Chương 10 tổng kết

Chương 10 BÀN VỀ HUNG SÁT

Gọi là hung sát tức là sao khắc chế tôi. Hung sát phần nhiều chủ về tai vạ, nên người bị hung sát nhập mệnh thì không những gây đau khổ cho mình và cho người thân mà còn đem lại tổn thất cho xã hội. Có những sự hung sát tuy không gây tổn thất cho người khác hay xã hội, nhưng nó khắc chế mình suốt đời, tuy có ý chí nhưng không vươn lên được, hoặc người yêu, nhiều bệnh, nếu không thì cũng gặp việc trắc trở, thậm chí có người còn chết yểu. Do đó người xưa bàn rất nhiều về hung sát.

Mọi vật đều có hai mặt, tức có mặt xấu thì cũng có mặt tốt. Hung sát tuy phần nhiều chỉ về tai vạ, nó là cái mà sự vật trong quá trình phát triển khó tránh khỏi, nhưng cũng có mặt tích cực của nó.

Hung sát không phải toàn là xấu, mà trong đó cũng có sao nắm quyền bính. Có người nghĩ sai rằng sao hung sát chỉ toàn là đối với người nghèo, người bình thường, chứ không biết "phàm là quý mệnh đều phải gặp sát, tức là được vua nhấc cử"; hoặc "đại phú đại quý là dựa vào quyền sát, sát nên đứng sau, quyền đứng trước, nó sẽ trở thành bậc đại hiện đại sĩ dẹp loạn yên dân"; "Người gặp cả sát, cả bình dương, nếu nắm binh quyền sẽ đáng ngồi cấp tướng", "phàm người có quyền phải nên có cả sát, sao quyền phải có sao sát phù trợ"... Qua đó ta thấy sao hung có thể giúp đỡ thành có quyền, có giàu sang tai hoạ to thì phúc cũng to.

Mệnh gặp sao sát thật ra không đáng sợ, đáng sợ là ta không hiểu ý nghĩa của hung sát, không biết vận mệnh của mình. Nói chung thân vượng mừng gặp được sát, sát có cát tinh tương phù thì 'hông hại. Thân nhược lại không có cát tinh tương phù thì phải bị sát. "Phàm là hung thân thì đừng nên gặp năm khắc, nằm khắc sẽ tai vạn liên miên". Hung thân năm khắc tức là can, chi của năm sinh bị khắc, người bị khắc sẽ không tốt; nếu can, chi của ngày khắc hung sát tất nhiên nắm được quyền.

Trong dự đoán vận mệnh, người xưa nói: "Quân tử hỏi mệnh, hỏi hop không hỏi phúc". Lại nói: "Người thường hay hỏi của, quan lại hay hỏi hình phạt". Lý do là vì, trong mệnh đã có phúc thì không hỏi phúc nữa, đã có thì không sợ mất, trong mệnh có hung hại không báo cho thì không biết, không biết thì khó mà đề phòng. Gặp hung sát có thể giải, có thể hóa, then chốt là phải được biết trước. Chương này bàn về hung sát, mục đích là để giải hung sát, nghiên cứu hung sát, từ đó mà tìm cách tránh được.

I. BÀN VỀ THIÊN LA ĐỊA VÕNG

Thìn là thiên la, tuất là địa võng. Người mệnh hoả gặp tuất hợi là thiên la, người mệnh thuỷ thổ gặp thìn tị là địa võng. Thìn gặp tị, ti gặp thìn là thiên la; tuất gặp hợi, hợi gặp tuất là thiên la. Nam bị thiên la, nữ kì địa võng.

Phép lấy thiên la địa võng, xưa nay không giống nhau. Có người lấy nạp âm của thiên can năm gặp ngày, ví dụ: người mệnh hoả thấy ngày tuất hợi là thiên la, người taệnh thuỷ thể thấy ngày thìn tị là địa võng. Có người lại lấy chi năm làm chủ, phàm gặp địa chỉ trong Tứ trụ hoặc gặp trên vận tức là mệnh người đó phạm vào thiên la địa võng. Sau Tử bình, ngày nay phần nhiều lấy nhật nguyên làm chủ. Vì cách tra thiên la địa võng khác nhau nên làm cho việc nghiên cứu gặp khó khăn. Tôi qua kinh nghiệm thực tiễn, bất kể lấy chi năm hay nhất nguyên làm chủ, chỉ cần trong Tứ trụ có thấy là cho rằng có thiên la, địa võng.

Thuyết thiên la địa võng có lý của nó. Trời nghiêng về Tây bắc mà tuất hợi là cùng cực của lục âm; đất thấp ở Đông nam mà thìn tị lại là cùng cực cua lục dương. Cùng cực âm dương là ám muội, bất minh như người rơi vào mênh mông, mờ mịt, cho nên nói tuất hợi là thiên la, thìn tị là địa võng.

Nam sợ thiên la, nữ kị địa võng là nói: Rồng là thìn, rắn là tị người thìn được tị, người tị được thìn là rồng rắn hỗn tạp. Nam nữ gặp phải là hôn nhân không thành, hại con cái, nghèo đói, bệnh tật. Người thìn được tị nặng hơn người tị được thìn. Lợn là hơi, chó là tuất, người tuất được hợi, người hơi được tuất đều là lợn chó lẫn lộn. Mệnh nam nữ gặp phải thì đần độn ngu ngốc, cản trở cha mẹ, khắc vợ. Người tuất gặp hợi, thì nhẹ hơn người hợi gặp tuất. Cho nên nam sợ thiên la, nữ sợ địa võng. Ở giua lại còn chia ra: mệnh hoả có thiên la, mệnh thuỷ thổ có địa võng. Người có mệnh đó phần nhiều trễ nải, nếu đi với áo sát nữa thì ngũ hành không có khí, tất cả chỉ về ac tử, hành vận đến đó thì khó tránh khỏi. Ví dụ sinh ngày mồng một tháng tuất năm tuất, tức là phạm cả năm thiên la. Người sinh ngày 15 là phạm 15 năm thiên la. Nếu lại sinh giờ tuất nữa thì tăng thành 30 năm thiên la. Tháng hợi năm tuất hoặc giờ hợi ngày tuất gặp nhau thì tai hoạ liên miên. Gặp cả thiên la lẫn địa võng thì càng nặng thêm nữa.

Người gặp thiên la địa võng, trong thực tế thường là người hay gặp nạn về hình pháp. Cho nên người trong Tứ trụ có thiên la địa võng thì trong cuộc sống cần cẩn thận, tôn trọng pháp luật, không nên manh động, nếu không khó tránh khỏi lao tù.

Thiên la địa võng còn chủ về tai nạn, bệnh tật. Người trong Tứ trụ có nó, khi hành vận đến đó đều thường bất lợi cho thân thể cho nên phải chú ý rèn luyện và đề phòng bệnh tật.

Về người mệnh kim, mệnh mộc, có thuyết cho rằng không có thiên la địa võng. Điều đó xưa nay các sách nói khác nhau. Tôi cho rằng, người xưa nói mệnh kim, mệnh mộc không có thiên la địa võng vì ba nguyên nhân sau:

Thứ nhất, trong mười hai địa chi, người xưa lấy tí sửu dân mão, thìn tị là dương, lấy ngọ mùi thân dậu tuất hợi là âm. Dương bắt đầu ở tí sửu, kết thúc ở thìn tị, âm bắt đầu ở ngọ mùi, kết thúc ở tuất hợi. Dần mão là mộc, tí sứu ở trước, thìn tị ở sau, dân mão ở giữa nên không có thiên la. Thân dậu là kim, ngọ mùi ở trước, tuất hợi ở sau, thân dậu nằm giữa chứ không ở cuối nên không có địa võng.

Thứ hai, vì người xưa cho rằng: "Tuất hợi là cuối của sáu âm, thìn tị là cuối của sáu dương", từ đó mà lý luận hai mệnh kim, mộc không có thiên la địa võng. Hồi đó vì điều kiện hạn chế, giao thông lạc hậu, không có cách gì để chứng minh xem hai mệnh kim mộc, có thiên địa võng hay không nên đã kết luận như vậy.

Học thuyết mệnh lý của Trung Quốc đã trải qua thực tiễn rất lâu đời để ngày càng tổng kết được hoàn thiện. Thiên la địa võng phần nhiều chủ về tai nạn lao tù. Thuyết hai mệnh kim mộc không có thiên la địa võng của người xưa, qua thực tế nghiên cứu ngày nay thì không hoàn toàn như thế. Những người mệnh kim, mộc đều sinh vào các năm canh thìn, tân tị, canh tuất, tân hợi, mậu thìn, kỉ tị, mậu tuất, kỉ hơi, mà số người ngồi tù hiện nay sinh các năm đó cũng không ít hơn loại người khác. Đó là thí dụ phản chứng rất rõ.

Người trong Tứ trụ có thiên la địa võng và sát tinh hoặc lưu niên, đại vận đều phải cẩn thận đề phòng phạm pháp. Nhưng cũng có lúc gặp thiên la địa võng, nhưng không những không gặp tai vạ mà còn gặp tin mừng bất ngờ, đó là những người trong Tứ trụ có giải cứu hoặc có thiên đức, nguyệt đức.

II. BÀN VỀ HUNG, SÁT, KÌNH DƯƠNG

Giáp kình dương ở mão, ất kình dương ở dân, bính mậu kình dương ở ngọ, đinh kỉ kình dương ở tị, canh kình dương ở dậu, tân kình dương ở thân, nhâm kình dương ở ti, quý kình dương ở hợi.

Kình dương lấy can ngày làm chủ, phàm trong địa chi của Tứ trụ thấy là có kình dương. Như Tứ trụ của Nhạc Phi: sinh năm quý mùi, tháng ất mão, ngày giáp tí, giờ kỉ tị, lệnh tháng là kình dương.

Về vấn đề kình dương, nhiều độc giả cho rằng trong cuốn "Chu dịch và dự đoán học” tôi đã sắp xếp sai, chỉ ra năm can âm thì kình dương nên có ngôi trước lộc, tức ất kình dương ở thìn, định kỉ kình dương ở mùi, tân kình dương ở tuất, quý kình dương ở sửu. Trên thực tế, đó là cách sắp xếp trước lộc một ngôi là kình dương. Đối với việc đó người xưa đã bàn đến. Ví dụ sách: "Mệnh lý thảm nguyên" khi bàn về kình dương đã nói: "Các sách về mệnh học xưa lấy thìn tuất sửu mùi để tính, điều đó không đúng. Ất sinh ở ngọ, vượng ở dần tức lấy dần làm cung kình dương. Định kỉ sinh ở dậu, vượng ở thân, tức lấy thân làm cung kình dương. Quý sinh ở mão, vượng ở hợi, tức lấy hơi làm cung kình dương. Lý như thế là rất rõ ràng". Sách: "Tam xa nhất lãm” nói: "Kình" là cứng. "Dương" là tê, cắt. Lộc quá nhiều thì bị cắt. Cái lẽ âm dương của vạn vật là cực thịnh thì xấu, hỏa cực thịnh thì sắp thành than, thủy cực thịnh thì đầy tràn, kim cực thịnh thì gãy, thổ thì nứt nẻ, mộc thì gãy. Cho nên chưa đạt đến cực là phúc, đã cực thì sẽ quay lại để trở thành xấu. Sách "Bát tự thần toán" nói: "Trước lộc một ngôi là chỗ đế vượng". Vì vậy ta nên hiểu rằng: kình dương của năm can âm nên lấy trước lâm quan một ngôi tức chỗ đế vượng.

Cụ thể là ất kình dương ở dần, đinh kỉ kình dương ở tị, tân kình dương ở thân, quý kình dương ở hợi, như thế mới đúng.

Qua trích dẫn ở trên, đã nói rõ bản chất ý nghĩa của kình dương. Kình dương vừa là "sát" đã đạt đến cực độ của hung, tức nằm ở cực đỉnh của đế vượng. Từ ngũ hành phối với mười hai cũng thấy rõ ất kinh dương ở dân tức ở ngôi đế vượng, định kỉ kình dương ở tị... Trong ngũ hành chúng cùng một loại với thiên can, là quan hệ anh em. Như giáp kình dương ở mão, giáp là mộc, mão cũng là mộc. (Mậu kỉ ngũ hành thuộc thể, trong ngũ hành sinh vượng tử tuyệt gửi ở cung hoả, cho nên cũng cùng một mối quan hệ). Do đó, trong cuốn "Chu dịch và dự đoán học" tôi lấy ngôi đế vượng để xác định kình dương là đúng. Quan trọng hơn là qua kiểm nghiệm thực tế đã chứng minh nó có giá trị ứng dụng.

Trong hành vận của người ta sợ nhất là gặp kình dương, nó chủ về sự trì trễ, kéo dài, vận gặp kình dương thì của cải hao tán. Kình dương kiểm ác sát thì tai hoạ vô cùng. Kình dương không những không sợ gặp tuế vận mà còn sợ xung tuế quân, cho nên có câu: "Kình dương xung tuế quân thì tai vạ cực xấu". Cái chết của Nhạc Phi theo mệnh lý học mà nói, một trong những nguyên nhân là kình dương gặp tuế quân. Cho nên nói, người khoẻ gặp kình dương thì hay phát sinh những vấn đề nghiêm trọng. Chi năm có kình dương, chủ về phá hoại những cái tổ tiên để lại hoặc có khuynh hướng lấy oán báo đức; chi tháng gặp kình dương chủ về tính tình ngang ngược, khác người, chi ngày gặp kình dương chủ về mắt lồi, tính nóng, hung bạo hại người, hay theo bè đảng, gặp sinh vượng còn đỡ, gặp tử tuyệt thì nặng hơn. Người mà ngũ hành lại gặp kình dương thì dễ gặp tai nạn máu me, ngày gặp kình dương còn chủ về vợ hay bệnh tật; chi giờ gặp bình dương chủ về khắc VỢ, khắc con hoặc cuối năm hay gặp tai hoạ, nếu gặp tài quan thì hoa khá sâu, tương xung hoặc tương hợp với tuế vận thì tai hoạ ập đến ngay. Cho nên nói: "Kình dương trùng phùng thì bị thương tổn, chủ nhân tính khí nóng gấp, nếu gặp hình xung thì rơi vào tai ách, nếu bị chế ngự thì mới tốt".

Kình dương tuy là sự cứng rắn nhưng nếu thân nhược gặp phải nó thì không thể cho là xấu, vì bình dương có công năng bảo vệ giúp thân. Phàm người có lộc, còn phải có kình dương để bảo vệ, gặp quan ấn phải có kình dương mới tốt. Như thế gọi là "quan ấn tương trợ, nhờ có kình dương mới đem lộc về". Trong mệnh gặp kình dương, thất sát kiêm vượng thì càng thông đạt đến ấn thụ, tức là nhờ kình dương trợ uy mà đạt được. Vì thế mà trong mệnh cục có kình dương nhưng không bị sát, khi tuế vận bị sát cũng có thể gặp phúc. Cho nên có câu: "Gặp sát mà không có kình dương thì không thành đạt; có kình dương mà không có sát thì không có uy, có cả sát cả kình dương thì lập công kiến nghiệp, có thể thành tướng, soái".

Tóm lại, kình dương là hung sát, phần nhiều chủ về tai hoạ, thương tật và cũng chỉ về những tội phạm pháp. Thân nhược gặp kình dương có thể giúp thân, thân mạnh gặp kinh dương thì cái xấu càng tăng. Do đó người bị kình dương nên làm việc thiện, kiềm chế mình, tôn trọng pháp luật thì tránh được điều xấu, giữ được an thần, nếu không suốt đời trắc trở.

III. BÀN VÀ KIẾP SÁT

Thân tí thìn thấy tị, dần ngọ tuất thấy hơi, tị dậu sửu thấy dần, hợi mão mùi thấy thân.

Cách tra kiếp sát lấy chị năm hoặc chi ngày làm chủ, phàm địa chỉ trong Tứ trụ thấy là có.

Kiếp sát trong bảng trường sinh đế vượng tử tuyệt ở vào tuyệt địa. Như mộc tuyệt ở thân, hợi mão mùi lấy thân làm kiếp sát, trong thân canh kim kiếp mộc. Kim tuyệt ở dân, tị dậu sứu lấy dân làm kiếp sát, trong dân bính hoả kiếp kim. Hoả tuyệt ở hợi, dân ngọ tuất lấy hơi làm kiếp sát, trong hội nhâm thuỷ kiếp hoả. Thuỷ tuyệt ở tị, thân tí thìn lấy tị làm kiếp sát, trong tí mậu thổ kiếp thuỷ.

Kiếp có nghĩa là đoạt, bị cướp đoạt từ ngoài gọi là kiếp. Kiếp sát tốt thì thông tuệ nhạy bén, tài trí hơn người, không làm chậm việc, lòng rộng bao la, cao minh nhanh nhẹn, vũ đức đều cao. Sinh vượng đi với quý sát là gặp lộc ngay. Hung sát thì manh tâm độc ác, binh nghiệp thì bị thương, cướp bóc vô tình. Cho nên có câu: "Kiếp sát là vạ khôn lường, tài lợi danh trường bỗng nhiên mất hết, phải đề phòng tổ nghiệp tiêu tan, vợ con không kéo dài được cuộc sống. Người mà Tứ trụ gặp phòng sinh và kiếp sát sẽ trở thành bậc nho sĩ chấn hưng sự nghiệp cho triều đình, nếu giờ sinh có cả quan quý thì làm quan to. Kiếp thân gặp quan tinh là chủ về người nắm binh quyền, có uy và được nhiều người ngưỡng mộ".

Kiếp sát chủ về hung, về các tai vạ bệnh tật, bị thương hình pháp, trong Tứ trụ không gặp là tốt nhất. Nếu nó là kị thân thì tính cách cường bạo, gian hoạt giảo trá, thường chuốc lấy tai hoạ. Nếu là cát tinh hoặc hỉ thân, dụng thần thì là người hiếu học, cầu tiến bộ, ham lập nghiệp, công việc chuyên cần, quả đoán trong công việc, dễ thành công.

IV. BÀN VỀ TAI SÁT

Dần ngọ tuất thấy tí, thân tí thìn thấy ngọ, hợi mão mùi thấy dậu, tí dậu sửu thấy mão.

Tai sát còn có tên là bạch hổ, tính dũng mãnh, thường ở trước kiếp sát, xung phá tướng tinh nên gọi là tại sát.

Cách tra tai sát lấy chi năm làm chủ, trong địa chi của Tứ trụ thấy tức là có. Tại sát là tại và tướng tinh bị xung khắc. Như người sinh vào các năm dần ngọ tuất thấy ngo là tướng tinh, xung khắc ngọ là tí, tí tức là tại sát.

Tai sát sợ khắc, nếu gặp sinh lại tốt. Trong Tứ trụ nếu gặp tai sát thì phúc ít hoạ nhiều. Sát chủ về máu me, chết chóc. Sát đi với thuỷ, hoá phải đề phòng bỏng, cháy, đi với kim mộc đề phòng bị đánh, đi với thổ phải đề phòng đổ sập, ôn dịch. Sát khắc thân là rất xấu, nếu có thần phúc cứu trợ, phần nhiều có quyền lực, cũng như kiếp sát, gặp quan tinh ấn thụ là tốt.

V. BÀN VỀ CẤU GIẢO

Nam dương nữ âm, ngôi thứ ba sau mệnh là cấu, ngôi thứ ba trước mệnh là giảo.

Nam âm nữ dương, ngôi thứ ba sau mệnh là giảo, ngôi thứ ba trước mệnh là cấu .

Cách tra cứu, giảo là lấy chi năm làm chủ. Như nam sinh năm dương canh ngọ, ngôi thứ ba sau mệnh là dậu là cấu, ngôi thứ ba trước mệnh là mão là giảo. Nữ sinh năm canh ngọ, ngôi thứ ba sau mệnh là dậu là giảo, ngôi thứ ba trước mệnh là mão là cấu. Những cái khác cách tính tương tự.

Cấu nghĩa là liên luỵ, giảo nghĩa là trói buộc, cột vào. Mệnh gặp hai sát đó thân bị khắc sát, nhưng nhiều cơ mưu, chủ về nắm các việc hình phạt hoặc là tướng soái, những việc sát hại. Năm hành đến đó thường gặp chuyện cãi cọ, hình phạt. Cả hai đều gặp càng nặng, gặp một thì nhẹ hơn, đi với quan sát thì nặng.

Ngày hoặc tuế vận gặp cấu hay giảo là chủ về tai nạn nát thân.

VI. BÀN VỀ CÔ THẦN, QUẢ TÚ

Hợi tí sửu thấy dần là cô, thấy tuất là quả.

Dân mão thìn thấy tự là cô, thấy sửu là quả.

Tị ngọ mùi thấy thân là cổ, thấy thìn là quả. mun

Thân dậu tuất thấy hơi là cô, thấy là quả.

Cách tra cô quả lấy chi năm làm chuẩn. Phàm người sinh các năm hợi tí sửu trong Tứ trụ thấy dần là cô thần, thấy tuất là quả tú. Những cái khác cách tra tương tự.

Nghĩa của cô quả là, đàn bà già mất chồng là quả, trẻ em không có cha là cô. Thân là sao thần, tú là sao tú, chỉ các sao thân. Sinh ra tôi là mẹ, khắc tôi là chồng, tôi khắc là vợ. Hợi tí sứu thuộc phương bắc ngôi thuỷ, thuỷ lấy kim làm mẹ. Kim tuyệt ở dân, là tuyệt địa của mẹ. Thuỷ lấy hoả làm vợ, họả mộ ở tuất, là mộ của vợ. Thân dậu tuất thuộc phương tây ngôi kim, kim lấy hoa làm chồng, hoả tuyệt ở hợi, lấy mộc làm vợ, mộc mộ ở mùi. Tị ngọ mùi thuộc phương nam ngôi hoả, hoả lấy mộc làm mẹ, mộc tuyệt ở thân, lấy thuỷ làm chồng, thuỷ mộ ở thìn. Dần mão thìn thuộc phương đông ngôi mộc, mộc lấy thuỷ làm mẹ, thuỷ tuyệt tị, lấy kim làm chồng, kim mộ ở sửu. Cho nên mẹ tuyệt là cô thần, chồng mộ, vợ mộ là quả tú.

Còn có một lẽ khác là dần thân tị hợi là giáp góc, thìn tuất sửu mùi là cách góc, tiến là dương là không lợi cho cha, lùi là âm là không lợi cho mẹ, ở cung dương là trắc trở cho cha, ở cung âm là trắc trở cho mẹ. Như người có dân mão thìn, tị là cô, sửu là quả, dần thìn đều là ngôi dưỡng, sửu tị đều là ngôi âm, nam hay nữ trong mệnh gặp như thế thì dù có sinh con cũng phần nhiều giữa mình với con không hoà thuận.

Những người mà trong mệnh gặp quả, tú là những người nét mặt không hiền hoà, không lợi cho người thân. Nếu mệnh người đó sinh vượng thì còn đỡ, tử tuyệt thì nặng hơn, nếu gặp cả trạch mã thì lang thang bốn phương. Nếu gặp tuần không, vong là từ bé đã không có nơi nương tựa. Gặp tang điếu thì cha mẹ mất liền nhau, suốt đời hay gặp trùng tang hoặc tại hoạ chồng chất, anh em chia lìa, đơn hàn bất lợi. Gặp vận tốt thì việc hôn nhân muộn, gặp vận thấp kém thì lang thang di chuyển mãi. Mệnh nam sinh chỗ vợ tuyệt lại còn gặp cô thân thì suốt đời khó kết hôn, mệnh nữ sinh chỗ chồng tuyệt còn gặp quả tú thì có lấy được chồng cũng khó mà bách niên giai lão. Nam gặp cô thân nhất định tha phương cầu thực, nữ gặp quả tú thường là mất chồng.

Cô thần quả tú, người xưa bàn rất nhiều, chủ về nam nữ hôn nhân không thuận, mệnh khắc lục thân, tai vạ hình pháp, nhưng nếu trong Tứ trụ phối hợp được tốt, còn có quý thần tượng phù thì không đến nỗi nguy hại, thậm chí "cô quả cả hai thần lại còn gặp quan ấn, thì nhất định làm đầu đảng ở rừng sâu". Nhưng hôn nhân không thuận là điều chắc, hơn nữa lúc phạm vào ngày tháng sẽ khắc phụ mẫu".

VII. BÀN VỀ VONG THẦN

Dần ngọ tuất hoả cúc thấy tị, tị dậu sửu kim cục thấy thân, thân tí thìn thuỷ cục thấy hơi, hợi mão mùi mộc cục thấy dần.

Cách tra vong thân là lấy chi năm hoặc chi ngày làm chủ, lấy tam hợp cục trong Tứ trụ làm dụng thần, không có hợp cục thì không thể dùng.

Vong thần, vong tức là mất, mất từ bên trong gọi là vong.

Kiếp ở chỗ tuyết trong ngũ hành, còn vong ở chỗ vượng trong ngũ hành.

Vong thân là gặp quan vượng trong tam hợp cục. Vong thân gặp tài cục là tài vượng, gặp quan cục là quan vượng, gặp thương quan cục là xì hơi. Gặp tài, quan, thương mà lớn thì đòi hỏi bản thân vượng, thân nhược là hại, gặp ấn cục là tốt. Vong thần cát thì sắc sảo uy lực, mưu lược tính toán, liệu việc như thân, binh cơ biến hóa, cuối cùng rồi sẽ thắng, nói năng hùng biện, lưu loát, tuổi trẻ tiến nhanh. Nói là tốt tức là chỉ khí mệnh gặp sinh vượng, quý sát. Nói là xấu tức khí mệnh rơi vào tử tuyệt, ác sát, là người ngông cuồng đảo điên, trắng đen thị phi lẫn lộn, lòng dạ hẹp hòi, đam mê tửu sắc, việc quan kiện tụng, phạm quân pháp. Nếu quý nhân kiến lộc lại gặp vong thân thì chuyện về công việc bút nghiên, văn tự, nên nghiệp nhờ việc công. Câu xưa nói: "Vong thân thất sát thì hoà không nhẹ, tìm đủ mọi cách việc vẫn không thành, khắc vợ khắc con, không nói được nghiệp, cha kẻ sĩ thì vô danh. Mệnh đã tuân không còn gặp vong thân thì hoà không nhẹ, nghèo đói suốt đời".

VIII. BÀN VỀ NGUYÊN THẦN Nam dương nữ âm thì lấy chi sau ngôi xung. Nam âm nữ dương thì lấy chi sát trước ngôi xung. Cách tra nguyên thần lấy chi năm làm chủ. Chi sau ngôi xung nghĩa là, như người sinh năm tí, xung tí là ngọ, sau gọ 1 mùi, nên trong Tứ trụ chi của tháng ngày giờ nếu có mùi thì mùi là nguyên thần. Người sh nam dương nữ âm, cách tính 1 tuyên thần là: năm tí thấy mùi, năm su t thấy thân, năm dần thấy dậu, năm mão thấy tuất, năm thìn thấy hơi, năm tị thấy tí, năm ngọ thấy sửu, năm mùi thấy dân, năm thân thấy mão, năm dậu thấy thìn, năm tuất thấy tị, năm hơi thấy ngọ. Nam âm nữ dương thì cách tính là: năm tí thấy tị, năm sửu thấy ngọ, năm dần thấy mùi, năm mão thấy thân, năm thìn thấy dậu, năm tị thấy tuất, năm ngọ thấy hơi, năm mùi thấy tí, năm thân thấy sứu, nám dậu thấy dần, năm tuất thây mão, năm hại thấy thìn.

Nguyên nhân còn có tên là đại hao, là không hợp. Dương sau âm trước là có gấp khúc, gấp khúc là việc không suôn sẻ; âm sau dương trước là thẳng nhưng không toại nguyện, tức là việc có bạo động mà không trị được, nên gọi là nguyên thân. Nguyên thần rơi vào đất khí xung là hung, phình bên trái là phong sát bên phải, phình bên phải là phong sát bên trái, cho nên nam nữ âm dương phải lấy trước Xe 3 hay sau xung là thế. Tuế vận gặp phong thân như cây gặp gió, bị xô lạc điên đảo, không được bình yên, không có bệnh trong thì gặp nạp ngoài, tuy phú quý cao sang nhưng không thịnh. Đại vận gặp vong thân thì cả 10 năm đáng sợ, không yên ổn, cửa nhà lận đận, nếu có cát thân phù trợ mới đỡ được phần nào. Vong thần sợ nhất trước cát sau hung. Sau khi phát vượng ở thời điểm muốn ra mà chưa ra được thì khó mà thoát được tại vạ. Mệnh gặp vong thân thì người có diện mạo thô cục, mặt xương xẩu mũi thấp miệng to, khoé mắt xước, đầu dô vai cao, tay chân cứng nhắc, giọng nói trầm đục. Gặp sinh vượng thì tính tình vô định, không phân biệt phải trái, lành ác, tính thay đổi thất thường. Gặp tử tuyệt thì lãnh đạm, thờ ơ, bạc bẽo, diện mạo cục cằn, nói năng thô tục, vô liêm sỉ, tham ăn tham uống, quen thói lưu manh. Gặp quan phù thì hay chuốc lấy nhiễu sự. Gặp kiếp sát thì hành động thô bạo, không biết xấu hổ. Phụ nữ gặp vong thần giọng nói đục khó nghe, gian dâm với giặc, vô lễ, cuộc đời rủi nhiều hơn may, tuy sinh con nhưng con bất hiếu.

Nguyên thân là thần hại mệnh nặng thêm. Người trong Tứ trụ đã có thất sát làm hại, còn gặp phải nguyên thần thì hại càng nặng hơn, không có nguyên thân thì nhẹ.

Nguyên thần tuy xấu, lưu niên đại vận gặp là không tốt, nhưng biết được điều xấu, tránh xa phương của nguyên thân thì có thể vô hại.

IX. BÀN VỀ KHÔNG, VONG

Cách tra không, vong lấy ngày làm chính, nếu các chi của năm, tháng, giờ có là bị không, vong Tức là nói từ ngày giáp tí đến ngày quý dậu, trong mười ngày này không có hai chữ tuất hợi, nếu trong Tứ trụ thấy tuất hoặc hợi tức là tuần không, vong. Cách tra các ngày khác cũng thế.

image

Không là ngược với thật, vong là ngược với có. Không vong nói một cách ngắn gọn là thời gian chưa đến. Như trong tuần giáp tí, tuất hợi là không. Một tuần chỉ có mười ngày. Tuất và hợi là thứ 11 và thứ 12, nếu đến ngày tuất và ngày hợi gọi là xuất không. Xuất không là không còn không nữa. Tứ trụ tuy có không vong, nhưng nếu xung hoặc hợp, hoặc hình thì không phải là không nữa, mà ngược lại mới là chân không. Cát thân gặp không vong thì mừng gặp hợp, hung tinh gặp không vong thì kị gặp hợp.

Không vong trên địa chi của năm thì thứ nhất là tổ nghiệp không có gì, thứ hai là mẹ bị không vong, tạ thế hoặc cải giá, hoặc đi xa, hoặc mẹ không nuôi con, có mẹ như không. Không trên chi tháng phần nhiều chỉ không có anh chị em hoặc có anh chị em nhưng không nương tựa được. Không trên chi giờ, thứ nhất là sau khi kết hôn không thể có con ngay, thứ hai là không có con hoặc có con mà không nương tựa được. Như người sinh giờ giáp ngọ ngày bính tuất, tháng tân sửu, năm tân mùi; ngày bính tuất trong tuần giáp thân, "tuần giáp thân, ngọ mùi là không", ngọ trên trụ giờ và mùi trên trụ năm của Tứ trụ là tuân không, tuần không này ở ngôi mẹ và trong cung con cái.

Sát của tuần không có cát, có hung. Nếu Tứ trụ có hung tinh, ác sắt thì đó là đất tụ hội tại họa, nu cần có không vong giải cứu. Nếu là lộc mã tài quan thì đó là nơi phúc tụ, không nên gặp không vong vì sẽ làm tiêu tan. Người mà cả ba ngôi tháng, ngày, giờ sinh đều không vong thì lại tốt, là quý nhân. Nếu gặp hai ngôi là không vong thì có làm quan nhưng chức không to.

Nếu trong mệnh gặp không vong mà thân vượng thì người đó rộng rãi, phong độ, người to lớn dẫy đà, nhưng hay có họa bất ngờ.

Đi với tử tuyệt thì lên voi xuống chó, phiêu bạt, khi bản thân có khí vận cũng khó mà thành Phúc Kị nhất là can chi tương hợp với thiên trung, như thể gọi là tiểu nhân thắng thế lên ngôi, gian trá quỷ quyệt. Đi với quan phù là người hay nịnh chồng; đi với kiếp sát thì hẹp hòi, nhút nhát, đi với vong thân là bồng bềnh trôi nổi; đi với đại hao là điên đảo bất thường; đi với kiến lộc là suốt đời phát tán; đi với hàm trì thì hung bạo. Đi với giáp góc, hoa cái, tam kì thì lại là kẻ sĩ thông minh, thoát tục. Kiến lộc gặp tuần không thì học hành không thành đạt, nếu được trạch mã cứu trợ thì có được nhận chức cũng mất luôn. Tóm lại phàm mệnh gặp không vong trên chi giờ thì tính tình bướng bỉnh, đi với hoa cái là chủ về ít con.

X. BÀN VỀ THẬP ÁC ĐẠI BẠI

Giáp thìn, ất tị và nhâm thân; bính thân, đinh hợi và canh thìn; mậu tuất, quý hợi và tân tị; tỉ sửu đều là mười bị thần.

Ngày tnập ác đại bại tức lấy can chi của ngày trong Tứ trụ, gặp nó là ngày đại bại. Trong tuần lục giáp có mười ngày gặp lộc nhập không vong. Giáp lộc ở dân, ất lộc ở mão, trong tuần giáp thìn dân mão tuần không, nên giáp thìn, ất tị là ngày không có lộc; canh lộc ở thân, tân lộc dậu, trong tuần giáp tuất, thân dậu tuần không, nên canh thìn, tân tị là những ngày không có lộc; bính mậu lộc ở tị, trong tuần giáp ngọ, tị tuần không, nên bính tha mậu tuất là những ngày không có lộc; định tị lộc ở ngọ, trong tuần giáp thân, ngọ tuân không, nên định hợi, kỉ sửu là hai ngày không có lộc; nhâm lộc ở hợi, trong tuần giáp tí hợi tuần không nên nhân thân là ngày không có lộc; quý lộc ở tí, trong tuần giáp dần tí tuần không nên quý, hợi là ngày không có lộc. Mười ngày này là những ngày không có lộc, nên còn gọi là thập ác đại bại.

Thập ác như là người phạm mười trong tội trong luật pháp, không được xá giảm. Đại bại là như trong luật nhà binh giao tranh thất bại, không sót một ai, nghĩa là rất nặng nề. Ngày thập ác đại bại là ngày hung, cổ xưa giao chiến rất kiêng kị, nguồn gốc của nó là từ các sách "Nguyên bạch kinh", "Thích giáo huyền hoàng kinh" và "Uyên hải tử bình”. Tôi trong quá trình nghiên cứu phát hiện hai sách đầu chủ yếu là giải thích ngày thập ác đại bại của "Uyên hải tử bình” mà ra, nhưng trong ngày đại bại lại có nói đến sự hạn chế khác nhau của năm và tháng, vì vậy trong thực tiễn hai sách đó ít được dùng, mà hầu hết dùng theo phương pháp tử bình. Vì phương pháp tử bình phù hợp với thực tế, lại là phương pháp chính thường được dùng trong cuộc sống để kiêng kị khi xuất hành, khởi sự công việc hay việc hỉ nên ở đây xin giới thiệu độc giả tham khảo.

Ngày thập ác đại bại là "kho vàng bạc hóa thành đất bụi", nếu gặp cát thần phù trợ, quý khí trợ giúp thì còn tốt, nếu gặp+thiên đức, nguyệt đức thì không còn là điều kị nữa, hoặc gặp tuế kiến, nguyệt kiến, thái dương điên đây cũng không còn là kị nữa.

XI. BÀN VỀ HÀM TRÌ

Thân tí thìn hàm trì ở dậu, tị dậu sứu ở ngo, dân ngo tuất ở mão, hợi mão mùi ở t

Hàm trì còn có tên là đào hoa, tra theo chi năm, cũng có sách hướng dẫn tra theo chi ngày hoặc chi tháng. Kinh nghiệm của tôi là tra cả chi ngày và chi năm đều ứng nghiệm, cho nên chi năm, chi ngày đều có thể tra đào hoa.

Hàm trì là lấy nghĩa ngày nhập, là chỉ vạn vật còn ở thời điểm nhập nhoạng chưa rồ"Mặt trời sắp ló ở chân trời, nhập vào hàm trì". Cho nên gọi hàm trì là chỗ ngũ hành mộc dục. Thủy cục thân tí thìn trường sinh ở thân, dậu là mộc dục nên lấy dậu làm hàm trì. Kim cục tị dậu sứu trường sinh ở tị, ngọ là mộc dục, nên lấy ngọ làm hàm trì. Hoả cục dân ngo tuất trường sinh ở dân, mão là mộc dục, nên lấy mão làm hàm trì. Mộc cục hợi mão mùi trường sinh ở hợi, tí là mộc dục nên lấy tí làm hàm trì. Đạo giáo phương Tây cho rằng có bà vương mẫu có nhiều kĩ nữ xinh đẹp mà hàm trì là những cái ao chuyên để cho các tiên nữ tắm, nam giới không được vượt qua đó lấy nửa bước, nếu không thì chìm ngập trong son phấn không sống nổi. Chẳng trách gì người xưa quy cho hàm trì là hung sát.

"Đào hoa chủ về gian dâm. Nếu sinh vượng là nghĩa đẹp, đam mê tửu sắc, coi thường tiền của, ham vui, phá tan gia nghiệp. Nếu gặp tử tuyệt thì nói năng xảo trá, lang bạt cờ bạc, vong ân thất tín, tự lãm gian dâm, không làm nên việc gì. Đi với nguyên thần và sinh vượng thì làm Vợ đầu đảng cướp; nếu gặp quý nhân, kiến lộc thì kiếm được sinh lợi nhờ các loại hàng dầu mỡ, rượu, muối hoặc nhờ tiền bất chính của phụ nữ mà nên nhà nên cửa; cũng có thể gặp tai hoạ dưới nước. Thần này nhập mệnh mọi việc khó thành, thường là điềm xấu nên phụ nữ kiêng kị không nên gặp".

Người xưa cho rằng, đào hoa chỉ việc nam nữ bất chính, cho nên cho rằng người có dào hoa thì không làm nên việc gì. Thực ra đào hoa cũng có nhiều điều tốt như người thông minh, hiếu học, đẹp, tính tình khảng khái. Sách "Tam mệnh thông hội" nói: "Phàm người hàm trì thì khéo tay, phong lưu, đẹp, tính nóng nhưng giỏi nhiều nghề". Đào hoa phân nhiều là nghệ nhân. Thông minh, linh lợi, khéo léo chính là nguồn tiến bộ của văn hóa nghệ thuật; đẹp là biểu hiện thể chất ưu việt của đất nước, khảng khái hào phóng là mỹ đức của dân tộc. Vì vậy không nên nói hàm trì là điềm xấu của nam nữ. Kinh nghiệm thực tiễn cho biết: hàm trì gặp ấn thụ là chủ về việc văn chương; gặp quan thì được thăng chức; gặp tài thì chủ về quan quý. Có rất nhiều bậc quan quý cao sang, thương nhân giàu có, nhiều nghệ sĩ và nhà khoa học, danh nhân tướng soái đều có hàm trì. Sao lại có thể nói người có hàm trì không làm nên việc". Theo lý luận âm dương của trung y mà nói, hàm trì là tam hợp cục mộc dục ở vượng địa. Hàm trì vượng tất sẽ hiền, công năng tốt. Hiện lành là gốc của con người, do đó người hiện tinh lực dồi dào, ham muốn phải mạnh mẽ, đó là xu thế tất yếu của sinh lý. Nếu không phân tích kỹ đào hoa mà cứ theo lý luận luân lý chung chung thì sẽ hiểu sai lệch.

Người mà Tứ trụ gặp đào hoa, không những bản thân đẹp, mà cha mẹ, anh em, vợ (chồng) con cũng đẹp.

XII. BÀN VỀ CÔ LOAN

Ất tị, đinh tị, tân hợi, mậu thân, nhâm dần, mậu ngọ, nhâm tí, bánh ngọ. Cô loan sát là lấy ngày, giờ làm chủ. Phàm người ngày, giờ đồng thời xuất hiện các thiên can địa chỉ trên đều là mệnh phạm cô loan.

Cô loan chủ yếu nói về việc hôn nhân không thuận. "Nam khắc vợ, nữ khắc chồng".

Trong dự đoán, có người thích dùng cô loan, có người không thích dùng, vì vậy chỉ giới thiệu qua như thế để tham khảo.

XII. BÀN VỀ ÂM DƯƠNG LỆCH NHAU

Bính tí, định sửu, mậu dần, tân mão, nhâm thìn, quý tị, bính đinh mùi, mậu thân, tân dậu, nhâm tuất, quý hợi.

Âm dương lệch nhau lấy trụ ngày làm chính, thấy những ngày trên là có.

Ngày âm dương lệch nhau, nữ gặp phải là chị em dâu không toàn vẹn, hoặc bị nhà chồng từ chối. Nam gặp phải là bị nhà vợ từ chối, hoặc cãi cọ mâu thuẫn với nhà vợ. Gặp phải sát này, bất kể là nam hay nữ, tháng ngày giờ có hai cái hay ba cái trùng nhau là rất nặng. Trụ ngày phạm phải là chủ về không được gia đình chồng (hay vợ) ủng hộ, dù có được nhờ thì vẫn là hư vô, thậm chí về sau còn oán lẫn nhau, không đi lại nữa. Âm dương lệch nhau là tiêu chí thông tin rõ nhất về hôn nhân không thuận, trong thực tế rất ứng nghiệm.

XIII. BÀN VỀ ÂM DƯƠNG LỆCH NHAU

Bính tí, định sửu, mậu dần, tân mão, nhâm thìn, quý tị, bính đinh mùi, mậu thân, tân dậu, nhâm tuất, quý hợi.

Âm dương lệch nhau lấy trụ ngày làm chính, thấy những ngày trên là có.

Ngày âm dương lệch nhau, nữ gặp phải là chị em dâu không toàn vẹn, hoặc bị nhà chồng từ chối. Nam gặp phải là bị nhà vợ từ chối, hoặc cãi cọ mâu thuẫn với nhà vợ. Gặp phải sát này, bất kể là nam hay nữ, tháng ngày giờ có hai cái hay ba cái trùng nhau là rất nặng. Trụ ngày phạm phải là chủ về không được gia đình chồng (hay vợ) ủng hộ, dù có được nhờ thì vẫn là hư vô, thậm chí về sau còn oán lẫn nhau, không đi lại nữa. Âm dương lệch nhau là tiêu chí thông tin rõ nhất về hôn nhân không thuận, trong thực tế rất ứng nghiệm.

XIV. BÀN VỀ TỨ PHẾ

Xuân Canh thân, tân dậu,

Hạ: Nhâm tí, quý hợi;

Thu: giáp dần, ất mão;

Nay Đông: bình ngọ đinh tị.

Cách tra tứ phế, phàm can chi ngày sinh trong Tứ trụ vào mùa như trên là tứ phế. Như vậy tháng sinh vào mùa xuân, gặp ngày canh thân hay tân dậu là tứ phế.

Phế là giam nhốt mãi. Mệnh gặp tứ phế thì mọi việc không thành, có đầu không có đuôi.

Tứ phế chủ về thân yếu, nhiều bệnh, không có năng lực, nếu không gặp sinh, phù trợ mà còn bị khắc hại, hung sát áp chế thì chủ về thương tật tàn phế, kiện tụng của quan, thậm chí bị giam, hoặc người theo tăng đạo. Cho nên trong Tứ trụ, cho dù là năm tháng ngày giờ gặp phải đều không tốt, đặc biệt là nhật nguyên thì càng không tốt.