó được xem như thành hóa .

3 ) Ngũ hành của địa chỉ ( có hai can ngu hợp đóng ) nếu sinh phù cho hóa thân của ngũ hợp thiên can thì chỉ cần hóa thần đó nắm lệnh là ngũ hợp được xem như có thành hóa .

4 ) Khi địa chi ( có hai thiên can ngũ hợp đóng ) hợp hóa với nhau , nếu hóa thân của hợp hóa đó cùng loại với ngũ hành của hợp hóa thiên can ngũ hợp thì chỉ cần hóa thân của ngũ hợp nắm lệnh là được xem như có thành hóa .

Ví dụ .

image

Hai can mậu quí ngũ hợp hóa hỏa . Ngọ , dần là hai chỉ có hai can đó đóng . Ba chị ngọ , dần , tuất cùng tam hợp hóa hỏa . Như vậy hóa thần đều là hỏa ( tức cùng loại ngũ hành ) , do đó ngũ hợp của mậu và quý được xem là có thành hóa .

5 ) Khi ngũ hành can âm cùng loại với ngũ hành năm lệnh , các địa chi cùng trụ với thiên can có ngũ hành cùng loại với can âm hoặc sinh phù cho ngũ hành can âm thì gọi là " phu tòng thể hóa " ( chồng hóa theo vợ ) .

Ví dụ .

image

Ất thuộc âm mộc , mão cũng thuộc mộc , có thể tương trợ nhau . Tí thuộc thủy có thể sinh mộc . Mão nắm lệnh của ất mộc . Vì tí thủy sinh phù cho ất mộc nên ất , canh ở đây được xem là hợp hóa thành mộc ( tức phụ tùng thể hóa ) .

6) Khi ngũ hành can dương cùng loại với ngũ hành nắm lệnh địa chi cùng trụ với thiên can có ngũ hành cùng loại hoặc sinh phù cho can dương thì gọi là thrr tòng phu hoá tức vợ hoá theo chồng

Ví dụ

image

Bính thuộc dương hoả , tị , ngọ cũng thuộc hoả có thể tương trợ nhau , hơn nữa tị hoả nắm lệnh , như vậy bính và tân được gọi là " thê tòng phu hóa " hoả .

7 ) Sự thành hóa của ngũ hợp chia làm ba loại : Hai can mỗi can 36 cộng lại thành 72 độ , giảm đi 1/6 còn lại 60 độ . Sự thành hoá âm dương của nó được xác định bởi âm dương của bản khí chi tháng .

a . Ngũ hợp thành hóa

Giáp kỉ hoá thổ 60 độ .

Ất canh hóa kim 60 độ

Bính tân hoá thuỷ 60 độ .

Định nhâm hóa mộc 60 độ

Mậu quý hóa hoả 60 độ .

b Thế tòng phù hóa .

Giáp kỉ hóa mộc 60 độ ,

Ất canh hoá kim 60 độ

Bính tân hóa hoả 60 độ .

Định nhâm hóa thuỷ 60 độ

Mậu quý hoá thổ 60 độ .

c . Phụ tùng thể hóa

Giáp kỉ hóa thổ 60 độ .

Ất canh hoa mộc 60 độ

Bính tân hóa kim 60 độ .

Đình nhâm hóa hỏa 60 độ

Mậu quý hoá thuỷ 60 độ .

Mệnh nam có ngũ hợp " phu tòng thể hóa " thì vợ quyền cao , nể vợ Ngũ hợp chính hóa thì tính tình cương trực , không theo đuổi vợ . " Thế tòng phu hóa " là người có chính kiến , được sự giúp đỡ

8 ) Khi điều kiện dẫn hóa đầy đủ thì cả bốn trụ năm tháng ngày đinh hợi . giờ đều có thể đồng thời hợp hóa thành " thiên can hợp uyên ương

Ví dụ .

Sinh năm - đinh hợi

Tháng - nhâm dần

Ngày - quý mão

Gio - mậu ngọ

Quý nhâm được hợi thủy sinh phù , dân ( mộc ) nắm lệnh cũng được sinh phù nên thành hóa ) .

Thiên can hợp mà không hóa được xem là khắc gần , can bị khắc tổn hao mất 1/3 tức chỉ còn 24 độ , can khắc không bị hao tổn .

Ví dụ 1 .

image

Giáp kỉ hợp mà không hóa , vì giáp ( mộc ) khắc kỉ ( thô ) giáp không bị hao tổn , con kỷ chỉ còn 24 độ

Hai can ngũ hợp nếu có can hư phu vẫn được xem là hợp , không tính hư phù . Nếu hai can đều hư phù thì không xem là hợp mà xem là hư phù , tức mỗi can còn 9 độ ( can hư phù không khắc ) .

Hai can kề nhau thành ngũ hợp , trong đó có một con lại có can bên cạnh đến hợp tức là hai can tranh hợp một can , như thể gọi là " thiên can tranh hợp " . Tranh hợp thì không thành hóa được , cả ba can mỗi can tổn hao 1/3 tức mất 12 độ , chỉ còn lại 24 độ .

Vi dụ 2 :

image

Tránh hợp Khi hai đinh tranh hợp một nhâm thì :

Định tổn 12 độ còn 24 độ . Nhâm tổn 12 độ còn 24 độ .

Định tôn 12 độ còn 24 độ .

3. Độ vượng thay đổi do các thiên can tương khắc nhau

1 ) Thiên can nếu bị can sát bên cạnh khắc phạt thì hao tổn mất 1/3 tức 12 độ , còn 24 độ .

Ví dụ 1

image

2) Thiên can nếu bị khắc cách thi hao tổn mất 1/6 , tức mất 6 độ còn 30 độ. Khắc cách tức là giữ hai can khác nhau có một can khắc chèn vào giữa

image

Bính hoả khắc canh kim, vì khắc cách nên canh kim tổn mất 6 độ, chỉ còn 30 độ

3) Thiên can nếu bị khắc xa thì xem như không bị hao tổn.

Khắc xa ví dụ như can khắc can giờ , hoặc can giờ khắc can năm. Vì cách xa nhau nên lực yếu , không gấy tổn hại

image

Canh kìm khắc giáp mộc , vì ở xa nên lực yếu . Do đó độ vượng của giáp không bị hao tổn . Thiên can có khắc đôi và khắc liên tiếp . Khi một can khắc cả hai can khác thì gọi là khắc đôi . Một con khắc ba can khác thì gọi là khắc liên tiếp . Dù là khắc đôi hay khắc liên tiếp thì can bị khắc độ vượng tổn hao mất 1/3 , tức 12 độ , còn 24 độ . Can khắc không bị tổn hao .

Những thiên can hư phù hoặc bị can khác khắc tổn hao mất hơn một nửa của 36 độ thì không thể có lực để khắc phạt can khác nữa .

Đối với can có ngũ hợp , cho dù hợp hóa hay không cũng đều không khắc được can khác hoặc bị can khác khắc . Trường hợp đó thường gọi là " tham hợp quên khắc "

4. Ảnh hưởng của địa chỉ đối với Thiên can trong cùng một trụ

Theo từng trụ mà nói , nếu thiên can không bị các can khác ngũ hợp thành hóa thì mối quan hệ giữa can và chỉ trong trụ đó có năm trường hợp khác nhau như sau :

1 ) Thiên can được địa chi sinh phù , Như đinh mão , định thuộc hỏa , mão thuộc mộc , tức mão mộc sinh cho định hỏa . Ất hợi , ất thuộc mộc , hợi thuộc thuỷ , thuỷ sinh cho mộc . Nhâm thân , nhâm thuộc thuỷ , thân thuộc kim , kim có thể sinh thuỷ , tức là thiên can được địa chỉ sinh phù . Những con như thế độ vượng không thay đổi .

2 ) Ngũ hành của thiên can cùng loại với địa chi . Như vậu , tuất đều có ngũ hành thuộc thổ . Bính ngọ , ngọ đều ngũ hành thuộc hoả . Canh , thân đều ngũ hành thuộc kim . Ngũ hành giống nhau thì độ vượng của can đó cũng không thay đổi .

3 ) Địa chi xì hơi thiên can . Như ất , tị , ất thuộc mộc , tị thuộc hoả ; mộc có thể sinh hoả . Bính thìn , bính thuộc hoả , thìn thuộc thổ , hoả có thể sinh thổ . Mậu thân , mậu thuộc thổ , thân thuộc kim , thổ có thể sinh kim . Tức là ngũ hành của thiên can có thể sinh cho ngũ hành của địa chi , hoặc nói cách khác ngũ hành của thiên can bị ngũ hành của địa chỉ xì hơi , Thiên can đó bị tổn mất 6 độ .

4 ) Thiên can khắc phạt chi . Như giáp thìn , giáp thuộc mộc , thìn thuộc thổ , mộc có thể khắc thổ . Bính thân , bính thuộc hoả , thân thuộc kim , hoả khắc kim . Canh dần , canh kim khắc dần mộc , Thiên can khắc phạt địa chỉ , nên độ vượng của thiên can giảm mất 12 độ .

5 ) Địa chi khắc phạt thiên can . Như giáp thân , thân kim khắc giáp mộc . Mậu dần , dân mộc khắc mậu thổ . Tân tị , tị hoả khắc tân kim . Thiên can bị khắc độ vượng giảm mất 18 độ .

B. ĐỘ VƯỢNG NGŨ HÀNH CỦA ĐỊA CHỈ

Trời có 360 độ . Mười hai địa chỉ phân thành âm dương , ngũ hành phân bố khắp trong đó nên lấy 360 độ chia cho 12 , mỗi địa chỉ nguyên có 30 độ . Vì địa chỉ hỗn tạp , ngoài bản khí ra , phần nhiều còn có tạp khí . Được tính thành bảng sau :

Sự biến đổi độ vượng ngũ hành của các địa chi cùng trụ như sau :

1 ) Địa chi cùng ngũ hành với thiên can trực đỉnh ( thiên can trực đỉnh là số độ của thiên can phải đạt từ 18 độ trở lên ) , hoặc được thiên can cùng trụ sinh phù .

2 ) Bản thân địa chỉ không gặp hợp . Nếu địa chỉ phù hợp với hai điều kiện đó thì bản khí của nó được tăng thêm 6 độ , tạp khí không thay đổi

3) Nếu địa chi bị thiên can trực đỉnh khắc thì bản khí cỉa nó giảm 8 độ , tạp kí giữ nguyên

image

1. Sự biến đổi độ vượng của các địa chi hội , hợp

Nếu các địa chỉ có tham gia : ( 1 ) Tam hội cục . ( 2 ) Hoặc tam hợp cục . ( 3 ) Hoặc bán tam hợp cục , nếu có thiên can cùng ngũ hành với hóa thần của hội hay hợp cục để dẫn đến hợp hóa thành công thì

- Tổng số độ vượng của ba địa chi tam hội cục là : 72 độ .

- Tổng số độ vượng của ba địa chi tam hợp cục là : 60 độ .

- Tổng số độ vượng của hai địa chỉ bán tam hợp cục là : 40 độ .

image

Các địa chi dần mão thìn tam hội thành mộc cục , có thiên can giáp mộc dẫn xuất dẫn đến hội hóa thành công . Do đó ba địa chi hợp hóa thành 72 độ .

image

Hợi mão bán tam hợp hoá mộc, có thiên can giáp mộc dẫn xuất dẫn đến hội hoá thành mộc . Do đó hai địa chi hợi mão hợp hoá thành mộc 40 độ

image

Dần ngọ bán tam hợp hóa hỏa , có thiên can bình tân ngũ hợp hóa hỏa dẫn xuất đến thành hóa . Nên hai địa chỉ dẫn ngọ hợp hóa thành hỏa 40 độ .

Chú thích : Phàm tam hội cục , tam hợp cục , bán tam hợp cục hợp hóa thành công thì ngũ hành của thiên can phải cùng loại với hóa thân của các địa chỉ , chỉ có như thế mới dẫn hóa thành công được .

Đối với tam hội cục , tam hợp cục chỉ cần có đầy đủ ba chi , không nhất thiết ba chi đó phải liên tiếp kề nhau , hoặc phải theo thứ tự . Còn đối với bán tam hợp cục thì nhất thiết đòi hỏi hai chị phải liền kề mới được .

Địa chi tam hội cục , tam hợp cục , bán tam hợp cục , nếu không có thiên can dẫn thì gọi là " hợp mà không hóa " . Hợp mà không hóa thì các chỉ chỉ tính theo bản khí , còn tạp khí bị tan mất ( gọi là khử bì )

Nếu bốn địa chỉ đồng thời xuất hiện tam hội cục , tam hợp cục , bán tam hợp cục thì lấy tam hội cục trước , tam hợp cục thứ hai , sau cùng là bán tam hợp cục .

Khi trong mệnh cục không xuất hiện điều kiện dẫn hóa thì các hội hợp , bán tam hợp cục vĩnh viễn không thành hóa . Lúc đó các chỉ được tính theo khử bì , tức chỉ có bản khí , các tạp khí mất hết .

Trong mệnh cục xuất hiện tam hội cục , hoặc tam hợp cục , hoặc bán tam hợp cục , nhưng nếu điều kiện dẫn hóa không đủ thì phải chờ hành đến các vận hoặc các năm có đủ điều kiện dẫn hóa , các cục đó mới có thể thành hóa . Lúc đó cuộc đời có những thay đổi trọng đại .

2. Sự biến đổi độ vượng của địa chỉ lục hợp cục Lục hợp cục đòi hỏi hai chi gần kề nhau , không thể có một chi xen giữa , đồng thời cũng đòi hỏi bản khí của chi tháng sinh phù cho , hoặc cùng loại với hóa thân của lục hợp và thiên can có dẫn xuất để lục hợp có thể hóa thành . Khi lục hợp được hóa thành thì hai chị đó hóa thành ng . hành mới , có độ vượng là 36 độ .

Ví dụ

image

Tị thân lục hợp , có ngọ tàng bản khí định hỏa và thiên can có bính dẫn hóa . Do đó tự thân lục hợp hóa thành hỏa 36 độ .

Khi trong lục hợp xuất hiện sự tranh hợp thì xem như hợp mà không hóa . Nên cả hai địa chỉ chỉ còn lại bản khí , tạp khí tan mất

Lục hợp cục trong mệnh cục nếu không đủ điều kiện dẫn hóa , khi hành đến vận hoặc năm có đủ điều kiện dẫn hóa thì trong vận hoặc năm đó sẽ được thành hóa và cuộc đời nhất định có những thay đổi to lớn .

Lục hợp cục nếu gặp tam hội cục , tam hợp cục , bán tam hợp cục thì cho dù tam hội cục , tam hợp cục , bán tam hợp cục có thành hóa hay không , lục hợp cục đó không được xem là hợp cục nữa

3. Sự biến đổi độ vượng của địa chỉ lục xung

Mệnh cục lục xung là đối với hai chi kề nhau . Nếu có chỉ khác chen vào giữa thì không gọi là xung nữa . Lục xung nếu gặp tam hội cục , tam hợp cục , bán tam hợp cục , lục hợp cục thì cho dù thành hóa hay không , đều không gọi là lục xung nữa ( gọi là tham hợp quên xung ) .

Sau khi lục xung thành lập , hai địa chi xung nhau đều lấy theo khử bì , tức là chỉ còn bản khí , không còn tạp khí . Sau đó căn cứ theo bảng chỉ tháng làm tổn thất để tra được độ tổn thất là bao nhiêu ,

Nếu có hai chị kẹp xung một chi thì mỗi chỉ kẹp xung hao mất 1/3 , chỉ bị kẹp xung hao mất 2/3 .

Xung tứ chính : Tí ngộ đội xung , mão dậu trợ xung .

Xung tứ sinh : Dần thân đối xung , tị hợi đối xung

Xung tứ kho : Thìn tuất tương xung , sửu mùi tương xung

image

C. CHI THÁNG NĂM LỆNH

Trong Tứ trụ ngoài nhật chủ ra , cái quan trọng nhất là chi tháng . Chi tháng nắm lệnh hay không quan hệ đến toàn bộ mệnh cục . Do đó ngoài sự tính toán trên , còn phải căn cứ chi tháng nắm lệnh hay không để có sự tăng giảm tương ứng .

Phàm sinh vào thời kỳ ngũ hành chi tháng nắm lệnh , trong Tứ trụ những ngũ hành cùng loại với ngũ hành chi tháng thì độ vượng được tăng lên 1/5 , những ngũ hành bị ngũ hành chi tháng nắm lệnh khắc , độ vượng sẽ giảm đi 1/5 .

Khi chi tháng hợp với các chi khác mà hóa thì ngũ hành mới hóa đó sẽ nắm lệnh , chứ không phải ngũ hành cũ của chi tháng năm lệnh . Nếu hợp mà không hóa thì được ngũ hành của chi tháng cũ vẫn nắm lệnh .

Dưới đây giới thiệu bảng ngũ hành nắm lệnh như sau :

image

Ví dụ . Sinh tháng dần ( sau lập xuân ) thì mộc khí nắm lệnh . Nếu trong Tứ trụ có những can , chi thuộc mộc độ vượng của chúng sẽ được tăng lên 1/5 lần . Những con chỉ thuộc thổ độ vượng sẽ giảm đi 1/5 lần .

Sinh tháng thân ( sau lập thu ) là kim khí nắm lệnh , những con chi trong Tứ trụ thuộc kim thì độ vượng được tăng lên 1/5 lần , những can chi thuộc mộc độ vọng bị giảm đi 1/5 lần .

Ví dụ về tính độ vượng suy của ngũ hành trong Tứ trụ

Ví dụ 1.

Sinh năm ất tị : Bính Hỏa 18 độ , canh kim 9 độ , mậu thổ 3 độ .

Tháng Ất dậu : Tân kim 30 độ .

Ngày kỷ mùi : Kỷ thổ 18 độ , định hỏa 9 độ , ất mộc 3 độ .

Giờ nhâm thân : Canh kim 18 độ , mậu thổ 9 độ , nhâm thủy 3 độ

1 ) Thiên can kỷ thổ được kỷ thổ và định hỏa trong mùi , bính hỏa , trong tị , mậu thổ trong thân trợ giúp nên có chỗ dựa , được 36 độ ( không có địa chỉ hay thiên can nào khắc hợp ) .

2 ) Thiên can nhâm thủy dược cảnh kim và nhâm thủy trong thân , canh kim trong tị , trợ giúp nên có chỗ dựa . Nhưng bị kỷ thổ khắc mất 1/3 nền còn lại 24 độ . Lại bị địa chỉ dậu kim khắc phạt , giảm mất 18 độ , nên chỉ còn lại 6 độ .

3 ) Thiên can ất mộc có ất mộc trong mùi và nhâm thủy trong thân nên có chỗ dựa , do đó can năm và can tháng mỗi can được 36 dộ .

4 ) Địa chỉ tị tàng bính hỏa 18 độ , canh kim 9 độ và mậu thổ 3 độ . Địa chị dâu tàng tân kim 30 độ , địa chỉ mùi vì được thiên can kỷ thổ trợ giúp , lại không bị các địa chỉ khác xung hợp nên bản khí được tăng lên 6 độ . Như vậy kỉ thổ 24 độ , định hỏa 9 độ , ất mộc 3 độ .Địa chỉ thân tàng canh kim 18 độ , mậu thổ 9 độ , nhâm thủy 3 độ .

image

( Ất mộc 30 độ )

1 ) Thiên can ất , canh có phụ tùng thê hóa được mộc 60 độ .

2 ) Thiên can định , nhâm chính hóa được mộc 60 độ .

3 ) Ba chi dần mão thìn tam hội hóa thành một cục 72 dộ .

4 ) Chi ngày mão mộc được 30 độ .

image

1 ) Hai can tân và canh trong địa chi không có thể và kim nên là hư phù . Vì vậy mỗi can có 9 độ . Lại còn bị xì hơi cho địa chỉ , giảm mất 12 độ , nên trở thành 0 độ .

2 ) Giáp , ất mộc có chỗ dựa . Tuy giáp mộc bị canh kim khác , nhưng canh kim hư phù không khắc được , nên giáp và ất mỗi can tính 36 độ .

3 ) Ba địa chỉ dần mão thìn thành tâm hội hóa mộc được 72 độ .

4 ) Hội tàng nhâm thủy 21 độ , giáp mộc 9 độ .

5 ) Chi tháng tam hội hóa mộc , mộc nắm lệnh .

image

1 ) Thiên can giáp mộc không thấy có thủy , nên mộc là hư phù , tính 9 độ . Lại bị địa chi cùng trụ làm xì hơi giảm mất 6 độ nên còn 3 độ .

2 ) Bính định hỏa trong địa chỉ có ngọ hỏa nên có chỗ dựa , mỗi can tính 36 độ .

3 ) Mậu thổ địa chỉ hỏa , thổ giúp đỡ nên có chỗ dựa , tính 36 độ .

4 ) Địa chi mão , tuất lục hợp hóa hỏa tính 36 độ .

5 ) Ngọ tàng định hỏa 27 độ , kỷ thổ 9 độ .

6 ) Chị giờ tuất cùng ngũ hành với can mậu , lại không bị khắc hợp cho nên bản khí tăng 6 độ thành 24 độ .

7 ) Tuy sinh tháng mão , nhưng mão tuất lục hợp hóa thành hỏa nên hỏa nắm lệnh .

image

1 ) Thiên can tần kìm được nhân nguyên địa chỉ mậu , kỷ thổ sinh cho nên có chỗ dựa , tính 36 độ . Nhưng vì khắc chi cùng trụ giảm mất 12 độ nên còn 24 độ .

2 ) Thiên can mậu , kỷ thổ được nhân nguyên trong địa chỉ là mậu, kỷ thổ trợ giúp , tức có chỗ dựa , mỗi can tính 36 độ .

3 ) Thiên can quý thủy hư phù , còn bị mậu , kỷ kẹp khắc nên tính là không

4 ) Địa chi mão mùi bán tam hợp không hóa , lục hợp không hóa nên tỉnh theo khử bì .

5 ) Chi tháng hợp mà không hóa thì vẫn giữ nguyên bản khí cho nên tuất nắm lệnh

6 ) Mão mộc bị trực đỉnh thiên can tần khắc tổn mất 8 độ ,

7 ) Mùi thổ và trực đỉnh thiên can cùng ngũ hành nên tăng 6 độ .

image

1 ) Thiên can nhâm , định , bính , tân đều có chỗ dựa .

2 ) Đinh nhâm ngũ hợp mà không hóa , được xem là khắc . Can bị khắc giảm 1/3 , còn can khắc không giảm . Nhân tính 36 độ , định tính 24 độ .

3 ) Bính tân ngũ hợp mà không hóa cũng xem là khắc . Can bị khắc giảm 1/3 , can khắc không bị giảm Do đó bính dược tính 36 độ , tân được tính 24 độ .

4 ) Các địa chi đều không bị xung hoặc hợp .

5 ) Chi tháng mùi thổ nắm lệnh .

6 ) Thân kim bị thiên can trực đỉnh bình hỏa khắc nên tổn mất 6 độ .

7 ) Mão mộc bị thiên can trực đỉnh tân kim khắc , nên tổn mất 6 độ .

8 ) Đinh bị địa chi cùng trụ xì hơi , giảm 6 độ nữa nên còn 18 độ .

9 ) Bính khắc địa chi cùng trụ nên giảm mất 12 độ , còn 24 độ .

10 ) Tân khắc địa chi cùng trụ cũng giảm 12 độ , nên còn 12 độ .

image

1 ) Thiên can ất canh ngũ hợp không hóa , được xem là khắc . Ất mộc tính 24 độ , canh kim 36 độ ( ngũ hợp có một con hư phù vẫn xem là hợp nên không tỉnh là hư phù ) .

2 ) Mậu quí ngũ hợp không hóa nên được xem là khắc . Quí thủy tính 24 độ , mậu thổ 36 độ .

3 ) Hai địa chi dấu tranh hợp một thìn nên hợp cục không thể thành hóa , do đó các chi được tính như khử bì , tức chỉ còn bản khí .

4 ) Trong ngọ tàng định hỏa 27 độ , kỷ thổ 9 độ . 5 ) Chỉ tháng thìn bị tranh hợp , nên không bị thành hóa , do đó thổ khí vẫn nắm lệnh .

6 ) Ất bị địa chi cùng trụ khắc phạt nên giảm 18 độ , còn lại 6 độ .

image

D. TÍNH ĐỘ VƯỢNG CỦA NHẬT CHỦ

Độ vượng của các ngũ hành trong Tứ trụ được tính như đã nói ở trên . Những can chi sinh trợ cho nhật chủ hoặc cùng loại ngũ hành với nhật chủ thì gọi là phe mình , những con chỉ còn lại gọi là phe khác ( những ngũ hành bị nhật chủ khắc hoặc khắc nhật chủ đều thuộc phe khác ) . Sau đó so sánh phe mình và phe khác sẽ rút ra nhật chủ mạnh hay yếu ) .

Vì phe mình chỉ có hai loại ngũ hành là ngũ hành sinh trợ cho nhật chủ và ngũ hành cùng loại với nhật chủ ; còn phe khác có ba loại ngũ hành là : khắc nhật chủ , nhật chủ sinh cho và bị nhật chủ khắc Do đó phe mình chiếm 40 % của tổng trở lên thì được xem là nhật chủ vượng . Ngược lại nếu chiem dưới 40 % ngũ hành thì gọi là nhật chủ yếu .

Ví dụ 1 .

Sinh năm ất tị ,Tháng Ất dậu , Ngày kỷ mùi , Giờ nhầm thân

Nhật chủ là kỉ thổ , phe mình là tỏa , thổ .

image

Độ vượng toàn bộ ngũ hành là : 55 + 18 + 72 + 32 + 9 = 180 độ . 40 % của 186 độ là 74,4 độ .

Hỏa 18 độ thổ 72 độ , tổng cộng 90 độ . 90 độ lớn hơn 74,4 độ nên nhật chủ vượng .

Nhật chủ đinh và nhâm ngũ hợp hóa mộc , vì vậy ngũ hành mộc là 226 độ . Mộc độc vượng .

image

Nhật chủ là giáp mộc , thủy mộc đều là phe mình gồm 180 độ thêm thủy 21 độ thành 207 độ . Toàn bộ ngũ hành đều thuộc phe mình nên là mộc độc vượng

image

Nhật chủ là bính hỏa . Phàm thuộc mộc , hỏa đều là phe mình gốm 3 độ cộng với 158 độ thành 161 độ . Toàn bộ ngũ hành là 239 độ . 40 % của 239 độ là 96,6 độ 161 dộ vượt quá 95,6 độ , cho nên nhật chủ vượng .

image

chương III . PHÂN LOẠI CÁC CÁCH CỤC

Cách cuc của Tứ trụ có thể chia thành hai loại lớn : một loại là cách cục phổ thông , loại khác là cách cục đặc biệt . Nói chung trong Tứ trụ cách phổ thông chiếm phần lớn , cách cục đặc biệt chỉ chiếm một phần nhỏ . Khi chia cách cục , nếu phù hợp với cách cục đặc biệt thì trước hết chọn cách cục đặc biệt , nếu không thì xếp vào loại cách cục phổ thông .

1. Chính cách ( cách phổ thông )

Chính cách có thể phân thành mười loại : 1 ) Cách chính quan . 2 ) Cách thất sát . 3 ) Cách chính tài , 4 ) Cách thiên tài . 5 ) Cách chính ấn , 6 ) Cách thiên ấn . 7 ) Cách thương quan . 8 ) Cách thực thần . 9 ) Cách kiến lộc . 10 ) Cách bình dương .

Phương pháp lấy cách cục phổ thông theo can ngày , tháng sinh

Người xưa bàn rất nhiều về phép lấy cách cục , số cách cục đạt hơn 40 loại . Tuy cách cục nhiều và phương pháp rườm rà như thế , nhưng thực tế có nhiều cách cục không được dùng hoặc rất ít dùng . Có những cách cục tên gọi rất hay . Nhưng thực tế đều là thiên can , tỉ kiếp trùng lặp .

Cách lấy cách cục hiện đại lấy tháng lệnh làm chính , hoặc lấy nhân nguyên do chi tháng tàng chứa lộ ra , còn khi nhân nguyên không lộ ra thì lấy cái gì mà thấy cần lấy . Phương pháp này gọi là phương pháp cách cục theo can ngày , tháng sinh , là phương pháp dễ nắm vững và khá thích dụng .

Ngày giáp sinh tháng tí , can lộ ra ở quý thuỷ là cách chính ấn , mừng gặp quan lộ ở ấn , kiêng đóng ở thiên tài làm tổn thương ấn . Tuế vận gặp quan cũng tốt , kiêng gặp thiên tài .

Ngày giáp sinh tháng sửu là tạp khí , can lộ ra kỉ thổ là cách chính tài , lộ tân kim là cách chính quan , lộ quý thuỷ là cách chính ấn . Với người không lộ ra cái gì thì tuỳ đó mà lấy cách . Nên gặp ấn , kị gặp tài ; nên gặp quan , kị quan sát hỗn tạp và thương quan ; nên gặp tài , kị tỉ kiếp . Đối với tuế vận những điều nên gặp và những điều kị cũng tương tự .

Ngày giáp sinh tháng dần là cách kiến lộc .

Ngày giáp sinh tháng mão là cách bình dương ( mão là kiếp tài ) .

Ngày giáp sinh tháng thìn là tạp khí , can lộ mậu thổ là cách thiên tài , lộ quý thuỷ là cách chính ấn. Với người mậu quý không lộ ra thì tùy đó mà lấy cách . Nên gặp tài , kị gặp kiếp ; nên gặp ấn kị gặp tài . Đối với tuế vận những điều nên gặp và nên kị cũng tương tự .

Ngày giáp sinh tháng tị , can lộ bính hoả là cách thực thần , lộ mậu thổ là cách thiên tài , lộ canh kim là cách thất sát . Với người không lộ gì thì tùy đó mà lấy cách . Giáp sinh tháng tị , tháng là nguyên thần của tài , là lâm quan của thực , là trường sinh của sát . Trong Tứ trụ nên gặp tài , gặp được tài sinh mâu thổ càng tốt . Kị nhất đóng ở bình dương , tỉ kiếp . Trong Tứ trụ nên gặp được sát , sát càng lộ ra càng có uy . Kị thực thần chế ngự sát . Trong Tứ trụ mừng gặp thực thần , thực thần lộ ra thì nguồn của cải càng phong phú ; kị gặp kiêu tước đoạt mất thực thần .

Ngày giáp sinh tháng ngọ , can lộ ra định hoả là cách thương quan lộ ra kỉ thổ là cách chính tài . Nếu không lộ ra gì thì tùy đó mà lấy cách . Tháng là nguyên thần của tài , trong trụ mừng gặp tài nên gặp tài thì nguồn của phong phú . Trong Tứ trụ nên gặp thương , định hoả lộ ra , gặp thương thì càng mạnh . Thân vượng nên gặp tài , thân yếu kị gặp thương quan xì hơi . Đối với tuế vận , những cái nên gặp và nên kị cũng tương tự .

Ngày giáp sinh tháng mùi , mùi là một kho , là tạp khí . Can lộ ra kỉ thổ là cách chính tài , lộ ra đình hoả là cách thương quan . Nếu không lộ ra thì tùy đó mà lấy cách . Tháng là vượng địa của tài . Trong Tứ trụ nên gặp tài , kỉ thổ lộ ra là tài vượng , kị gặp tỉ kiếp . Trong Tứ trụ gặp được thương , định hoả lộ ra càng rõ càng tốt , kị gặp ấn trụ chế ngự làm cho bị thương tổn .

Ngày giáp sinh tháng thân là đất thất sát vượng . Can lộ canh kim là cách thất sát , lộ mậu thổ là cách thiên tài , lộ nhâm thuỷ là cách chính ấn ( trong Tứ trụ có thực là kiểu thẫn ) . Nếu không lộ gì thì tuỳ đó mà lấy cách . Thất sát mừng gặp thân vượng , kỉ gặp thân nhược yếu , kị quan tinh , kị tài vượng và kị nhất là lại gặp thất sát , tuế vận cũng kị gặp thất sát . Thân là trường sinh của nhâm , trong Tứ trụ mừng gặp thuỷ , nhâm thuỷ lộ ra , thuỷ càng vượng và thanh tú , kị gặp tài làm tổn thương ấn . Tuế vận cũng nên tập và nên kị như thế ,

Ngày giáp sinh tháng dậu là cách chính quan . Mừng thân vượng lộ quan gặp tài , kị gặp thất sát làm thương tổn quan . Thân yếu phải gặp sinh phù , tuế vận cũng thế .

Ngày giáp sinh tháng tuất là tạp khí . Can lộ mậu thổ là cách thiên tài , lộ tân kim là cách chính quan , lộ dinh hoả là cách thương quan . Nếu không lộ gì thì tùy đó mà lấy cách . Trong Tứ trụ mừng gặp tài, mậu thổ lộ tài lâm kiến mà vượng . Trong Tứ trụ gặp quan là tốt , tân kim lộ tháng kim sẽ sinh quan uy . Trong Tứ trụ gặp được thương , có đính hoả lộ thương quan sẽ thông đến gốc , làm cho thế của cách càng mạnh và tốt hơn .

Ngày giáp sinh tháng hợp là gặp trường sinh , can lộ nhâm thuỷ là cách thiên ấn . Không lộ gì thì tuỳ sự việc mà lấy cách . Trong Tứ trụ lộ quan ấn là phúc , kị gặp tài làm tổn thương ấn . Tuế vận cũng thế

Ngày ất nên gặp và kị gặp giống như giáp mộc , ở đây không nhắc lại nữa . Ngày ất sinh tháng tí , can lộ quý thuỷ là cách thiên ấn . Không lộ gì thì tùy sự việc cụ thể mà lấy cách cho thích hợp . Ngày ất sinh tháng sửu là tạp khí , can lộ kỉ thổ là cách thiên tài , lộ quý thuỷ là cách thiên ấn , lộ tân kim là cách thất sát . Nếu không lộ gì thì tuỳ việc cụ thể mà lấy cách cho thích hợp .

Ngày ất sinh tháng dần là cách bình dương ( kiếp tài ) .

Ngày ất sinh tháng mão là cách kiến lộc .

Ngày ất sinh tháng thìn là tạp khí , can lộ mậu thổ là cách chính tài , lộ quý thuỷ là cách thiên ấn . Không lộ gì thì tùy việc mà chọn cách .

Ngày ất sinh tháng tỏ là đất làm tổn thương quan , sinh tài . Can lộ bính hoả là cách thương quan , lộ mậu thổ là cách chính tài , lộ canh kim là cách chính quan . Không lộ gì thì tùy việc mà chọn cách .

Ngày ất sinh tháng ngọ là gặp trường sinh , thực tài vượng địa . Can lộ định hoả là cách thực thần , lộ kỉ thổ là cách thiên tài . Nếu không lộ gì thì tùy sự việc mà chọn cách cho thích hợp .

Ngày ất sinh tháng mùi là tạp khí , can lộ kỉ thổ là cách thiên tài , lộ định hoả là cách thực thần . Nếu không lộ thì tùy việc mà chọn cách cho thích hợp .

Ngày ất sinh tháng thân thì chính quan vượng địa , can lộ canh kim là cách chính quan , lộ mậu thổ là cách chính tài , lộ nhâm thuỷ là cách chính ấn . Nếu không lộ gì thì tùy đoán việc gì mà chọn cách cho thích hợp .

Ngày ất sinh tháng dậu là vượng địa của sát , can lộ tân kim là cách thất sát . Nếu không lộ thì tuỳ đó mà chọn cách .

Ngày ất sinh tháng tuất là tạp khí , gặp mộ địa . Can lộ mậu thổ là cách chính tài , lộ tân kim là cách thất sát ; lộ đỉnh hoả là cách thực thần . Không lộ gì thì tùy vào đoán cái gì mà chọn cho thích hợp .

Ngày ất sinh tháng hợi can lộ nhâm thuỷ là cách chính ấn , Không lộ thì tuỳ đó mà chọn .

Ngày bính sinh tháng tí là quan quý , can lộ ra quý thuỷ là cách chính quan . Không lộ gì thì tùy việc mà chọn . Thân vượng nên gặp tài quan , thân nhược nên gặp ấn vượng . Kị gặp thất sát , thương quan . Tuế vận cũng thế .

Ngày bính sinh tháng sửu là tạp khí , gan lộ kỉ thổ là cách thương quan , lộ quý thuỷ là cách chính quan , lộ tân kim là cách chính tài . Nếu không lộ thì tùy việc mà chọn cách . Tạp khí nên gặp tài , kị gặp hình dương và ngang vai . Thân vượng nên gặp tài , thân nhược tài vượng thì tốt . Tuế vận cũng thế .

Ngày bính sinh tháng dần là gặp trường sinh , can lộ giáp mộc là cách thiên ấn , lộ mậu thổ là cách thực thần . Nếu không lộ thì tùy việc mà chọn . Trường sinh nên đóng ở quan hay gặp lộ quan , kị gặp tài thương ấn Tuế vận cũng nên gặp và kị như thế .

Ngày bình sinh tháng mão , can lộ ất mộc là cách chính ấn . Không lộ thì tuỳ việc mà chọn . Nên gặp hai sao quan , ấn , kị gặp thương ấn . Tuế vận cũng thế .

Ngày bính sinh tháng thìn là tạp khí , can lộ ất mộc là cách chính ấn , lộ mậu thổ là cách thực thần , lộ quý thuỷ là cách chính quan . Nếu không lộ thì tùy việc mà chọn . Nên gặp quan lộ , không lộ thì phải xung , kiến tài mà thân vượng thì phát phúc , kị gặp quan phục lại không có xung , kị gặp thất sát thương quan . Tuế vận cũng thế .

Ngày bính sinh tháng tị là cách kiến lộc , tị là đất trường sinh của tài , tài phải lộ , nếu không lộ thì chỉ là thương quan đi ngược với nguyệt lệnh . Nên gặp tài vận cùng với thiên quan , kị kiếp tài , chính quan . Tuế vận cũng thế ,

Ngày bính sinh tháng ngọ là cách bình dương chủ về thần vượng sống lâu . Nên gặp tài lộ cùng với thiên quan . Kị gặp tỉ kiếp . Tuế vận cũng thế .

Ngày bính sinh tháng mùi là tạp khí , can lộ kỉ thổ là cách thương quan , lộ ất mùi là cách chính ấn . Nếu không lộ thì tuỳ đó mà chọn . Nên gặp ấn lộ , không lộ thì phải xung . Kị gặp ấn phục không có xung , kị gặp thương quan . Tuế vận cũng nên gặp và kị như thế .

Ngày bính sinh tháng thân , can lộ canh kim là cách thiên tài , lộ mậu thổ là cách thực thần , lộ nhâm thuỷ là cách thất sát . Nếu không lộ gì thì tùy việc mà chọn . Nên thân vượng , lộ tài , lộ quan , kị gặp thương quan , thất sát . Tuế vận cũng thế .

Ngày bính sinh tháng dậu , can lộ tân kim là cách chính tài . Nếu không lộ thì tùy việc mà chọn cách . Nên gặp thân vượng , lộ tài , lộ quan , kị hình xung phá hại , ngang vai , kiếp tài . Tuế vận cũng thế .

Ngày bính sinh tháng tuất là tạp khí , can lộ mậu thổ là cách thực thần , thấu tân kim là cách chính ấn. Nếu không thấu thì tuỳ đó mà chọn , Bính là tự mình gặp kho , trong tuất không có vật gì để lấy 1 . phúc , trong trụ giơ nên có các quý cách thì tốt . Tuế vận cũng thế .

Ngày bính sinh tháng hợi , can thấu sang nhâm thuỷ là cách thất sát , thấu sang giáp mộc là cách thiên ấn . Không thấu thì tuỳ đó mà chọn .

Ngày gặp thiên quan lại chia ra : có hợp thì bị chế ngự , hoặc có chế ngự thì kị hợp . Nên thân vượng , kị thân nhược và chính quan . Tuế vận cũng thế . Ngày đinh nên gặp và kị gặp những điều giống như bình hoả nên ở đây không nhắc lại nữa .

Ngày đinh sinh tháng tí , can thấu sang quý thuỷ là cách thất sát . Nếu không thấu gì thì tùy đó mà chọn .

Ngày đinh sinh tháng sửu là tạp khí . Can thấu sang kỉ thổ là cách thực thần , thấu sang quý thuỷ là cách thất sát , thấu sang tân kim là cách thiên tài . Nếu không thấu gì thì tùy đó mà chọn .

Ngày đinh sinh tháng dần , can thấu giáp mộc là cách chính ấn , thấu mậu thổ là cách thương quan . Nếu không thấu gì thì tùy đó mà chọn .

Ngày đinh sinh tháng mão , can thấu ất mộc là cách thiên ấn , không thấu thì tùy đó mà chọn . Ngày đinh sinh tháng tỏ là cách bình dương ( kiếp tài ) .

Ngày đinh sinh tháng ngọ là cách kiến lộc . Ngày đinh sinh tháng mùi là tạp khí , can thấu kỉ thổ là cách thực thần , thấu ất mộc là cách thiên ấn . Không thấu gì thì tuỳ đó mà chọn .

Ngày đinh sinh tháng thân , can thấu canh kim là cách chính tài , thấu nhâm thuỷ là cách chính quan , thấu mộc thể là cách thương quan . Nếu không thấu gì thì tùy việc nà chọn .

Ngày đinh sinh tháng dậu là gặp trường sinh , can thấu tân kim là cách thiên tài . Không thấu gì thì tuỳ việc mà chọn cách .

Ngày đinh sinh tháng tuất , can thấu mậu thổ là cách thương quan , thấu tân kim là cách thiên tài . Không thấu gì thì tùy đó mà chọn .

Ngày đinh sinh thảng hơi , can thấu nhâm thuỷ là cách chính quan , thấu giáp mộc là cách thiên ấn . Không thấu thì tuỳ đó mà chọn . Thân vượng nên thấu cả tài và quan . Kị hợp với thần sát , thương quan . Tuế vận cũng thế .

Ngày mậu sinh tháng tí , can thấu quý thuỷ là cách chính tài . Không thấu thì tuỳ việc mà chọn . Mệnh sinh ngày tí là có thần tài . Kị đóng kình dương , kị gặp tỉ kiếp . Tuế vận cũng thế .

Ngày mậu sinh tháng sửu là tạp khí . Can thấu tí thủy là cách chính tài , thấu tân kim là cách thương quan . Không thấu thì tùy việc mà chọn . Thân vượng nên gặp tài lộ , kị gặp tỉ kiếp , bình dương . Tuế vận cũng thế .

Ngày mậu sinh tháng dần , can thấu giáp mộc là cách thất sát , thấu bính hoả là thiên ẩn . Không thấu thì tuỳ đó mà chọn . Nên gặp thân vượng , kị thân nhược . Thất sát có hợp không nên có chế , không hợp thì phải có chế . Kị gặp quan tinh , kị gặp lại thất sát .

Ngày mậu sinh tháng não , can thấu ất mộc là cách chính quan . Không thấu thì tuỳ đó mà chọn .

Ngày mậu sinh tháng thìn là tạp khí , can thấu ất thuỷ là cách chính quan , thấu quý thuỷ là cách chính tài . Không thấu gì thì tuỳ đó mà chọn . Nên gặp tài vượng , lộ . Sinh ngày tí ni tài , kị tài phục không có xung ; kị tỉ kiếp . Tuế vận cũng thế . Ngày mậu sinh tháng tỏ là cách kiến lộc , mừng lộ quan , gặp đất quan ấn . Kị gặp tài tinh , thương quan . Tuế vận cũng thế .

Ngày mậu sinh tháng ngọ là cách bình dương , nên gặp quan ấn .

Ngày mậu sinh tháng mùi là tạp khí , can thấu đính hoả là cách chính ấn , thấu ất mộc là cách chính quan . Nếu không thấu thì tuỳ đó mà chọn . Nên gặp tài thấu quan , không thấu thì nên xung . Kị gặp quan phục mà không có xung , kị gặp thất sát thương quan , nên thân vượng . Tuế vận cũng giống thế .

Ngày mậu sinh tháng thân , can thấu canh kim là cách thực thần , thấu quý thuỷ là cách thiên tài . Nếu không thấu gì thì tùy đó mà chọn . lệnh tháng trường sinh thuỷ là tài , nên gặp tài lộ ra , không có tài thì không lợi . Nếu trong Tứ trụ gặp lại mậu là kiếp . Vận nên gặp tài , kị gặp thân nhược và quan tỉnh

Ngày mậu sinh tháng dậu , can thấu tân kim là cách thương quan . Không thấu gì thì tuỳ việc mà chọn Trong Tứ trụ có tài thì tốt không có tài thì không lợi . Nên thân vượng , kị tỉ kiếp . Tuế vận cũng thế .

Ngày mậu sinh tháng tuất là tạp khí , can thấu tân kim là cách thương quan , thấu đinh hoả là cách chính ấn . Nếu không thấu gì thì tùy đó mà chọn . Mừng gặp chính quan thấu ấn , khôi thấu thì phải xung . Kị gặp phục ấn mà không xung , kị tài thương ấn . Tuế vận cũng thế .

Ngày mậu sinh tháng hơi , can thấu nhâm thuỷ là các thiên tài , thấu giáp mộc là thất sát . Nếu không thấu thì tùy đó mà chọn . Nên thân vượng thấu tài , kị gặp bình dương , tỉ kiếp . Tuế vận cũng thế . Ngày kỉ nên gặp và nên kị như mậu thổ , ở đây không nhắc lại nữa .

Ngày kỉ sinh tháng tí , can thấu quý thuỷ là cách thiên tài , không thấu thì tùy đó mà chọn cách .

Ngày kỉ sinh tháng sửu là tạp khí , can thấu tân kim là cách thực thần , thấu quý thuỷ là cách thiên tài . Nếu không thấu gì thì tuỳ đó mà chọn .

Ngày kỉ sinh tháng dần , can thấu giáp mộc là cách chính quan , thấu bính hoả là cách chính ấn . Không thấu gì thì tùy đó mà chọn . Nên đóng tài và thấu quan , gặp tai quan thân vượng là tốt . Kị gặp thất sát , thương quan . Tuế vận cũng thế .

Ngày kỉ sinh tháng mão , cam thấu ất mộc là cách thất sát , Không thấu thì tùy đó mà chọn . Nên gặp thân vượng có hợp , nếu không hợp thì phải chế ngự lại . Kị vô hợp và thấu quan . Tuế vận cũng thế .

Ngày kỉ sinh tháng thìn là tạp khí . Can thấu ất mộc là cách thất sát , thấu quý thuỷ là cách thiên tài . Nếu không thấu thì tuỳ đó mà chọn .

Ngày kỉ sinh tháng tị là cách bình dương . Ngày kỉ sinh tháng ngọ là cách kiến lộc .

Ngày kỉ sinh tháng mùi là tạp khí . Can thấu ất mộc là cách thất sát , thấu định hoả là cách thiên ấn , Không thấu gì thì tùy đó mà chọn .

Ngày kỉ sinh tháng thân , can thấu canh kim là cách thương quan , thấu nhầm thuỷ là cách chính tài . Nếu không thấu gì thì tùy đó mà chọn

Ngày kỉ sinh tháng dậu , can thấu tân kim là cách thực thần . Không thấu thì tùy đó mà chọn .

Ngày kỉ sinh tháng tuất là tạp khí , can thấu tân kim là cách thực thần , thấu dinh hoả là cách thiên ấn . Không thau gì thì tuỳ đó mà chọn .

Ngày kỉ sinh tháng hợi can thấu giáp mộc là cách chính quan , thấu nhâm thuỷ là cách chính tài . Nếu không thấu gì thì tùy đó mà chọn .

Ngày canh sinh tháng tí , can thấu quý thuy là cách thương quan . Không thấu thì tùy đó mà chọn . Nên thân vượng , đóng ở tài thấu quan . Kị thân nhược không gặp tài và thương . Nếu trong Tứ trụ không có tài tình , chỉ có thương quan thì ngược với lộc . Tuế vận cũng thế .

Ngày canh sinh tháng sửu là tự nhập kho , can thấu kỉ thổ là cách chính ấn , thấu quý thuỷ là cách thương quan . Nếu không thấu gì thì tuỳ đó mà chọn . Thân khoẻ thì bệnh ít , bình an , thọ , nếu trên trụ giờ gặp thiên quan thì tốt , kị gặp chính quan . Tuế vận cũng thế .

Ngày canh sinh tháng dần , can thấu giáp mộc là cách thiên tài thấu bính hoả là cách thất sát , thấu mậu thổ là cách thiên ấn . Nếu không thấu thì tùy đó mà chọn . Thân vượng tài nhiều là tốt , kị đóng ở kình dương , tỉ kiếp . Tuế vận cũng thế .

Ngày canh sinh thảng mão , can thấu ất mộc là cách chính tài . Không thấu can gì thì tùy đó mà chọn . Nên tài thấu thân vượng , không nên đóng ở ngày dần mão khó có tài . Kị đóng ở kiếp lộ tỉ . Tuế vận cũng thế .

Ngày canh sinh tháng thìn là tạp khí , can thấu ất mộc là cách chính tài , thấu mậu thổ là cách thiên ấn, thấu quý thuỷ là cách thương quan . Nếu không thấu thì tùy việc mà chọn cách . Sinh sau thanh minh bảy ngày rưỡi , ất mộc có dư khí là có thể phát nhưng phải gặp ngang vai , kình dương . Nên gặp thân vượng , gặp tài địa , kị gặp tỉ kiếp . Tuế vận cũng thế .

Ngày canh sinh tháng tị là gặp trường sinh , can thấu kính hoả là cách thất sát , thấu mậu thổ là cách thiên ấn . Nếu không thấu thì tùy đó mà lấy . Nên gặp thân vượng có hợp , có hợp không có chế ngự . Gặp thiên quan lộ thì tốt . Kị thân nhược không có hợp và gặp lại thiên quan . Tuế vận cũng thế .

Ngày canh sinh tháng ngọ là tạp khí , can thấu đinh hoả là cách chính quan , thấu kỉ thổ là cách chính ấn . Nếu không thấu gì thì tuỳ việc mà chọn . Thân gặp chính quan nên thân vượng . Kị thân nhược , thất sát , thương quan . Tuế vận cũng thế .

Ngày canh sinh tháng mùi là tạp khí , can thấu kỉ thổ là cách chính ấn , thấu ất mộc là cách chính tài , thấu kinh hoả là cách chính quan . Nếu không thấu gì thì tùy việc cần đoán mà chọn . Nên gặp thân vượng , tài lộ thi tài vượng . Không thấu thì phải xung . Kị tài phục mà không có xung , kị kình dương , ngang vai . Tuế vận cũng thế .

Ngày canh sinh tháng thân là cách kiến lộc .

Ngày canh sinh tháng dậu là cách bình dương ( kiếp tài ) .

Ngày canh sinh tháng tuất là tạp khí , can thấu mậu thổ là cách thiên ấn , thấu đỉnh hoả là cách chính quan . Nếu không thấu thì tùy đó mà chọn . Phải thân vượng , nên cặp tài quan . Kị thân thược , thất sát , thương quan . Tuế vận cũng thế .

Ngày canh sinh tháng hơi , can thấu giáp mộc là cách chính tài thấu nhâm thuỷ là cách thực thần . Nếu không thấu thì tùy việc mà chọn . Nên thân vượng tài lộ . Kị thân nhược , vô tài . Tuế vận cũng thế .

Ngày tân những điều nên gặp và nên kị giống như ngày canh không nhắc lại nữa .

Ngày tân sinh tháng tí là gặp trường sinh , can thấu quý thuy là cách thực thần . Không thấy gì thì tùy việc đoán mà chọn .

Ngày tân sinh tháng sửu là tạp khí , can thấu kỉ thổ là cách thiên ấn , thấu quý thuỷ là cách thực thần . Nếu không thấu thì tùy việc đoán mà chọn .

Ngày tân sinh tháng dần , can thấu giáp mộc là cách chính tài , thấu bính hoả là cách chính quan thấu mậu thổ là cách chính ấn . Nếu không thấu thì tùy việc mà chọn Ngày tân sinh tháng mão , can thấu ất mọc là cách thiên tài , không thấu thì tùy đó mà chọn .

Ngày tân sinh tháng thìn là khí tài thừa , can thấu ất mộc là cách thiên tài , thấu mậu thổ là cách chính ấn , thấu quý thuỷ là cách thực thần . Nếu không thấu thì tùy đó mà chọn .

Ngày tân sinh tháng tị , can thấu kính hoả là cách chính quan , thấu mậu thổ là cách chính ấn . Nếu không thấu thì tùy đó mà chọn . Tân là thiên đức , thân vượng lại thấu quan , thấu tài là tốt . Kị sinh cho thất sát , thương quan . Tuế vận cũng thế .

Ngày tân sinh tháng ngọ can thấu đinh hoả là cách thất sát , thấu kỉ thổ là cách thiên ẩn . Nếu không thấu gì thì tuỳ việc mà chọn .

Ngày tân sinh thảng mùi là tạp khí của tài , can thấu kỉ thể là cách thiên ấn , thấu đình hoả là cách thất sát , không thấu gì thì tuỳ đó mà chọn .

Ngày tân sinh tháng thân là cách bình dương . Ngày tân sinh tháng dậu là cách kiến lộc .

Ngày tân sinh tháng tuất là tạp khí , can thấu mậu thổ là cách chính ấn , thấu đinh hoả là cách thất sátKhông thấu gì thì tuỳ đó mà chọn .

Ngày tân sinh tháng hợi can thấu giáp mộc là cách chính tài , thấu nhâm thuỷ là cách thương quan . Nếu không thấu gì thì tuỳ đó mà chọn .

Ngày nhâm sinh tháng tí là cách bình dương ( kiếp tài ) .

Ngày nhâm sinh tháng sửu là tạp khí , can thấu kỉ thổ là cách chính quan , thấu tân kim là cách chính ấn . Nếu không thấu thì tùy việc mà chọn . Nên thấu ấn lại gặp cả quan và hình xung . Kị ấn phục , kị tài làm tổn thương ấn Tuế vận cũng thế .

Ngày nhâm sinh tháng dần , can thấu giáp mộc là cách thực thần , thấu kính hoả là cách thiên tai , thấu mậu thổ là cách thất sát . Không thấu gì thì tùy sự việc cụ thể mà chọn . Thân vượng gặp tài thấu can là tốt . Nếu trong Tứ trụ không có tài mà chỉ là thương quan thì không có lộc Kị thân nhược gặp chính quan . Tuế vận cũng thế .

Ngày nhâm sinh tháng mão , can thấu ất mộc là cách thương quan . Không thấu thì tùy đó mà lấy cách . Nên thân vượng đóng ở tài thì tốt , kị kiếp tài , chính quan . Tuế vận cũng thế .

Ngày nhâm sinh tháng thìn là tự nhập kho . Can thấu ất mộc là cách thương quan , thấu mậu thổ là cách thất sát . Nếu không thấu thì tuỳ đó mà lấy cách . Nên thân vượng , gặp hợp , chế . Kị gập chính quan , thương quan . Tuế vận cũng thế .

Ngày nhâm sinh tháng tị , can thấu mậu thổ là cách thất sát , thấu bính hoả là cách tiên tài , thấu canh kim là cách thiên ấn . Nếu không thấu gì thì tùy việc đoán mà chọn cách . Nên thân mạnh , có thiên quan , có hợp không cố chế ngự Kị thân nhược lộ quan . Thái tuế cũng thế .

Ngày nhâm sinh tháng ngọ , can thấu định hoả là cách chính tài thấu kỉ thổ là cách'chính quan . Nếu không thấu gì thì tùy đó mà chọn . Nên gập thân vượng , tài , quan . Kị thất sát , thương quan . Tuế vận cũng thế .

Ngày nhâm sinh tháng mùi là tài tạp khí . Can thấu kỉ thổ là cách chính quan , thấu định hoả là cách chính tài , thấu ất mộc là cách thương quan . Nếu không thấu gì thì tùy đó mà chọn . Nên gặp thân vượng , thấu quan , thấu tài , không có thương quan , không có kiếp tài là phúc . Kị thất sát , thương quan , kiếp tài . Tuế vận cũng thế .

Ngày nhâm sinh tháng thân là gặp trường sinh . Can thấu canh kim là cách thiên ấn , thấu mậu thổ là cách thất sát . Nếu không thấu thì tùy Việc đoán mà chọn . Thấu quan lộ ấn là tốt , kị gặp tài làm tổn thương ấn . Ta vận cũng thế .

Ngày nhâm sinh tháng dậu , can thấu tân kim là cách chính ấn . Nếu không thấy gì thì tuỳ đó mà chọn cách . Nên lộ quan thấu ấn , kị tài làm tổn thương ấn . Tuế vận cũng thế .

Ngày nhâm sinh tháng tuất là tạp khí . Can thấu mậu thổ là cách thất sát , thấu đinh hoả là cách chính tài , thấu tân kim là cách chính ấn Nếu không thấu gì thì tuỳ đó mà chọn . Nếu thân vượng , tài quan song thấu là quý . Tài thầu gặp xung thì dùng tài , quan thấu gặp xung thì dùng quan . Không thấu thì phải xung . Kị phục tài mà không có xung , kị tỉ kiếp . Tuế vận cũng thế ,

Ngày nhâm sinh tháng hợi là cách kiến lộc . Ngày quý nên gặp và kị giống như nhâm , nên không nhắc lại .

Ngày quý sinh tháng tí là cách kiến lộc .

Ngày quý sinh tháng sửu là tạp khí . Can thấu kỉ thổ là cách thất sát , thấu tân kim là cách thiên ấn . Nếu không thấu , tùy đó mà chọn .

Ngày quý sinh tháng dần , can thấu giáp mộc là cách thương quan , thấu mận thổ là cách chính quan , thấu kính hoả là cách chính tài . Nếu không thấu thì tuỳ đó mà chọn .

Ngày quý sinh tháng mão là gặp trường sinh . Can thấu ất mộc là cách thực thần Không thấu , tùy đó mà chọn .

Ngày quý sinh tháng thìn là tạp khí . Can thấu ất mộc là cách thực thần , thấu mậu thổ là cách chính quan . Không thấu , tuỳ đó mà chọn .

Ngày quý sinh tháng tị , can thấu bính hoả là cách chính tài , thấu mậu thổ là cách chính quan , thấu canh kim là cách chính ấn . Nếu không thấu thì tùy việc đoán mà chọn . Thân vượng gặp tài lộ hoặc thấu quan là tốt . Gặp tam hợp , lục hợp cũng tốt . Kị gặp thất sát thương quan . Tuế vận cũng thế .

Ngày quý sinh tháng ngọ , can thấu định hoả là cách thiên tài , thấu kỉ thổ là cách thất sát . Nếu không thấu tùy đó mà chọn .

Ngày quý sinh tháng mùi là gặp mộ địa , can thấu kỉ thổ là cách thất sát , thấu ất mộc là cách thực thần , thấu định hoả là cách thiên tài . Nếu không thấu thì tuỳ đó mà chọn .

Ngày quý sinh tháng thân , can thấu canh kim là cách chính ấn , thấu mậu thổ là cách chính quan . Nếu không thấu tuỳ đó mà chọn . Thấu quan , ấn là tốt , kị gặp tài làm tổn thương ấn . Tuế vận cũng thế .

Ngày quý sinh tháng đậu , can thấu tân kim là cách thiên ân . Không thấu thì tùy đố mà chọn .

Ngày quý sinh tháng tuất là tạp khí Can thấu mậu thổ là cách chính quan , thấu đinh hoả là cách thiên tài , thấu tân kim là cách thiên ấm . Nếu không thấu , tùy đó mà chọn .

Quý sinh tháng hợi là cách bình dương ( kiếp tài ) .

2. Đánh giá sự tốt xấu của các chính cách

1. Cách chính quan

1 ) Khi nhật chủ vượng có tài thì có thể sinh quan sát là tốt .

2 ) Khi nhật chủ nhược , chính quan mạnh , có ấn thì sẽ sinh thân là tốt .

3 ) Tứ trụ cổ chính quan , không có thật sát ( tức là quan sát không hôn Lạp ) là tốt .

4 ) Nhật chủ vượng , tài nhẹ , kiếp trùng trùn ( nhưng không phải là ngoại cách là mệnh xấu ,

5 ) Gặp hình xung phá hại là mệnh xấu

6 ) Tứ trụ có quan sát hôn tạp là mệnh xấu .

2. Cách thất sát

1 ) Nhật chủ vượng , cách thất sát là tốt .

2 ) Nhật chủ vượng mà thất sát mạnh quá , có thực nhấn cho ng là tốt

3 ) Nhật chủ nhược , sát vượng , cố ấn sinh cho nhật chủ là tốt

4 ) Nhật chủ và thất sát cả hai ngang nhau lại gặp chính quan quan không hỗn tạp ) là tốt .

5 ) Nhật chủ nhược , cách thất sát là unệnh xấu

6 ) Nhật chủ vượng , cách thất sắt gặp hình xung thì bị phá hại

7 ) Nhật chủ nhược , lại gặp tài sinh cho thật sát không có thực thương để khắc chế là mệnh xấu .

3. Cách thiên , chính ấn

1 ) Nhật chủ vượng , có ấn gập quan hoặc sát là tốt .

2 ) Nhật chủ vượng , ấn mạnh ( tức rất nhiều ấn ) , có thực thương và hơi nhật chủ là tốt .

3 ) Nhật chủ mạnh , ấn nhiều , có chính tài chế ngự ấn là tốt nhưng tài không nên quá nhiều thành khắc ấn , làm cho ấn trở thành vô lực)

4 ) Nhật chủ nhược , ấn nhược lại gặp tài khắc ấn là mệnh xấu .

5 ) Nhật chủ nhược , sát nhiều , lại còn gặp quan ấn là mệnh xấu .

6 ) Nhật chủ nhược , ấn gặp hình xung là bị phá hại ,

4. Cách chính , thiên tài

1 ) Nhật chủ vượng , tài cũng vượng , có quan tỉnh chế ngự nhật chủ là mệnh tốt ,

2 ) Nhật chủ nhược , tài tỉnh vượng , có ấn , tỉ kiếp hộ thân là mệnh tốt .

3 ) Nhật chủ vượng , tài nhược , có thực thần xì hơi nhật chủ để sinh tài là tốt ,

4 ) Nhật chủ vượng , tài nhược , lại gặp tỉ kiếp nhiều giúp nhật chủ khắc tài là mệnh xấu .

5 ) Cho dù nhật chủ vượng hay nhược , tài gặp hình xung phá hại đều là mệnh xấu .

5. Cách thực thần

1 ) Nhật chủ vượng , thực thần cũng vượng , gặp tài xì hơi thực thần là tốt .

2 ) Nhật chủ vượng , sát mạnh quá , có thực thần chế sát ( không gặp tài sinh sát ) là tốt ,

3 ) Nhật chủ nhược , thực thương xì hơi thân mạnh quá , có ấn hộ thân là tốt .

4 ) Nhật chủ vượng , thực thần yếu lại gặp ấn sinh thân là mệnh xấu .

5 ) Nhật chủ nhược , thực thần sinh tài lại có thất sát là mệnh xấu ,

6 ) Nhật chủ vượng , thực thần lại gặp hình xung phá hại , không thể xì hơi thân là mệnh xấu .

6. Cách thương quan

1 ) Nhật chủ vượng , thương quan xì hơi thân sinh cho tài là tốt .

2 ) Nhật chủ nhược , thương quan xì hơi thân nhưng có ấn sinh phù thân là tốt .

3 ) Nhật chủ vượng , sát nhiều , có thương quan khắc chế thất sát là tốt ,

4 ) Nhật chủ nhược , thương quan vượng , có ấn hộ thân , chế ngự thương quan là tốt .

5 ) Nhật chủ nhược , lại gặp quan sát khắc thân là mệnh xấu .

6 ) Nhật chủ nhược ; nhiều sinh cho quan sát là xấu .

7 ) Nhật chủ vượng , thương quan nhẹ , lại gặp ấn nhiều sinh cho nhật chủ , khắc thương quan là mệnh xấu .

8 ) Nhật chủ vượng , thương quan nhẹ , lại gặp hình xung phá hại là mệnh xấu .

7. Cách tiến lộc , cách bình dương

1 ) Nhật chủ vượng , tài , quan sát cũng vượng là tốt .

2 ) Nhật chủ vượng , thực thương cũng vượng là tốt .

3 ) Nhật chủ nhược , gặp ấn , tỉ kiếp giúp trợ nhật chủ là tốt .

4 ) Nhật chủ vượng , tài nhược , lại gặp tỉ kiếp nhiều là mệnh xấu .

5 ) Nhật chủ vượng , thực thương yêu , lại gặp ấn nhiều khác thực thương là mệnh xấu .

6 ) Nhật chủ nhược , ấn và tỉ kiếp cũng nhược , tài quan sát nhiều là mệnh xấu .

3. Cách cục đặc biệt

a . Cách khúc trực ( mộc độc vượng )

Cách cục này đòi hỏi những điều kiện dưới đây :

1 ) Nhật chủ là giáp , ất mộc .

2 ) Sinh tháng dần , mão ( thìn ) , mộc khí nắm lệnh , hoặc hợi mão mùi được chi tháng trừ khỉ .

3 ) Trong Tứ trụ không có canh , tân , dậu kim khắc mộc .

4 ) Trong địa chỉ không có tam hội cục , tam hợp cục hoá mộc , hoặc mộc nhiều , thế vượng

Ví dụ 1. Năm quý mão , tháng giáp dần , ngày giáp dần , giờ giáp tí . Giáp mộc sinh tháng dần , mộc khí nắm lệnh . Can năm quý thuỷ có thể sinh cho giáp mộc , địa chỉ tí thuỷ sinh phù giáp mộc . Toàn cục có sáu mộc hai thuỷ , không thấy canh , thân , tân , dậu . Đó là cách khúc trực .

Ví dụ 2. Năm quý hợi , tháng giáp dần , ngày ất mão , giờ quý mùi . Ất mộc sinh tháng dần là mộc khí nắm lệnh . Các địa chỉ hợi mão mùi tam hợp hóa mộc . Toàn cục có sáu mộc hai thuỷ , không thấy canh thân tân dậu , nên là cách khúc trực .

Ví dụ 3. Năm ất mùi , tháng kỷ mão , ngày giáp dần , giờ ất hợi . Giáp sinh tháng mão , các địa chỉ hội mão mùi tam hợp hóa mộc . Tuy có kỷ thổ nhưng hư phù vô lực . Toàn bộ có bảy mộc một thổ nên là cách khúc trực

Ví dụ 4. Năm định hợi , tháng nhâm dần , ngày giáp tí , giờ mậu thìn . Giáp sinh tháng dẩn , địa chi dần hợi lục hợp hóa mộc , tí thìn bán tam hợp hóa thuỷ cục , tuy có tuất thổ nhưng hư phù vô lực , lại bị giáp mộc khắc . Định hoả cũng hư phù vô lực , nên vẫn là cách khúc trực .

Ví dụ 5. Năm nhậm dần , tháng quý mão , ngày giáp tí , giờ mậu thìn , Giáp mộc sinh tháng mão , nên mộc khí nắm lệnh . Ba địa chỉ dẩn mão thìn tam hội hóa mộc , lại có tí thuỷ sửu thổ và các thiên can nhâm , quý thuy sinh cho mộc . Trong Tứ trụ không có canh , tân , dậu , nên vẫn là cách khác trục .

b . Cách viêm thượng ( hoả độc vượng )

1 ) Nhật chủ là bính , định hoả .

2 ) Sinh vào các tháng tị , ngọ ( mùi ) , được nguyệt khí nắm lệnh hoặc các tháng : dần , ngọ , tuất được chi tháng trừ khử khí .

3 ) Tứ trụ hoả mộc nhiều ,

Ví dụ 1. Năm định tị , tháng tính ngọ , ngày bính ngọ , giờ ất mùi . Nhật nguyên bình hoa sinh ở tháng ngọ , hoả thân nắm lệnh Ba địa chi tị ngọ mùi tam hội hóa hoả , lại gặp các can bính , định hoả , ất mộc . Như vậy cả bốn trụ có bảy hoả một mộc , tức hoả thuần chân , nên Tứ trụ này thành cách viêm thượng .

Vi dụ 2. Năm bính tuất , tháng giáp ngọ , ngày định tị , giờ nhậm dần Nhật nguyên định hoả sinh vào tháng ngọ , hoả thân nắm lệnh . Các địa chỉ dẫn ngọ tuất tam hợp hoá hoả . Can giờ tuy có nhâm thủy nhưng nhâm hư phù vô lực , can tháng giáp mộc lại xì hơi thuỷ , mộc còn sinh hoả thông quan . Nên Tứ trụ thuộc cách viêm thượng .

Ví dụ 3. Năm giáp tuất , tháng bính dần , ngày bính ngọ , giờ canh dần . Bính sinh tháng dần , được chỉ tháng trừ khí . Ba địa chỉ dẫn , ngọ , tuất tam hợp hóa hoả , tuy có canh kim , nhưng canh hư phù nên không phá được cách . Do đó Tứ trụ này thuộc cách viêm thượng .

Ví dụ 4. Nằm giáp ngọ , tháng bính dần , ngày đinh mão , giờ bính ngọ . Đinh hoả sinh vào tháng dần tuy mất lệnh , nhưng dần ngọ bán hợp hóa hoả , lại có mão mộc sinh hoả , thiên can giáp mộc cũng sinh hoả , lại còn được hai bính hoả tương trợ : Tứ trụ không có nhâm , hợi , quý , tí thuỷ phá cách , nên là cách viêm thượng .

Vi dụ 5. Năm ất mùi , tháng tân tị , ngày bính ngọ , giờ giáp ngọ

Hai can bình tân có tị ngọ thuộc hoà trợ giúp nên đây là trường hợp thê tòng phu hoá hoả , lại sinh vào tháng tị nên hoả khí nắm lệnh . Ba địa chi tị ngọ mùi tam hội hóa hoả cục , lại có thiên can giáp , ất mộc sinh trợ . Toàn cục không có nhâm , quý , hợi , tí thuỷ phá cách , nên là cách viêm thượng .

C. Cách gia tường ( thổ độc vượng )

1 ) Nhật chủ là mậu , kỷ thổ .

2 ) Sinh ở các tháng thìn sửu mùi , thổ khí nắm lệnh hoặc Tứ trụ thuần thổ .

3 ) Có đầy đủ bốn kho của các địa chỉ thìn tuất sửu mùi ( ba kho cũng được ) .

4 ) Tứ trụ không có giáp , ất , dần , mão mộc để phá cách .

Vi dụ 1. Năm mậu thìn , tháng kỷ mùi , ngày mậu thìn giờ quý sửu . Mậu thổ sinh ở tháng mùi , thổ khí nắm lệnh . Các chi thì sửu mùi có ba thổ kho . Hai thiên can mậu , quý ngũ hợp được thì sửu thổ trợ giúp tức là thê tòng phu hoá thổ , lại còn có mậu kỷ thổ trợ giúp . Toàn cục không có giáp , ất , dần , mão mộc phá cách , nên là cách gia tường .

Ví dụ 2 , Năm mậu thìn , tháng kỷ mùi , ngày kỷ tị , giờ mậu thổ . Kỷ thổ sinh ở tháng mùi , thổ khí nắm lệnh . Các chi thìn , mùi thuộc thổ có tị hoả sinh Thiên can có 2 kỷ , 2 mẫu đều thuộc thể . Trong Tứ trụ không có giáp , ất , dần , mão mộc phá cách , nên thực cách gia tường .

Ví dụ 3. Năm kỷ tị , tháng mậu thìn , ngày mậu tuất , giờ kỷ mùi . Mậu thổ sinh tháng thìn là thổ khí nắm lệnh . Ba chị thì tuất mùi là ba thổ kho có tí hoả sinh cho . Thiên can toàn là thổ . Không có giáp , ất , dần , mão mộc phá cách , nên là cách gia tường .

Ví dụ 4. Năm bính thìn , tháng mậu tuất , ngày kỷ sửu , giờ kỷ tị . Ký sinh tháng tuất , thổ khí nắm lệnh . Ba địa chỉ thìn , sửu , tuất thổ là ba kho có tí hoả sinh cho . Thiên can ba thổ một hỏa không có giáp , ất , dần , mão mộc phá cách . Nên vẫn là cách gia tường .

Ví dụ 5. Năm đỉnh sửu , tháng dinh mùi , ngày kỷ sửu , giờ mậu thìn . Kỷ thổ sinh tháng mùi , thổ khí nắm lệnh . Ba chi thìn , sửu , mùi là ba thổ kho , có hai thiên can định hoả sinh cho , còn có mậu thổ tương trợ . Trong cục không có giáp , ất , dần , mão phá cách . Nên là cách gia tường ,

d . Cách tòng cách ( kim độc vượng )

1 ) Nhật chu là canh , tân kim .

2 ) Sinh vào tháng : thân , dậu , kim khí nắm lệnh .

3 ) Các chi thân , dậu , tuất tam hội thành kim cục , hoặc tị dậu sửu tam hợp hóa kim cục .

4 ) Trong Tứ trụ không có bính , định , ngọ , tị để phá cách .

Ví dụ 1. Năm mậu thân , tháng tân dậu , ngày canh tuất , giờ ất dậu , Nhật chủ là canh kim sinh tháng dậu , kim khí nắm lệnh . Các chỉ thân dậu tuất tam hội hóa kim cục . Thiên can ất , canh ngũ hợp được tuất dầu trợ giúp hóa thành kim cục , còn được mậu thổ sinh kim và tân kim tương trợ . Trong cục không có bính , định , ngọ , tị phá cách . Nên thuộc cách tòng cách ,

Vi dụ 2. Năm canh thân , tháng tân dậu , ngày tận tị , giờ kỷ sửu . Nhật nguyên tân kim sinh tháng dậu kim khí nắm lệnh . Các chi tị dậu sửu tam hợp hóa kim cục . Còn được kỷ thổ sinh cho , canh và tân kim trợ giúp . Trong cục không có bính , định , ngọ , tị phá cách , nên thuộc cách tăng cách .

Ví dụ 3. Năm canh thân , tháng ất dậu , ngày canh tuất , giờ Ất dậu . Nhật chủ là canh kim sinh tháng dậu , kim khí nắm lệnh . Các chi thân dậu tuất tam hội hóa kim cục , được các địa chỉ giúp đỡ . Trong cục không có bính , định , ngọ , tị phá cách , nên thuộc cách tòng cách .

Vi dụ 4. Năm mậu thân , tháng canh thân , ngày tận dậu , giờ mậu tuất . Nhật chủ tân kim sinh tháng thân , kim khí nắm lệnh . Các chi thân , dậu , tuất tam hội hóa kim cục . Có hai thiên can mậu sinh kim lại được canh kim trợ giúp . Không có bính , định , ngọ , tị phá cách , nên thuộc cách tòng cách .

Ví dụ 5. Năm mậu thân , tháng canh thân , ngày canh thân , gờ giáp thân . Canh kim sinh tháng thân , kim khí nắm lệnh . Địa chỉ có bốn thân kim , thiên can có mậu thổ sinh kim , hai canh trợ giúp . Tuy giáp mộc có thể sinh hoả nhưng giáp hư phù . Trong cục không có bính , định , ngọ , tị phá cách nên thuộc cách tòng cách .

e . Cách nhuận hạ ( thuỷ độc vượng )

1 ) Nhật chủ là nhâm , quý , thuỷ .

2 ) Sinh ở các tháng hợi , tí ( thìn ) , thuỷ khí nắm lệnh hoặc các tháng thân , sửu được chi tháng trừ khí .

3 ) Trong Tứ trụ không có mậu , tuất , mùi thổ khắc thuỷ .

4 ) Địa chỉ có tam hội cục , tam hợp cục hóa thuỷ , hoặc thuỷ rất nhiều ,

Ví dụ 1. Năm nhâm thần , tháng nhâm tí , ngày nhâm thìn , giờ canh tí . Nhật chủ nhâm thuộc thuỷ , sinh tháng tí , thuỷ khí nắm lệnh . Các địa chỉ thân tí thìn tam hợp hóa thuỷ cục , lại được thiên can canh kim , nhâm thuỷ trợ giúp . Trong Tứ trụ không có mậu , tị , tuất mùi phá cách . Nên thuộc cách nhuận hạ .

Ví dụ 2. Năm nhâm thần , tháng tân hợi , ngày nhâm tí , giờ canh tí . Nhâm thuỷ sinh vào tháng hợi , được thuỷ trừ khí , các chi thân tín của năm ngày giờ bán tam hợp hóa thành thuỷ cục , còn được các can canh , tân kim , nhân thuỷ trợ giúp . Trong cục không có mậu , kỷ , tuất , mùi phá cách , nên thuộc cách nhuận hạ .

Ví dụ 3. Năm nhâm tí , tháng quý sửu , ngày tân hợi , giờ bính thân . Bình tân ngũ hợp hóa thuỷ , sinh tháng sửu , thuỷ khí nắm lệnh . Ba địa chỉ hơi tí sửu tam hội hóa thuỷ cục . Thân thuộc kim sinh thuỷ , còn có các can nhâm , quý thuỷ trợ giúp , nên thuộc cách nhuận hạ .

Ví dụ 4. Năm nhậm dần , tháng nhâm tí , ngày đinh hợi , giờ quý sửu . Hai can định nhâm ngũ hợp , được tí hợi trợ giúp mà thành " thế tòng phu hóa " hoá thành thuỷ cục , sinh tháng tí , thuỷ khí nắm lệnh . Ba chỉ hợi tí sứu hội thành thuỷ cục , Thiên can có nhâm quý thủy trợ giúp , địa chỉ dần mộc tàng ất mộc . Mệnh cục không có mậu , kỉ , tuất , mùi phá cách , nên là cách nhuận hạ .

Ví dụ 5. Năm tân hợi , tháng canh tí , ngày quý sửu , giờ nhâm tí . Quý thuỷ sinh tháng tí , thủy khí này lệnh . Ba địa chỉ hợi , tí , sửu tam hội hóa thủy cục , Thiên can canh , tan kim sinh thủy , còn có nhâm quý thuỷ trợ giúp . Trong mệnh cục không có mậu , kỷ , tuất , mùi phá cách . Cách nhuận hạ .

h . Cách tòng tài

1 ) Nhật chủ nhược , mệnh cục không có ngang vai , kiếp tài hoặc không có chính , thiên ấn sinh phù .

2 ) Can chi tài vượng , hoặc có thực thẩn , thương quan xì hơi nhật chủ tái sinh tài .

Ví dụ 1. Năm mậu tuất , tháng bính thìn , ngày ất mùi , giờ bính tuất . Nhật chủ ất mộc , chỉ toàn thể cục , tài vượng . Thiên can có hai bính vì hơi mộc để tái sinh tài , còn mậu thổ trợ giúp . Trong mệnh cục tuy có ất mộc nhưng không có khí gốc , nên được cách tòng tài .

Ví dụ 2. Năm ất mão , tháng kỉ mão , ngày canh ngọ , giờ định hợi . Nhật chủ ất mộc , chỉ toàn thể cục , tài vượng . Thiên can có hai bính vì hơi mộc để tái sinh tài , còn mậu thổ trợ giúp . Trong mệnh cục tuy có ất mộc nhưng không có khí gốc , nên được cách tòng tài .

i . Cách tòng sát

1 ) Nhật chủ nhược , không có khí gốc .

2 ) Tứ trụ quan , sát nhiều , không có thực thương khắc chế quan sát .

3 ) Có hỉ tài để sinh quan sát .

Ví dụ 1. Năm nhâm tí , tháng quý sửu , ngày bình tí , giờ canh tí . Nhật chủ là bình hỏa , sinh ở tháng sửu . Các chỉ khác đều là tí thuy , là quan , là sát . Thiên can nhâm quý thuộc thuỷ , canh kim sinh thuỷ . Từ trụ thuỷ rất vượng , hoả không có gốc . Đành được cách tòng sát ,

Vi dụ 2. Năm bính dần , tháng giáp ngọ , ngày canh ngọ , giờ bính tuất . Nhật chủ là canh , sinh tháng ngọ hỏa . Ba chi dần ngọ tuất tam hợp hóa hỏa cục , còn được bình hỏa thấu can . Thiên can giáp mộc sinh hỏa , canh kim trong Tứ trụ không có gốc , Tứ trụ toàn quan sát nên là cách tòng sát ,

k . Cách tòng nhi

1 ) Chi tháng là thực thần hoặc thương quan của nhật chủ . Toàn cục thực thần vượng .

2 ) Mệnh cục nhất định phải có tài ( thực thương sinh tài , tức có nhi ( có nghĩa là con ) thì phải có cháu ) thì mới thành cách .

3 ) Trong mệnh cục có tam hội cục , hoặc tam hợp cục hoá thành thực thần , thương quan .

4 ) Trong mệnh cục không có quan , sát hoặc chính , thiên ấn khắc nhật chủ hoặc khắc thực , thương ,

Ví dụ 1. Năm ất tị , tháng bính tuất , ngày ất mùi , giờ bính tuất . Ất mộc sinh tháng tuất , chọn nhân nguyên trong tuất không có dinh hoa làm thực thần . Hai thiên can ất mộc sinh cho bính hoả , bính hoả lại sinh cho tị hoả , tuất thổ , nên trở thành cách tòng nhi ,

Ví dụ 2. Năm mậu tí , tháng tân dậu , ngày kỷ dậu , giờ nhâm thần . Kỷ thổ sinh tháng dậu , dậu thuộc kim là thực thần . Trong Tứ trụ , kỷ mậu thuộc thổ sinh kim ( tức sinh cho tân dậu thân ) , kìm lại sinh thủy cho nhâm thuỷ . Cứ thế tương sinh nên thành cách tòng nhi .

I. Cách hóa khí

1 ) Nhật can ngũ hợp với can bên cạnh ( can tháng hoặc can giờ ) hoá thành cục có ngũ hành khác với ngũ hành nhật chủ .

2 ) Trong mệnh cục ngũ hành vừa ngũ hợp thành , tạo nên chuyển cục vượng

3 ) Ngũ hành của hóa thân giống với ngũ hành chi tháng .

4 ) Hỷ thần thực , thương làm xì hơi thế vượng của nó .

Ví dụ 1. Hoá thành mộc cách ( ngày định , giờ hoặc tháng nhâm ) hay ( ngày nhâm , giờ hoặc tháng định ) . Sinh năm bính dần , tháng canh dần , ngày định mão , giờ nhâm dần . Định nhâm ngũ hợp hóa mộc , sinh tháng dần là mộc nắm lệnh . Các địa chi dần mão đều thuộc mộc . Can canh kim không có gốc , lại bị bính khắc , nên thành mộc cách .

Ví dụ 2. Cách hoá mộc . Sinh năm giáp thìn , tháng đinh mão , ngày nhâm dần , giờ giáp thìn . Đinh nhâm ngũ hợp hoá mộc , sinh tháng mão nên mộc khí nắm lệnh . Ba chị dân mão thìn tam hội hóa mộc , có thiên can giáp mộc tương trợ . Không có thực thần định hoả , nên là cách hóa mộc ,

Ví dụ 3. Cách hoá hoả . Sinh năm bính dần , tháng quý tị , ngày mậu thìn , giờ mậu ngọ . Mậu quý được tí thìn trợ giúp hóa thành hoả cục , sinh tháng tị hỏa vượng . Địa chi dần mộc sinh hoả , tị ngọ hoả vượng , thiên can kính hoả trợ giúp , thìn thổ xì hơi hỏa hoá thành cách hóa hoả .

Ví dụ 4. Cách hóa thổ ( ngày giáp , giờ hoặc tháng tị hay ngày tị , giờ hoặc tháng giáp ) . Sinh năm định mùi , tháng giáp thìn , ngày kỷ dậu , giờ mậu thìn . Giáp kỷ ngũ hợp chính hoá thành thổ cực , sinh tháng thìn , thổ khí nắm lệnh . Hai chị thìn mùi thuộc thổ , can định hoả sinh thổ , có mậu thuộc thể tương trợ . Hỷ thẩn dậu kim xì hơi thổ . Nên thành cách hóa thổ .

Ví dụ 5. Cách hoá thổ .

Sinh năm mậu thìn , tháng tính thìn , ngày giáp tí , giờ kỷ sửu ,

Giáp kỷ ngũ hợp hóa thành thổ cực , sinh tháng thìn , thổ khi nấm lệnh . Hai chí thìn sứu thuộc thổ . Hai can mậu kỷ thuộc thổ , lại được bình hoả sinh trợ . Nên thành cách hóa thổ ,

Ví dụ 6. Cách hoá kim ( ngày ất , giờ hoặc tháng canh hay ngày canh , giờ hoặc tháng ất ) . Sinh năm giáp thân , tháng nhâm thân, ngày ất sửu , giờ canh thìn . Át canh ngũ hợp hóa kim cục , sinh tháng thân kim vượng Hai chị thìn sửu thuộc thổ sinh kim , thân kim tỉ kiếp . Thiên can tuy có giáp mộc nhưng hư phù không gốc , lại bị canh kim khắc phạt . Nên thành cách hóa kim .

Ví dụ 7. Cách hoá kim . Sinh năm mậu tuất , tháng tân dậu , ngày ất dậu , giờ canh thìn . Ất canh ngũ hợp hóa kim , sinh tháng dậu kim vượng . Hai chị thìn tuất thuộc thổ sinh kim , lại có hai dậu kim tương trợ . Thiên can mậu thổ sinh kim , tân kim tương trợ . Nên thành cách hóa kim ,

Ví dụ 8. Cách hoá thuỷ ( ngày bính , giờ hoặc tháng tân hay ngày tân , giờ hoặc tháng bính ) . Sinh năm nhâm tí , tháng quý sửu , ngày tân hợi , giờ bính thân . Bính thân chính hóa thủy cục , sinh tháng sửu thủy vượng . Có chi thân kim sinh thuỷ , ba chi tí hợi sửu tam hội thành thuỷ cục . Hai can nhâm quý thuỷ thuộc thuỷ nên thành cách hóa thuỷ .

Ví dụ 9. Cách hoá thuỷ . Sinh năm Giáp thìn , tháng bính tí , ngày tân hợi , giờ nhâm thìn . Bính tân ngũ hợp chính hóa thuỷ , sinh tháng tí thủy vượng . Hai chi tí thìn hợp hóa thuỷ . Thiên can nhâm thuỷ tương trợ nên thành cách hoá thuỷ

IV . BÀN VỀ DỤNG THẦN

Người có bệnh thì mời thầy thuốc khám bệnh . Thầy thuốc căn cứ bệnh tình , đối chứng mà bốc thuốc, bệnh sẽ khỏi . Như thế gọi là có bệnh phải chữa bằng thuốc . Gì gọi là bệnh ? Tức trong tâm chữ vốn có sẵn mầm có hại .

Gì gọi là thuốc ? Tức trong tám chữ vốn sẵn có cái hại nhưng lại tìm được cái để khử đi .

Tứ trụ của người ta là do thiên can địa chỉ , âm dương ngũ hành sắp xếp tổ hợp mà thành , nó không giống như các thiết bị máy móc là do ý chí chủ quan eủa con người thiết kế nên . Do đó , trong Tứ trụ sự sinh khắc của âm dương ngũ hành không cân bằng , ngang hoà nhau nên mới dẫn đến âm dương ngũ hành sinh khắc chế hóa , vượng suy , mạnh yếu không như nhau . Ví dụ như có trường hợp thân vượng nhưng không bị chế ngự nên thái quá . Sự " bất cập " và " thái quá " này gọi là bệnh . Cái để trị sự bất cập và thái quá này là thuốc . Thuốc này chính là " dụng thần " trong Tứ trụ .

Tứ trụ của một người nếu là thuần thổ , can ngày thuộc thuỷ là thân yếu nên bị sát nặng ; can ngày thuộc kim là thổ nhiều kim bị vùi lấp ; can ngày hoả nhiều là lửa mà không sáng ; can ngày thuộc mộc là tài nhiều , thân nhược ; can ngày thuộc thể là ngang vai quá mạnh . Nếu lấy thể là bệnh của các cách thì mộc là thuốc để chữa bệnh đó . Như dụng thần là thực thần thương quan , ấn là bệnh , lấy tài là thuốc để chữa bệnh của nó . Nếu dụng thần là ngang vai , quan sát là bệnh , lấy thực thần thương quan là thuốc để chữa bệnh đó . Nếu dụng thần là tài , tỉ kiếp sẽ là bệnh , lấy quan sát làm thuốc để chữa bệnh đó . Những cái khác đại loại cũng thế , đều nguyên tắc cơ bản là chọn dụng thần .

Khi chọn dụng thần , thường gặp hiện tượng trong Tứ trụ bệnh nặng mà thuốc nhẹ , hoặc bệnh nhẹ mà thuốc nặng . Khi gặp trường hợp như thế thì thường phải dựa vào can của lưu niên , đại vận , tiểu vận và cung mệnh để bổ cứu lại sự bất túc , tìm được sự cân bằng . Có lúc trong Tứ trụ , ngũ hành của can chi không đủ , nhưng dụng thần lại đúng là hành đang thiếu thì vẫn có thể dùng dụng thần để bổ sung cho hành đang khuyết đó . Nếu trong Tứ trụ các thiên can đều là mộc , còn các địa chỉ có thuỷ , thổ , hoả , không có kim , nếu muốn lấy kim làm dụng thần để chế ngự mộc thì vẫn có thể lấy được . Nhưng không có kim thì chế ngự như thế nào ? Lúc đó cần nhờ sự tác động của nhân tạo : như điều động công tác , phương vị chỗ ở về phía tây nơi sinh ra hoặc trong tên gọi có chữ kim . Đương nhiên cũng có thể lấy hỏa làm dụng thần , vì hoả có thể làm xẹp khí vượng của mộc . Người xưa đã viết trong rất nhiều sách : " Cái quý trong tám chữ là sự trung hoà " . Tức là nói : thiên can địa chỉ trong Tứ trụ , âm dương ngũ hành đều đủ cả . Sự sinh khắc cân bằng là không có bệnh . Quan điểm này dù là trên lý luận hay trong thực tiễn đều dùng . Sách " Mệnh lý tham nguyên ” nói rất đúng : " Bệnh nặng mà được thuốc là người đại phú đại quý vậy , bệnh nhẹ mà dược thuốc là người tiểu phú tiểu quý vậy . Không có bệnh và không có thuốc là người không phú , không quý vậy " . Trong thực tiễn , người có đại hoạ đại nạn luôn luôn có đại phúc . Như người ta thường nói : dại nạn không chết tất có phúc dày . Ngược lại có người suốt đời bình thường , không gặp tai vạ , đau khổ , đời phẳng lặng chẳng qua là vì sống mơ mơ hồ hồ , hời hợt nhạt nhẽo , không có phú cũng không có quý . Như thế làm sao có thể gọi trung hòa là quý ?

Dụng thần đối với một người mà nói là vô cùng quan trọng . Vì nó không những liên quan với tiến độ của vận mệnh mà còn quyết định đến sự sống chết . Do đó chọn dụng thần là điều quan trọng nhất trong dự đoán Tứ trụ , cũng là điều khó nhất . Dụng thần chọn đúng , dụng thần đắc lực thì không những chế ngự được cái xấu , trợ giúp cái tốt , đề phòng được tai vạ mà còn khiến cho cuộc đời thuận lợi , từng bước tiến lên .

1. Cách chọn dụng thần của các cách phổ thông

a . Dụng thần của cách chính tài

Nhật chủ vượng , khi tỉ kiếp nhiều , quan sát có thể chế ngự tỉ kiếp đoạt tài nên lấy quan sát làm dụng thần . Thực thương có thể làm hao tổn khí của tỉ kiếp , nên trong trường hợp không có quan sát có thể lấy thực thần thương quan làm dụng thần . Nếu trong cách đó ấn nhiều , tài sẽ khắc ấn thủ , nên lấy tài làm dụng thần . Thực , thương có thể làm hao tổn khí của ấn nên có thể lấy thực thần , thương quan làm dụng thần . Người trong cách chính tài thực , thương nhiều , thực , thương có thể dùng để sinh tài nên có thể lấy tài tình làm dụng thần . Nhật chủ yếu , khí tài nhiều thì tỉ kiếp có thể bảo hộ cho thân , nên lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Nếu trong cách đó thực thương nhiều , ấn có thể chế ngự thực thương nên có thể lấy ấn làm dụng thần . Tỉ kiếp có thể làm hao khí của thực thương , nên trong trường hợp không có ấn , có thể lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Khi trong cách đó gặp quan sát nhiều , tỉ kiếp có thể giúp đỡ thân nên lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Ấn có thể làm hao tổn làm dụng thần . khí của quan sát và tinh thần , nên khi không có tỉ kiếp có thể lấy ấn

b . Dụng thần của cách chính quan

Nhật chủ vượng , khi tỉ kiếp nhiều , quan sát chế ngự được tỉ kiếp nên lấy quan sát làm dụng thần . Thực thẩn , thương quan có thể làm xì hơi của tỉ kiếp , trong trường hợp không có quan sát , có thể lấy thực thần , thường quan làm dụng thần . Nếu trong cách cục ấn nhiều , tài khắc ấn , nên có thể lấy tài tình làm dụng thần . Quan sát có thể là xì hơi của ấn thụ , vì vậy trong trường hợp không có tài , có thể lấy quan sát làm dụng thần . Khi trong cục thương quan và thực thần nhiều , ấn chế ngự được thương , thực nên có thể lấy ấn thụ làm dụng thần . Thương , thực sinh tài làm dụng thần , nhưng làm tổn hao thân , trường hợp không có ấn thụ , có thể lấy tài tình Nhật chủ nhược , khi cách chính quan có tài nhiều , tỉ kiếp có thể hỗ giúp tài nên có thể lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Ấn thụ có thể làm hao tổn khí của tài , trong trường hợp không có tỉ kiếp , có thể lấy ấn thụ làm dụng thần . Nếu trong cách cục quan sát nhiều , thực , thường có thể chế ngự , nhưng cách chính quan không được lấy thực , thương làm dụng thần Ấn thụ có thể làm xì hơi của quan sát , nên lấy ấn thụ làm dụng thần . Tỉ kiếp có thể giúp đỡ thân , trong trường hợp không có ấn thụ , có thể lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Người mà trong cách cục thực , thương nhiều , ấn có thể chế ngự thực thương , nên lấy ấn thụ làm dụng thần .

c . Dụng thần của cách chính an

Nhật chủ vượng , khi tỉ kiếp nhiều , quan sát có thể chế ngự tỉ kiếp nên có thể lấy quan sát làm dụng thần . Thực thương có thể làm xì hơi của tỉ kiếp , trong trường hợp không có quan sát , có thể lấy thực thần , thương quan làm dụng thần . Nếu trong cách cục tài tình nhiều , quan sát có thể làm xì hơi của tài tinh , nên có thể lấy quan sát làm dụng thần . Nếu ấn thụ nhiều , tài có thể khắc ấn , nên lấy tài tình làm dụng thần . Thực thân có thể làm hao tổn khí của ấn thụ , trong trường hợp không có tài tinh , có thể lấy thực thần , thương quan làm dụng thần .

Nhật chủ nhược , khi thực thần , thương quan nhiều , ấn thụ có thể chế ngự thực thương , nên có thể lấy ấn thụ làm dụng thần . Tỉ kiếp có thể làm xẹp khí của thực , thương , nên trong trường hợp không có ấn thụ có thể lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Nếu trong cách cục quan sát nhiều , ấn làm xẹp hơi của quan sát , nên có thể lấy ấn thụ làm dụng thần . Tỉ kiếp có thể giúp thân , lại có thể làm hao tổn khí của quan sát , trong trường hợp không có ấn thụ , có thể lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Trong cách cục nếu tài nhiều , tỉ kiếp có thể bảo vệ tài , nên lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Ấn thụ có thể làm tổn hao nguyên khí của tài , trường hợp không có tỉ kiếp , có thể lấy ấn thụ làm dụng thần .

d . Dụng thần của cách thương quan

Nhật chủ vượng , khi tỉ kiếp nhiều quan sát có thể chế ngự tỉ kiếp ( nhưng chưa lý tưởng lắm , vì quan , thương không thể cùng gặp ) nên lấy quan sát làm dụng thần . Nếu trong cách cục ấn nhiều , tài khắc ấn , lấy tài làm dụng thần . Quan sát có thể làm xẹp nguyên khí của ấn thụ , nên trường hợp không có tài , có thể lấy quan sát làm dụng thần .

Nhật chủ nhược , khi thực thần , thương quan nhiều , ấn thụ vừa sinh thân vừa chế ngự được thực , thương , nên lấy ấn thụ làn dụng thần . Từ kiếp làm xẹp hơi của thực , thương , nên trường hợp không có ấn , có thể lấy tỉ kiếp giúp thân làm dụng thần . Nếu trong cách cục tài nhiều , tỉ kiếp có thể hỗ tài , nên lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Ấn thụ có thể làm hao khí của tài , khi không có tỉ kiếp , có thể lấy ấn thụ làm dụng thần . Lại nếu trong cách cục quan sát nhiều , ấn thụ có thể làm xì hơi quan sát , nên có thể lấy ấn làm dụng thần . Tỉ kiếp có thể làm hao tổn khí của quan sát , có thể lấy tỉ kiếp giúp thân làm dụng thần .

Dụng thần của các cách : thiên tài , thiên quan , thực thần đều lấy theo phương pháp lý luận như trên . Ở đây không bàn nữa .

e . Dụng thần của cách thất sát

Nhật chủ vượng , tỉ kiếp nhiều thì chọn quan sát làm dụng thần . Nếu không có quan sát thì chọn tài tinh . Nhật chủ vượng , ấn nhiều thì chọn tài tính làm dụng thần . Không có tài tinh thì chọn quan sát hoặc thực thương . Nhật chủ vượng , quan sát nhiều thì chọn thực thương làm dụng thần . Nhật chủ nhược , tài nhiều thì chọn tỉ kiếp làm dụng thần . Không có tỉ kiếp thì chọn ấn tỉnh .

Nhật chủ nhược , quan sát nhiều thì chọn ấn tính làm dụng thần . Không có ấn thì chọn tỉ kiếp . Nhật chủ nhược , thực thương nhiều thì chọn ấn tính làm dụng thần . Không có ấn tinh thì chọn tỉ kiếp .

h . Dụng thần cho cách thực thần

Nhật trụ vượng , tỉ kiếp nhiều thì chọn quan sát làm dụng thần . Không có quan sát thì chọn thực thương hoặc tài tinh . Nhật chủ vượng , ấn tinh nhiều thì chọn tài tính làm dụng thân . Không có tài tình thì chọn quan sát hoặc thực thương làm dụng thần thông quan .

Nhật chủ vượng , tài tinh nhiều thì chọn quan sát làm dụng thần . Không có quan sát thì chọn thực thương . Nhật chủ nhược , tài tinh nhiều thì chọn ấn tỉnh làm dụng thần . Không có ấn tinh thì chọn tỉ kiếp . Nhật chủ nhược , thực thương nhiều thì chọn ấn tinh làm dụng thần . Không có ấn tính thì chọn tỉ kiếp .

i . Dụng thần của cách kiến lộc

Nhật chủ vượng , chọn tài , quan có lực làm dụng thần . Nếu không có thì chọn thực thương có lực ( vẫn lấy nguyên tắc trung hoà tứ trụ làm chính ) .

Nhật chủ nhược , chọn ấn tinh hoặc tỉ kiếp làm dụng thần ,

k. Dụng thần của cách kình dương

Nhật chủ vượng , chọn tài quan có lực làm dụng thần , hoặc chọn thực thương có lực làm dụng thần .

Nhật chủ nhược , chọn ấn tinh hoặc tỉ kiếp giúp trợ thân làm dụng thần .

Một số sách mệnh học thường liệt cách kiến lộc và cách kình dương vào cách cục đặc biệt . Nhưng tôi cho rằng cách chọn dụng thần của hai cách đó đều giống như các chính cách , không có lý do gì tách riêng chúng ra .

IV . BÀN VỀ DỤNG THẦN

Người có bệnh thì mời thầy thuốc khám bệnh . Thầy thuốc căn cứ bệnh tình , đối chứng mà bốc thuốc, bệnh sẽ khỏi . Như thế gọi là có bệnh phải chữa bằng thuốc . Gì gọi là bệnh ? Tức trong tâm chữ vốn có sẵn mầm có hại .

Gì gọi là thuốc ? Tức trong tám chữ vốn sẵn có cái hại nhưng lại tìm được cái để khử đi .

Tứ trụ của người ta là do thiên can địa chỉ , âm dương ngũ hành sắp xếp tổ hợp mà thành , nó không giống như các thiết bị máy móc là do ý chí chủ quan eủa con người thiết kế nên . Do đó , trong Tứ trụ sự sinh khắc của âm dương ngũ hành không cân bằng , ngang hoà nhau nên mới dẫn đến âm dương ngũ hành sinh khắc chế hóa , vượng suy , mạnh yếu không như nhau . Ví dụ như có trường hợp thân vượng nhưng không bị chế ngự nên thái quá . Sự " bất cập " và " thái quá " này gọi là bệnh . Cái để trị sự bất cập và thái quá này là thuốc . Thuốc này chính là " dụng thần " trong Tứ trụ .

Tứ trụ của một người nếu là thuần thổ , can ngày thuộc thuỷ là thân yếu nên bị sát nặng ; can ngày thuộc kim là thổ nhiều kim bị vùi lấp ; can ngày hoả nhiều là lửa mà không sáng ; can ngày thuộc mộc là tài nhiều , thân nhược ; can ngày thuộc thể là ngang vai quá mạnh . Nếu lấy thể là bệnh của các cách thì mộc là thuốc để chữa bệnh đó . Như dụng thần là thực thần thương quan , ấn là bệnh , lấy tài là thuốc để chữa bệnh của nó . Nếu dụng thần là ngang vai , quan sát là bệnh , lấy thực thần thương quan là thuốc để chữa bệnh đó . Nếu dụng thần là tài , tỉ kiếp sẽ là bệnh , lấy quan sát làm thuốc để chữa bệnh đó . Những cái khác đại loại cũng thế , đều nguyên tắc cơ bản là chọn dụng thần .

Khi chọn dụng thần , thường gặp hiện tượng trong Tứ trụ bệnh nặng mà thuốc nhẹ , hoặc bệnh nhẹ mà thuốc nặng . Khi gặp trường hợp như thế thì thường phải dựa vào can của lưu niên , đại vận , tiểu vận và cung mệnh để bổ cứu lại sự bất túc , tìm được sự cân bằng . Có lúc trong Tứ trụ , ngũ hành của can chi không đủ , nhưng dụng thần lại đúng là hành đang thiếu thì vẫn có thể dùng dụng thần để bổ sung cho hành đang khuyết đó . Nếu trong Tứ trụ các thiên can đều là mộc , còn các địa chỉ có thuỷ , thổ , hoả , không có kim , nếu muốn lấy kim làm dụng thần để chế ngự mộc thì vẫn có thể lấy được . Nhưng không có kim thì chế ngự như thế nào ? Lúc đó cần nhờ sự tác động của nhân tạo : như điều động công tác , phương vị chỗ ở về phía tây nơi sinh ra hoặc trong tên gọi có chữ kim . Đương nhiên cũng có thể lấy hỏa làm dụng thần , vì hoả có thể làm xẹp khí vượng của mộc . Người xưa đã viết trong rất nhiều sách : " Cái quý trong tám chữ là sự trung hoà " . Tức là nói : thiên can địa chỉ trong Tứ trụ , âm dương ngũ hành đều đủ cả . Sự sinh khắc cân bằng là không có bệnh . Quan điểm này dù là trên lý luận hay trong thực tiễn đều dùng . Sách " Mệnh lý tham nguyên ” nói rất đúng : " Bệnh nặng mà được thuốc là người đại phú đại quý vậy , bệnh nhẹ mà dược thuốc là người tiểu phú tiểu quý vậy . Không có bệnh và không có thuốc là người không phú , không quý vậy " . Trong thực tiễn , người có đại hoạ đại nạn luôn luôn có đại phúc . Như người ta thường nói : dại nạn không chết tất có phúc dày . Ngược lại có người suốt đời bình thường , không gặp tai vạ , đau khổ , đời phẳng lặng chẳng qua là vì sống mơ mơ hồ hồ , hời hợt nhạt nhẽo , không có phú cũng không có quý . Như thế làm sao có thể gọi trung hòa là quý ?

Dụng thần đối với một người mà nói là vô cùng quan trọng . Vì nó không những liên quan với tiến độ của vận mệnh mà còn quyết định đến sự sống chết . Do đó chọn dụng thần là điều quan trọng nhất trong dự đoán Tứ trụ , cũng là điều khó nhất . Dụng thần chọn đúng , dụng thần đắc lực thì không những chế ngự được cái xấu , trợ giúp cái tốt , đề phòng được tai vạ mà còn khiến cho cuộc đời thuận lợi , từng bước tiến lên .

1. Cách chọn dụng thần của các cách phổ thông

a . Dụng thần của cách chính tài

Nhật chủ vượng , khi tỉ kiếp nhiều , quan sát có thể chế ngự tỉ kiếp đoạt tài nên lấy quan sát làm dụng thần . Thực thương có thể làm hao tổn khí của tỉ kiếp , nên trong trường hợp không có quan sát có thể lấy thực thần thương quan làm dụng thần . Nếu trong cách đó ấn nhiều , tài sẽ khắc ấn thủ , nên lấy tài làm dụng thần . Thực , thương có thể làm hao tổn khí của ấn nên có thể lấy thực thần , thương quan làm dụng thần . Người trong cách chính tài thực , thương nhiều , thực , thương có thể dùng để sinh tài nên có thể lấy tài tình làm dụng thần . Nhật chủ yếu , khí tài nhiều thì tỉ kiếp có thể bảo hộ cho thân , nên lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Nếu trong cách đó thực thương nhiều , ấn có thể chế ngự thực thương nên có thể lấy ấn làm dụng thần . Tỉ kiếp có thể làm hao khí của thực thương , nên trong trường hợp không có ấn , có thể lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Khi trong cách đó gặp quan sát nhiều , tỉ kiếp có thể giúp đỡ thân nên lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Ấn có thể làm hao tổn làm dụng thần . khí của quan sát và tinh thần , nên khi không có tỉ kiếp có thể lấy ấn

b . Dụng thần của cách chính quan

Nhật chủ vượng , khi tỉ kiếp nhiều , quan sát chế ngự được tỉ kiếp nên lấy quan sát làm dụng thần . Thực thẩn , thương quan có thể làm xì hơi của tỉ kiếp , trong trường hợp không có quan sát , có thể lấy thực thần , thường quan làm dụng thần . Nếu trong cách cục ấn nhiều , tài khắc ấn , nên có thể lấy tài tình làm dụng thần . Quan sát có thể là xì hơi của ấn thụ , vì vậy trong trường hợp không có tài , có thể lấy quan sát làm dụng thần . Khi trong cục thương quan và thực thần nhiều , ấn chế ngự được thương , thực nên có thể lấy ấn thụ làm dụng thần . Thương , thực sinh tài làm dụng thần , nhưng làm tổn hao thân , trường hợp không có ấn thụ , có thể lấy tài tình Nhật chủ nhược , khi cách chính quan có tài nhiều , tỉ kiếp có thể hỗ giúp tài nên có thể lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Ấn thụ có thể làm hao tổn khí của tài , trong trường hợp không có tỉ kiếp , có thể lấy ấn thụ làm dụng thần . Nếu trong cách cục quan sát nhiều , thực , thường có thể chế ngự , nhưng cách chính quan không được lấy thực , thương làm dụng thần Ấn thụ có thể làm xì hơi của quan sát , nên lấy ấn thụ làm dụng thần . Tỉ kiếp có thể giúp đỡ thân , trong trường hợp không có ấn thụ , có thể lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Người mà trong cách cục thực , thương nhiều , ấn có thể chế ngự thực thương , nên lấy ấn thụ làm dụng thần .

c . Dụng thần của cách chính an

Nhật chủ vượng , khi tỉ kiếp nhiều , quan sát có thể chế ngự tỉ kiếp nên có thể lấy quan sát làm dụng thần . Thực thương có thể làm xì hơi của tỉ kiếp , trong trường hợp không có quan sát , có thể lấy thực thần , thương quan làm dụng thần . Nếu trong cách cục tài tình nhiều , quan sát có thể làm xì hơi của tài tinh , nên có thể lấy quan sát làm dụng thần . Nếu ấn thụ nhiều , tài có thể khắc ấn , nên lấy tài tình làm dụng thần . Thực thân có thể làm hao tổn khí của ấn thụ , trong trường hợp không có tài tinh , có thể lấy thực thần , thương quan làm dụng thần .

Nhật chủ nhược , khi thực thần , thương quan nhiều , ấn thụ có thể chế ngự thực thương , nên có thể lấy ấn thụ làm dụng thần . Tỉ kiếp có thể làm xẹp khí của thực , thương , nên trong trường hợp không có ấn thụ có thể lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Nếu trong cách cục quan sát nhiều , ấn làm xẹp hơi của quan sát , nên có thể lấy ấn thụ làm dụng thần . Tỉ kiếp có thể giúp thân , lại có thể làm hao tổn khí của quan sát , trong trường hợp không có ấn thụ , có thể lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Trong cách cục nếu tài nhiều , tỉ kiếp có thể bảo vệ tài , nên lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Ấn thụ có thể làm tổn hao nguyên khí của tài , trường hợp không có tỉ kiếp , có thể lấy ấn thụ làm dụng thần .

d . Dụng thần của cách thương quan

Nhật chủ vượng , khi tỉ kiếp nhiều quan sát có thể chế ngự tỉ kiếp ( nhưng chưa lý tưởng lắm , vì quan , thương không thể cùng gặp ) nên lấy quan sát làm dụng thần . Nếu trong cách cục ấn nhiều , tài khắc ấn , lấy tài làm dụng thần . Quan sát có thể làm xẹp nguyên khí của ấn thụ , nên trường hợp không có tài , có thể lấy quan sát làm dụng thần .

Nhật chủ nhược , khi thực thần , thương quan nhiều , ấn thụ vừa sinh thân vừa chế ngự được thực , thương , nên lấy ấn thụ làn dụng thần . Từ kiếp làm xẹp hơi của thực , thương , nên trường hợp không có ấn , có thể lấy tỉ kiếp giúp thân làm dụng thần . Nếu trong cách cục tài nhiều , tỉ kiếp có thể hỗ tài , nên lấy tỉ kiếp làm dụng thần . Ấn thụ có thể làm hao khí của tài , khi không có tỉ kiếp , có thể lấy ấn thụ làm dụng thần . Lại nếu trong cách cục quan sát nhiều , ấn thụ có thể làm xì hơi quan sát , nên có thể lấy ấn làm dụng thần . Tỉ kiếp có thể làm hao tổn khí của quan sát , có thể lấy tỉ kiếp giúp thân làm dụng thần .

Dụng thần của các cách : thiên tài , thiên quan , thực thần đều lấy theo phương pháp lý luận như trên . Ở đây không bàn nữa .

e . Dụng thần của cách thất sát

Nhật chủ vượng , tỉ kiếp nhiều thì chọn quan sát làm dụng thần . Nếu không có quan sát thì chọn tài tinh . Nhật chủ vượng , ấn nhiều thì chọn tài tính làm dụng thần . Không có tài tinh thì chọn quan sát hoặc thực thương . Nhật chủ vượng , quan sát nhiều thì chọn thực thương làm dụng thần . Nhật chủ nhược , tài nhiều thì chọn tỉ kiếp làm dụng thần . Không có tỉ kiếp thì chọn ấn tỉnh .

Nhật chủ nhược , quan sát nhiều thì chọn ấn tính làm dụng thần . Không có ấn thì chọn tỉ kiếp . Nhật chủ nhược , thực thương nhiều thì chọn ấn tính làm dụng thần . Không có ấn tinh thì chọn tỉ kiếp .

h . Dụng thần cho cách thực thần

Nhật trụ vượng , tỉ kiếp nhiều thì chọn quan sát làm dụng thần . Không có quan sát thì chọn thực thương hoặc tài tinh . Nhật chủ vượng , ấn tinh nhiều thì chọn tài tính làm dụng thân . Không có tài tình thì chọn quan sát hoặc thực thương làm dụng thần thông quan .

Nhật chủ vượng , tài tinh nhiều thì chọn quan sát làm dụng thần . Không có quan sát thì chọn thực thương . Nhật chủ nhược , tài tinh nhiều thì chọn ấn tỉnh làm dụng thần . Không có ấn tinh thì chọn tỉ kiếp . Nhật chủ nhược , thực thương nhiều thì chọn ấn tinh làm dụng thần . Không có ấn tính thì chọn tỉ kiếp .

i . Dụng thần của cách kiến lộc

Nhật chủ vượng , chọn tài , quan có lực làm dụng thần . Nếu không có thì chọn thực thương có lực ( vẫn lấy nguyên tắc trung hoà tứ trụ làm chính ) .

Nhật chủ nhược , chọn ấn tinh hoặc tỉ kiếp làm dụng thần ,

k. Dụng thần của cách kình dương

Nhật chủ vượng , chọn tài quan có lực làm dụng thần , hoặc chọn thực thương có lực làm dụng thần .

Nhật chủ nhược , chọn ấn tinh hoặc tỉ kiếp giúp trợ thân làm dụng thần .

Một số sách mệnh học thường liệt cách kiến lộc và cách kình dương vào cách cục đặc biệt . Nhưng tôi cho rằng cách chọn dụng thần của hai cách đó đều giống như các chính cách , không có lý do gì tách riêng chúng ra .

2. Phương pháp chọn dụng thần cho các cách cục đặc biệt

Đối với những cách nhật chủ chuyên vượng đều lấy theo thế vượng của nó là tốt nhất , cho nên đều lấy theo sự tụ hội của thế vượng làm dụng thần .

Cách khúc trực : Lấy mộc làm dụng thần .

Cách viêm thượng : Lấy hoả làm dụng thần .

Cách gia tường : Lấy thể làm dụng thần .

Cách tong cách : Lấy kim làm dụng thần .

Cách nhuận hạ : Lấy thuỷ làm dụng thần .

Cách tổng tài : Lấy thực thương sinh tài làm dụng thần .

Cách tòng quan sát : Lấy tài làm dụng thần ,

Cách tòng nhi : Lấy thực thương làm dụng thần ,

Cách hóa mộc : Lấy mộc làm dụng thần .

Cách hóa thổ : Lấy thể làm dụng thần ,

Cách hóa kim : Lấy kim làm dụng thần .

Cách hóa thuỷ : Lấy thuy làm dụng thần .

Cách hóa hoả : Lấy hoả làm dụng thần ,

3. Cách xác định hỉ thần và kị thần của mệnh cục

Tứ trụ lấy dụng thần làm trung tâm . Dụng thần có thể trung hòa độ vượng giữa các ngũ hành trong Tứ trụ , ảnh hưởng đến cát hung hoa phúc của mệnh cục . Dụng thần không nên bị tổn thương , nên được sinh trợ Tứ trụ hoặc tuế vận của một người có các thiên can , địa chỉ sinh phù cho dụng thần thì người đó tất sẽ phú quý hoặc trong tuế vận đó sẽ chuyển từ bình thường sang phú quý . Ngược lại , nếu trong Tứ trụ hoặc tuế vận có các can chi khác xung , khắc , hợp dụng thần , làm cho dụng thần bị thương hoặc trở thành vô lực thì người đó khó tránh khỏi tại hoạ . Do đó trong mệnh lý học đặt tên cho những con chỉ có thể sinh trợ , giải cứu dụng thần , hoặc khắc chế kỷ thần là hỷ thần . Những con chi khắc , xung , hợp dụng thần hoặc làm hại hỷ thần thì gọi là kỵ thần

Đại vận lưu niên hành đến vận dụng thần thì cuộc đời vinh hoa phú quý mọi hành đến vận ky thân thì tai hoạ khó tránh , phải đặc biệt cẩn thận . Đại vận gồm 1 can , một chi hợp lại . Một vận 10 năm , thiên can quản 5 năm đầu , địa chỉ quản 5 năm sau . Lưu niên là một con một chỉ hợp lại quản một năm . Nếu tuế vận gặp hỷ thần thì gặp nhiều điều tốt , gặp kị thần thì luôn luôn xấu . Dưới đây sẽ giới thiệu phương pháp xác định hi kị thần cho các vận .

a . Hỉ , vị thần của vận cách chính quan

Nhật chu vượng , trong Tứ trụ nhiều tỉ kiếp thì chọn quan tình làm dụng thần . Vận gặp tài quan là tốt nhất , danh lợi đều có , mọi việc hanh hao tốn rất nhiều . thông . Hành đến các vận ấn kiếp thì phá tài bại nghiệp , gặp hình hại và hao tổn rất nhiều

Nhật chủ vượng , Tứ trụ nhiều ấn tinh , chọn tài tình làm dụng Gặp các vận có tài tỉnh lần thực thân thì tốt đẹp , gặp các vận ấn , tu thì khuynh gia bại sản .

Nhật chủ nhược, tứ trụ nhiều tài tinh thì chọn tỉ kiếp để chế ngự tài, giúp thân làm dụng thần . Gặp các vận tỉ kiếp hoặc ấn lẫn tỉ kiếp sẽ thăng quan phát tài sự nghiệp bốc lên nhanh chóng . Gặp các vận tài quan thì tồn tài , nhiều tai hoạ .

Nhật chủ nhược , Tứ trụ nhiều thực thương thì chọn ấn tinh làm dụng thần . Gặp vận quan ấn , thì cuộc đời phát đạt . Gặp phải vận tài phá ấn thì hung .

Nhật chủ nhược , Tứ trụ quan sát nhiều cũng chọn ấn tinh làm dụng thần . Gặp được vận ấn , tỉ kiếp thì danh lợi đều có . Gặp phải vận tài thì xấu nhất , vận quan sát cũng xấu nhưng còn đỡ hơn .

b . Hi , bị thần của bạn cách thiện , chính tài

Nhật chủ vượng , Tứ trụ nhiều ấn thì dụng thần chọn tài tinh chế ngự ấn tính là tốt . Gặp tài vận là tốt nhất , hoặc tài lẫn thực thương cũng tốt . Vận gặp ấn , tỉ , quan , sát là xấu .

Nhật chủ vượng , Tứ trụ tỉ kiếp nhiều lấy thực thương thông quan sinh tài làm dụng thần , hoặc chọn quan sát chế ngự tỉ kiếp làm dụng thần cũng tốt . Vận gặp thực thương quan sát thì tốt đẹp . Vận gặp ấn , tỉ kiếp là xấu .

Nhật chủ nhược , thực thương nhiều thì chọn ấn khắc thực thương làm dụng thần . Nhưng nếu tài tinh và ấn tinh không làm trở ngại nhau mới tốt . Vận gặp ấn , tỉ là tốt , gặp tai quan thất sát là xấu . Nhật chủ nhược , Tứ trụ tài tình nhiều thì chọn tỉ kiếp trợ thân chế ngự tài làm dụng thần . Vận gặp tỉ kiếp thì tốt , vận gặp tài quan thất sát thực thương là xấu . Vận gặp ấn thì tài và ấn không làm trở ngại nhau mới tốt , nếu tài ấn giao nhau là xấu , cuộc đời gặp nhiều hình hại , hao tôn .

Nhật chủ nhược , Tứ trụ quan sát nhiều thì chọn ấn hoá quan sát làm dụng thần . Vận gặp tài vận thì xấu , có nguy cơ về sinh mệnh, gặp vận quan sát vận xấu nhưng có đỡ hơn .

c . Hỉ , vị thần của bạn cách thiên , chính ẩn

Nhật chủ vượng , Tứ trụ nhiều tài tình thì lấy quan sát xì hơi tài , sinh ấn làm dụng thần . Vận gặp vận quan sát thì tốt , gặp vận thực thần , thương quan là xấu

Nhật chủ vượng , Tứ trụ ấn tinh nhiều thì chọn tài phá ấn làm dụng thần . Gặp vận thực thương tài là tốt , gặp vận quan sát ấn tỉ thì xấu .

Nhật chủ vượng , Tứ trụ tỉ kiếp nhiều có quan sát thì lấy quan sát chế ngự tỉ kiếp làm dụng thần , không có quan sát thì phải lấy tài lẫn thực thương làm dụng thần. Gặp vận quan sát lẫn thực thương là tốt, gặp vận ấn tỉ kiếp là xấu. Nhật chủ nhược, Tứ trụ nhiều quan sát thì lấy ấn làm dụng thần. Gặp vận ấn, tỉ là tốt, gặp vận tài quan là xấu. Nhật chủ nhược, Tứ trụ nhiều thực thương thì chọn ấn tinh chế ngự thực thương, sinh phù thân làm dụng thần. Gặp vận ấn tỉ là tốt gặp vận thực, thương, tài là xấu. d. Hi, bị thần của bạn cách thực thần Nhật chủ vượng, Tứ trụ nhiều tài tinh, lấy quan sát xì hơi tài tinh làm dụng thần. Gặp vận quan, sát tài là tốt, gặp vận ấn tỉ là tai ương. Nhật chủ vượng, Tứ trụ tỉ kiếp nhiều, lấy thực thương làm dụng thần. Gặp các vận thực, thương, tài là tốt, gặp các vận ấn, tỉ, kiếp là xấu. Nhật chủ vượng, Tứ trụ ấn tinh nhiều phá hại thực thân, lấy tài tinh chế ngự ấn tinh, sinh phù thực thân làm dụng thần. Gặp các vận thực, thương, tài là tốt, gặp các vận ấn, kiếp là xấu. Nhật chủ nhược, Tứ trụ quan sát nhiều, lấy ấn tỉ phụ thân làm dụng thần. Gặp các vấn ấn tỉ là tốt, gặp các vận tài, quan, thất sát là xấu. Nhật chủ nhược, Tứ trụ nhiều tài tinh, lấy tỉ kiếp trợ thân làm dụng thân. Gặp các vận ấn, tỉ kiếp là tốt, gặp các vận thực, thương, tài là xấu. Nhật chủ nhược, Tứ trụ thực thương nhiều, lấy ấn chế ngự thực thương sinh phù thân làm dụng thần. Gặp các vận ấn, tỉ, kiếp là tốt, gặp các vận thực, thương, tài là xấu. e. Hi, bị thần của bạn cách thất sát Nhật chủ vượng, Tứ trụ quan sát nhiều thì lấy thực thương làm dụng thần. Gặp các vận thực thương là tốt. Gặp các vận quan ấn là xấu. Nhật chủ vượng, Tú trụ nhiều ấn thì lấy tài sinh sát phế ấn làm dụng thân. Gặp các vận tài, sát là tốt. Gặp các vận ấn, tỉ là xấu. Nhật chủ nhược, Tứ trụ tài tinh nhiều lấy tỉ kiếp trợ thân làm dụng thần. Gặp các vận ấn, tỉ là tốt, gặp các vận thương, tài là xấu Nhật chủ nhược, Tứ trụ thực thương nhiều, lấy ấn tinh chế ngự thương hóa sát làm dụng thần. Gặp ấn vận là tốt, gặp các vận thực thương tài là xấu. h. Hi, bị của bạn cách thương quan

Nhật chủ vượng, Tứ trụ ấn nhiều, lấy tài phá ấn hao thân làm dụng thân. Gặp cách thực, thương, tài là tốt. Gặp các cách ấn, tỉ là xấu

Nhật chủ vượng, Tứ trụ tỉ kiếp nhiều, lấy thất sát làm dụng thần. Gặp các vận tài, sát là tốt, gặp các vận ấn tỉ là xấu.

Nhật chủ nhược, Tứ trụ tài nhiều, lấy tỉ kiếp làm dụng thần. Gặp các vận ấn, tỉ là tốt. Gặp các vận tải quan là xấu.

Nhật chủ nhược, Tứ trụ quan sát nhiều, lấy ấn kiếp làm dụng thần. Gặp các vận ấn kiếp là tốt, gặp các vận tải quan là xấu.

Nhật chủ nhược, Tứ trụ thực thương nhiều, lấy ấn phá thương làm dụng thần. Gặp các vận quan, ấn là tốt, gặp các vận thực, thương, tài là xấu.

4, Hỉ, kị thần của các cách cục đặc biệt

Cách tòng lượng: Đối với cách tòng vượng thì gặp các vận ấn, tỉ, kiếp, thực thương là tốt, gặp các vận tải quan ngược lại với vượng khí của nó là xấu.

Cách tòng cường: Đối với cách tòng cường thì thế của nó không vững. Gặp các cách tỉ, ấn thuần với khí thế của nó là tốt, gặp các vận thực, thương, tài là xấu.

Cách tòng sát: Gặp các vận quan sát là tốt, gặp các vận ấn, tỉ phù thân là xấu nhất.

Cách tòng nhi: Gặp các vận thực, thương, tài là tốt, gặp ấn vận là xấu. Gặp vận tỉ kiếp thì không có trở ngại gì.

Cách tòng tài: Gặp các vận thực thương và tài vượng là tốt, gặp các vận quan sát, ấn kiếp là xấu.

Cách tiêm thượng: Gặp các vận có ngũ hành thuộc mộc, hoả thể là tốt, gặp các vận kim, thuỷ đi ngược lại khí của nó là xấu.

Cách gia tường: Gặp các vận có ngũ hành thổ, kim, thuỷ là tốt gặp các vận ngũ hành mộc, hoả là xấu.

Cách nhuận hạ: Gặp các vận có ngũ hành kim, thuỷ, mộc là tốt gặp các vận hoả, thổ là xấu.

Cách hoá thuỷ: Gặp các vận kim, thuỷ, mộc là tốt, gặp các vận hoả, thổ là xấu.

Cách hoá kim: Gặp các vận thổ, kim, thuỷ là tốt, gặp các vận hoả là xấu.

Cách hóa hoả: Gặp các vấn mộc, hoả, thổ là tốt, gặp các vận thuỷ là xấu,

Cách hóa mộc: Gặp các vận thuỷ, mộc, hoả là tốt, gặp các vận kim là xấu.

Cách hóa thổ: Gặp các vận hỏa, thổ, kim là tốt, gặp vận mộc là xấu.

Cách kiến lộc: Tứ trụ tài tinh nhiều, nhật chủ nhược, lấy tỉ kiếp làm dụng thần, gặp vận tỉ kiếp là tốt, gặp vận tải quan là xấu.

Cách kiến lộc: Thân vượng, tài nhược lấy thực thương tài quan làm dụng thần. Gặp các vận tài, quan thực thương là tốt. Gặp các vận ấn tỉ là xấu.

Cách kiến lộc: Tứ trụ quan sát nhiều, thân nhược lấy ấn làm dụng thân. Gặp các vận ấn, tỉ, kiếp là tốt, gặp các vận tải quan là xấu.

Cách kiến lộc: Nhật chủ và sát đều vượng, lấy tài tinh làm dụng thần, gặp các vận thực thương tài là tốt, gặp các vận ấn tỉ là xấu.

Cách kiến lộc: Tứ trụ thực thương nhiều, nhật chủ nhược lấy ấn kiếp làm dụng thần. Gặp các vận ấn kiếp là tốt, kị gặp các vận thực thương tài.

Cách kiến lộc: Tứ trụ có thực thương, nhật chủ vượng gặp các vận vượng tài, thực thương là tốt, kị các vận ấn kiếp.

Cách kiến lộc: Tứ trụ nhiều tỉ kiếp, lấy quan sát làm dụng thần. Gặp các vận tải quan là tốt, kị các vận ấn kiếp.

Cách kiến lộc: Tứ trụ ấn nhiều, lấy tài làm hao tổn ấn làm dụng thần. Gặp các vận tài thực thương là tốt, kị các vận ấn kiếp.

Cách Kình dương: Tứ trụ tài nhiều, lấy quan sát chế ngự kiếp làm dụng thần. Gặp các vận tải quan là tốt, kị các vận ấn kiếp.

Cách Kình dương: Tứ trụ có quan sát, lấy tài dưỡng nhược sát làm dụng thần. Gặp các vận tài quan sát là tốt, kị các vận kiếp, ấn..

Cách Kình dương: Tứ trụ nhiều thực thương, lấy tài xì hơi thực thương làm dụng thần. Gặp các vận thực thương tài là tốt, kị các vận ấn, kiếp.

Cách Kình dương: Tứ trụ nhiều tỉ kiếp, lấy quan sát chế át tỉ kiếp làm dụng thần. Gặp các vận quan sát thì tốt, kị các vận thực thương ấn kiếp.

Cách Kình dương: Tứ trụ ấn nhiều, lấy tài phá ấn làm dụng thân (nhưng tài và kiếp không trở ngại nhau). Gặp các vận tải quan là tốt, kị các vận ấn kiếp.

Cách Kình dương: Trong tứ trụ tài quan, thực thương hỗn tạp lấy ấn làm dụng thần. Gặp các vận ấn kiếp là tốt, kị các vận tải quan thực thương.

Phương pháp xem vận rất biến hoá linh động, khó có thể tả hết. Nhưng vẫn theo nguyên tắc lợi cho dụng thần là tốt, không lợi cho dụng thần là xấu. Trường hợp gặp vận lợi cho dụng thần, nhưng trong Tứ trụ lại có những thần khác khắc mất hoặc hợp chặt dụng thần thì tốt vẫn trở thành xấu, thậm chí có lúc rất xấu. Hoặc không lợi cho dụng thần nhưng nhờ có thân khác trong Tứ trụ khắc mất hoặc hợp chặt thì không còn là hung nữa, cũng có lúc có thể biến hung thành cát. Trong dự đoán, phải biến thông linh hoạt, không thể cố chấp nguyên tắc một cách cứng nhắc.

5. Chú thích về dụng thần điều hâu

Đối với người Tứ trụ thành cách rõ ràng lấy dụng thần tương đối dễ. Nhưng cũng có Tứ trụ không thành cách hoặc cách cục rất đặc biệt, hoặc cách cục không rõ, hoặc không lấy dụng thần theo cách cục thì việc lấy dụng thần khá phức tạp. Hơn nữa cách lấy dụng thần cũng không phải là cứ thấy nhiều là phải chế ngự, thấy ít thì tăng thêm, vượng thì tiêu giảm, nhược thì bổ sung vào, mà phải căn cứ vào nhu cầu của nhật nguyên ở vào mùa nào mà lấy dụng thần. Ví dụ có Tứ trụ: sinh năm bính thân, tháng canh tí, ngày quý sửu, giờ ất mão. Tứ trụ này là cách kiến lộc. Trong Tứ trụ, ngũ hành kim mộc thuỷ hoả thổ đều có, nhưng thuỷ lạnh, mộc hàn, thổ đông cứng, hoả bị nhốt, vậy lấy gì làm dụng thần? Đặc điểm mùa đông là rét lạnh, không lợi cho sự sinh trưởng của vạn vật tất nhiên phải dùng hoả để giải hàn, mà bính hoả trong Tứ trụ lại ở đất tù hãm, vô lực, nhưng may được trụ giờ có ất mộc sinh sau lập đông, mộc có khí mà sinh bình hoả, bính hoả nhờ được sinh, cháy lên xua đuổi hàn lạnh, sưởi ấm vạn vật, khiến cho vạn vật có dịp phát triển, nên lấy bính hoả làm dụng thần. Đó gọi là thực thần sinh tài, phú quý tự đến.

Dưới đây xin nêu mấy ví dụ về cách lấy dụng thần.

Ví dụ 1. Nam

Ấn - Thương - Nhật nguyên - Thương

Đinh mão - Canh tuất - Kỉ tị - Giờ canh ngọ

Nhật chủ kỉ tị là kim thần, can thấu hai canh là thương quan, địa chỉ ngọ, tuất hội thành hoả cục, thấu định là ấn, là cách thương quan thổ kim. Mùa thu thần kim nắm lệnh, thổ vượng, kim thần mạnh mà được hoả chế ngự, nên lấy định hoả làm dụng thần. Như thế gọi là "thần kim nhập hỏa hương, chủ về võ quý". Đây là Tứ trụ của Tưởng Giới Thạch.

Ví du 2. Nam

Thương - Ấn - Nhật nguyên - Thực

Mậu thìn - Giap dần - Đinh mão - giờ kỉ dậu

Đinh hoả ở tháng giêng, xuân hoả là bản thể. Dân mão thìn hội thành mộc cục, phương đông. Giáp mộc trong dần thấu ra thành án đó gọi là mộc nhiều, hoả bị đề nghẹt, nên lấy tài tinh dầu kim trên trụ giờ làm dụng thần, mục đích để làm tổn hao ấn. Khi vận nhập canh thân, tân dậu dụng thần sẽ đắc địa, được thăng lên làm Chủ tịch tỉnh, Ví dụ 3 Nam

Kiếp - Quan - Nhật nguyên - Thực

Đinh Mão - Quý sửu - Bính thân - giờ mậu tí

Bính hoả sinh vào tháng 12, động hoả là bản thể. Thân thìn hội cục, quý thuỷ trong sửu thấu ra. Hoả suy thuỷ vượng là cách chính quan. Mão mộc trong Tứ trụ tuy hàn, nhưng có định hoả sưởi ấm. Quý thuỷ khắc định hoả được mậu thổ hợp, nên lấy ấn tinh mão mộc làm dụng thần sinh bình hoả. Về sau được thăng chức làm viện trưởng Viện nghiên cứu. Ví dụ 4. Nam

Sát -tài - nhật nguyên - thực

Canh dần- mậu dần - giáp tí - giờ bính dần

Bính mậu trong dân đều thấu, trời che đất chở, trên dưới có tình, tí dần củng quý sửu. Tam kì lại gặp quý nhân. Đầu xuân mộc còn đang mầm, khí hàn được bình hoả sưởi ấm, nên lấy bính hoả làm dụng thần. Để giải quyết khó khăn trong việc ứng dụng chọn dụng thần, tôi xin giới thiệu bảng dụng thần điều hầu do một độc giả tặng tôi vào hồi tháng 3 năm 1991 khi tôi giảng bài ở Xingapo để độc giả tham khảo. Rất đáng tiếc là tôi đã quên không hỏi bảng này lấy ở sách nào ra. Bảng này chủ yếu căn cứ mười can sinh vào tháng 12, sau đó căn cứ đòi hỏi của can ngày mà chọn dụng thần để tiện cho việc lấy dụng thần giải quyết một số vấn đề.

image
image

Tháng bảy : định , giáp . Chuyên dùng định hoả , nếu không có giáp thì không được chọn ất .

Tháng tám : định , giáp , bính . Nếu bính hoả không thấu chi thì có thể chọn tạm .

Tháng chín : giáp , nhâm . Người chọn nhâm thì kị gặp kỉ thổ .

Tháng mười : định , bính . Không có giáp có thể chọn cáp mộc .

Tháng mười một : định , giáp , bính . Không thể thiếu tính . Người thiếu bính là người rất tầm thường .

Tháng mười hai : bính , định , giáp . Chọn dụng thân như tháng mười một .

Can ngày là tân

Tháng giêng : kỉ , nhâm , canh . Chọn kỉ thổ sinh kim làm chính , Ki , nhâm không nên cạnh tranh nhau

Tháng hai : nhâm , giáp . Kị định thấu can , chi .

Tháng ba : nhâm , giáp . Nếu bính , tân hợp thành thuỷ cục thì phải dùng cả bính .

Tháng tư : nhâm , giáp , quý . Người không có mậu là tốt nhất .

Tháng năm : nhâm , kỉ , quý . Nhâm , kỉ không nên thiên vượng , không có nhâm thì dùng quý , kiêng dùng đinh .

Tháng sáu : nhâm , canh , giáp . Kị thổ vượng .

Tháng bảy : nhâm , giáp , mậu . Nhâm thuỷ là tốt nhất , nếu không bị hỗn tạp thì chọn quý thuỷ .

Tháng tám : nhâm , giáp , định . Nếu thổ thịnh trước hết cần chọn giáp , kim vượng nên chọn thêm cả định .

Tháng chín : nhâm giáp . Sợ hoả thổ vượng .

Tháng mười : nhâm , bính . Là cách các kim thuỷ thuần khiết .

Tháng mười một : bính , mậu , nhâm , giáp . Bính không được thiếu , còn những con chi khác thì tuỳ đó mà chọn .

Tháng mười hai : bính , mậu , nhâm , kỉ . Bính không được thiếu , những can khác tuỳ đó mà chọn . Can ngày là nhâm

Tháng giêng : canh , bính , mậu . Từ kiếp nhiều thì ưu tiên lấy mậu .

Tháng hai : mậu , tân , canh . Có nhiều cách cục thì cũng lấy mậu là tốt nhất . 395

Tháng ba : giáp , canh , bính . Nếu thành kim cục thì phải dùng cả bính nữa mới tốt .

Tháng tư : nhân , tân , canh , quý . Tỉ kiếp phục tàng ở canh tân .

Tháng năm : quý , canh , tân . Kị định thấu can nào đó chế ngự quý .

Tháng sáu : tân , giáp . Gặp thổ nhiều thì chọn giáp trước , thứ nữa mới đến tận .

Tháng bảy : mậu , định . Mậu phải đóng ở thìn tuất , định phải đóng ở ngo tuất .

Tháng tám : giáp , canh . Nên chỉ có một ngôi thủy .

Tháng chín : giáp , bính , tuất . Người có hợp thì chọn bính trước , chọn giáp sau .

Tháng mười : mẫu , bính , canh . Người mà mộc cục nhiều , nên chọn canh trước .

Tháng mười một : mậu , bính . Cả hai không được thiếu cái nào .

Tháng mười hai : bính , giáp , định . Thượng tuần chọn bính , hạ tuần chọn cả định và giáp .

Can ngày là quý

Tháng giêng : tân , bính . Người không có tân thì chọn canh . Bính , canh đòi hỏi thế phải ngang nhau

Tháng hai : canh , tân . Ất , mão hợp với canh nên ưu tiên chọn tân .

Tháng ba : bính , tân , giáp . Thượng tuần chọn bính , hạ tuần chọn cả tân giáp , không được chọn định .

Tháng tư : tân . Có thể chọn canh để thay .

Tháng năm : canh , tân , quý . Kị gặp định hoả vượng .

Tháng sáu : canh , tân , quý . Cách chọn như tháng năm .

Tháng bảy : định . Người có kim cục , định phải thông với ngọ , tuất , mùi .

Tháng tám : tân , bính . Người mà cả hai đều có thì thuỷ ấm , kim ôn , nhưng không nên sát liền nhau mà cách một ngôi thì tốt .

Tháng chín : tân , giáp , quý , nhâm . Kị thổ thịnh .

Tháng mười : canh , tân , mậu , định . Thuỷ nhiều thì chọn mậu trước , kim nhiều chọn định trước ,

Tháng mười một : bính , tân , Bính không thể thiếu , thiếu thì sẽ thành tầm thường.

Tháng mười hai : bính , đỉnh . Nên sinh vào ban đêm . Người mà căn thông với ( ki ) ngọ , mùi , tuất thì quý , nếu có hoả cục thì cần có canh , tân .

V. CÁC VÍ DỤ VỀ CHỌN DỤNG THẦN

Vi dụ 1. Nam

image

Phân tích mệnh cục và chọn dụng thần 1- Mậu thổ sinh tháng hợi , tuy ở tử địa , nhưng trong bốn chị của Tứ trụ thì ba chỉ là thổ , hơn nữa bính hoả trên trụ giờ lại sinh cho trụ ngày . Vậy kị thần của Tứ trụ là thổ . Thổ nhiều mong gặp mộc để làm tơi xốp , vì vậy lấy thất sát giáp mộc làm dụng thần . Người này từ 26 tuổi về sau hành đại vận giáp dần nên mọi mặt tốt dần . Nhưng hồi đó vận khí đất nước còn khó khăn , cho nên dù bản thân gặp vận tốt cũng vô dụng . Từ 36 tuổi trở đi hành đại vận ất mão , ất mão cũng là dụng thần , cho nên vận khí còn được . Tài tỉnh người này ở vượng địa , thân cũng thiên vượng , lại có thương quan sinh cho tài , do đó là người giàu . Nhưng không giàu lắm , bởi vì : trong Tứ trụ thể nhiều . Thổ nhiều sẽ áp chế thuỷ , nhâm thuỷ bị áp chế nên tài bị tổn thương , tức thuộc loại tiểu phú , so với tầng lớp ăn lương còn khá hơn một ít . Dụng thần là mộc nên trong tên đã có chữ mộc bên cạnh , có thể hồi nhỏ gia đình đã nhờ người xem và đặt tên , dùng dụng thần để bổ sung , còn kị thần là thổ .

2- Từ năm 16 tuổi trở đi kinh tế bắt đầu khá hơn trước nhiều , đời sống đi lên , đặc biệt mấy năm từ 1990 - 1994 đều khá , tiếp về sau cũng tạm được . Nhưng thân vượng mà vẫn chưa gặp được tài vận, gặp các năm giáp , ất , nhâm , quí thì có thể phát tài một ít . Tóm lại của cải thuộc mức trung bình

3. Người này hiện đang hành quan vận , tuy trụ năm gặp thương quan , đúng lúc thương quan gặp quan cho nên không dễ cầu quan hoặc đó là lúc bị tiểu nhân gây rối , công việc không thuận lợi . Trụ giờ có hoa cái , sau 46 tuổi lại gặp hoa cái , là Tứ trụ thương quan trùm lên thiên ấn . Sau 51 tuổi hành vận thìn , người này có hiểu biết về Dịch học , sau này có thể phát triển về mặt này , có thể theo nghề này

image

Phân tích mệnh cục và chọn dụng thần

1. Tháng 9 quý thuỷ , thất lệnh , không có gốc , mậu thổ nắm quyền , phải dùng tân kim để cấp nguồn cho thuỷ , nhưng Tứ trụ lại thiếu kim , cho nên lấy kim làm dụng thần là có lợi nhất , kị thần là thổ . Người này thân nhược , nên thích có tỉ kiếp nhâm quý thuỷ để trợ thân . Từ 22 tuổi hành vận tỉ kiếp nên tương đối có lợi . Từ 42 tuổi hành vận tân kim là dụng thần càng thuận lợi hơn , vì vậy người này tuổi trung niên tương đối tốt . Tứ trụ thân nhược nên thích hợp với phát triển ở quê nhà và có lợi về mặt công chức , làm ăn cá thể hay tự doanh không lợi lắm .

2- Tài gặp thiên đức , nguyệt đức , nên người này cầu tài tương đối ổn định , không có thăng trầm gì lớn . Sau 42 tuổi tài vận càng tốt . Cuối dời tài vận càng hanh thông .

3- Nếu chọn ấn làm dụng thần thì nên làm nghề có liên quan với văn thư , chữ nghĩa hoặc có văn bằng ở mức nhất định .

4- Quan lâm nguyệt kiến , khi quan vượng hành vận tỉ kiếp thân vượng thì có chức vụ , nhưng khi chưa gặp quan vận thì không cẩu quan được vì có đâu mà cầu .

Ví dụ 3. Nam

image

1- Mệnh chủ nhật nguyên tân kim sinh tháng tuất , chính ấn nắm lệnh , mẹ vượng con tướng , lại được chi năm chính ấn trợ thân , chỉ giờ dậu kim ngang vai giúp đỡ , nên nhật chỉ thiên vượng . Nhờ trụ tháng và trụ giờ thấu quan sát , gốc đóng ở chi tị hoả nên mệnh cục này thân vượng , ấn vượng . Thực thương có tài tinh . Ngũ hành không đầy đủ , thiếu mộc , thiếu thuỷ . Để cân bằng ngũ hành , dụng thần nên chọn thuỷ , mộc . Trong mệnh cục bình hợp với dân , tỷ dậu bán hợp , là hợp mất quan , lưu lại sát , là cách thiên quan . Nếu hành vận chế sát thì sẽ phát , nhưng tạo hoá vô tình , vận thực thường gặp năm mộ . May nhờ tuổi trung niên hành tài vận nên cũng có thể phát phúc , hơn nữa ở các năm có chữ số cuối là 1 , 2 , 4 , 5 , tháng sinh có hoa cái nên cung mệnh , thai nguyên đều gặp hoa cái là chủ về có duyên với tăng đạo . Người này từ 24 tuổi trở đi hành đại vận thứ ba , cũng là vận hoa cái , lúc đó có lợi về học Dịch học , từ năm 1999 - 2003 là thời kỳ có lợi nhất cho nghiên cứu Dịch học .

2 Trong Tứ trụ này không có tài tình , nên nếu gặp tài vận có thể phát vinh hiển . Từ 38 tuổi đến 43 tuổi và gặp các năm có chữ số 4 , 5 cuối cùng thì đều tiến tài .

Ví dụ 4 , Nữ

image

Phân tích mệnh cục và chọn dụng thần

1. Mệnh cục nhật nguyên quý thuỷ sinh ở tháng tí là đất lộc , các chi hợi tí sửu tam hợp thành thuỷ cục , trụ năm lại thấu ra quí thuỷ ngang vai giúp sức , gốc ở chi giờ kiếp tài , bình dương nên nhật chủ cực vượng . Để ngũ hành cân bằng , vượng thì nên xì hơi hoặc nên khắc , nên dụng thần chọn giáp mộc để xì hơi hoặc sửu thổ để khắc thân . Trụ giờ thấu ra thương quan giáp mộc tương đối có lực , cho nên lấy giáp mộc của trụ tháng làm dụng thần , kỉ thổ thất sát làm hỉ thần . Cuộc đời gặp các vận thực thương quan sát tài thì tốt , kị gặp các vận tỉ kiếp ấn . Mộc nhờ thuỷ nuôi dưỡng , nhưng thuỷ nhiều thì mộc trôi dạt có thể khắc thuỷ , thuỷ nhiều thể bị trôi . Tứ trụ này mộc , thổ là dụng thần , nhưng đều là dụng thần không đắc lực , cho nên cuộc đời lao lực vất vả , tỉ kiếp vượng quá nên tài yếu . Tức là thân vượng không có chỗ dựa , nên thường thua thiệt hoặc tiền của không tụ , là người cả đời vất vả , long đong , thiên sống độc thân . Người khắc cha , anh em bất hoà , không nhờ cậy được nhau , chuốc lấy nhiều bội tín và dèm pha phỉ báng , kết hôn muộn .

2- Tứ trụ này thân vượng tài nhược . Tài vận từ 21 tuổi đến 60 tuổi , trong đó từ 26 tuổi đến 50 tuổi là thời kỳ tốt nhất ,