Chương 1 tổng kết

Chương 1

CƠ THỂ NGƯỜI VÀ THÔNG TIN

Vũ trụ là một hệ thống vô cùng to lớn, bao gồm các tinh cầu mà chúng ta đã biết và chưa biết đến. Trên các tinh cầu, các vật có sự sống hay không có sự sống, vận động hay đứng yên, sinh trưởng hay suy vong, tất cả đều vận động theo quy luật có ý thức hoặc vô ý thức, và phát ra đủ các loại thông tin trong vũ trụ. Cho nên vũ trụ là một thế giới bao la đầy thông tin, nhiều thông tin trong vũ trụ, chỉ có một số ít bộ môn khoa học hiện đại có thể giải thích được, số còn lại nhiều hơn, các môn khoa học chưa thể nào giải thích được.

Con người là một tiểu thiên thể hữu hạn, là một sinh vật cực kỳ phức tạp, vừa đối lập vừa thống nhất. Sinh vật tiểu thiên thể này cũng giống như vũ trụ đều chứa rất nhiều thông tin. Những thông tin này không những do bản thân sinh vật vốn có, mà còn có những thông tin thuộc bên ngoài tác động đến. Cơ thể người vừa có chức năng phát thông tin, lại vừa thu thông tin. Chẳng qua chức năng này chịu sự vận động của đại thiên thể chi phối và ảnh hưởng.

Tổ tiên ta đã tổng kết ảnh hưởng của đại thiên thể đến tiểu thiên thể thành "cảm ứng giữa người và trời".

Thuyết "cảm ứng giữa người và trời" vốn do người xưa căn cứ vào ảnh hưởng của hệ thiên thể vận động đối với cơ thể người và mối quan hệ thông tin tương hỗ giữa vũ trụ và cơ thể người, để tổng kết thành lý luận khoa học. Nhưng trước kia, điều này luôn bị một số người nào đó quy thành duy tâm chủ nghĩa. Ngày nay, cùng với sự tiến bộ của xã hội và sự phát triển của khoa học, "sự cảm ứng giữa người và trời" cuối cùng lại được trở về ngôi nhà khoa học.

"Sự cảm ứng giữa người và trời" chính là mối quan hệ cơ bản của hai khí âm dương, ngũ hành của trời và đất tương sinh, tương khắc, tương chế, tương hóa, là những thông tin của vũ trụ ảnh hưởng đến con người, thể người cảm ứng với các loại thông tin trong hệ thiên thể vận động. Tóm lại cát, hung, họa, phúc của một con người, cũng như sự hưng suy của một đất nước đều có quan hệ chặt chẽ với sự vận động của thiên thể. Do đó cơ thể con người và các tin tức trong vũ trụ liên thông mật thiết với nhau. Trong chương này, trước hết ta bàn đến mối quan hệ giữa cơ thể người với thông tin, và ảnh hưởng của thông tin đối với con người cũng như phương pháp dự đoán về thông tin.

I. CƠ THỂ NGƯỜI LÀ MÁY CẢM ỨNG THÔNG TIN

Bản thân cơ thể người là máy cảm ứng thông tin. Nó không những có chức năng dự đoán thông tin mà còn có sự phân công rất nghiêm ngặt. Lấy cơ thể ta mà nói, bộ phận da quản về các loại thông tin đau, ngứa, nóng, lạnh, có gió hay không gió; mắt quản về xa gần, màu sắc, to nhỏ, xấu đẹp, vv...; mũi quản về các thông tin thơm thối, các loại mùi; miệng quản các thông tin mùi vị; tai quản âm thanh to nhỏ, loại âm thanh gì; tay quản các thông tin nặng nhẹ, vv.. Nhưng tất cả những thông tin của các bộ phận này dự đoán đều mang tính chất vĩ mô, bề mặt, cảm giác được, nhìn thấy được, là có phạm vi và có giới hạn, còn đối với những thông tin vi mô, tiềm ẩn, phức tạp, vượt ra khỏi phạm vi cụ thể thì những cơ quan ấy bất lực.

Con người để sinh tồn đã bắt chước sự cảm ứng thông tin của cơ thể, bắt đầu tìm cách chế ra những công cụ dự đoán thông tin để mong nhận được những thông tin cần thiết giúp bảo tồn bản thân. Ví dụ con người biết đói rét, nên biết mặc áo, ăn cơm, do đó mà có nông nghiệp. Có những cái xa quá, nhỏ quá, mắt nhìn không thấy nên đã phát minh ra kính viễn vọng, có những thông tin cần chuyển gấp, địa điểm truyền đi xa nên đã phát minh ra điện báo, điện thoại, thông tin viễn thông. Tóm lại tất cả những dụng cụ hiện đại dùng để dự đoán hoặc truyền thông tin đều có nguồn gốc từ cảm ứng của cơ thể. Do đó Lê-nin nói: "Nếu cảm giác của con người không làm cho người ta có được một quan niệm chính xác với môi trường khách quan chung quanh, thì người ta sẽ không thể thích ứng với hoàn cảnh được" (Lê-Nin Toàn tập trang 139 - quyển 14).

Những phương pháp hiện đại dùng để thu thập thông tin có rất nhiều, đại thể có: dùng người đưa tin tức, như cử người đi điều tra, trinh sát, dùng báo chí, dùng các máy điện tử như phát thanh, truyền hình, vệ tinh nhân tạo, vv.. Những công cụ thông tin này tuy rất tiên tiến, nhận được thông tin vĩ mô lẫn vi mô, nhưng nó không phải là vạn năng, vì điều kiện bản thân nó có hạn, nên không thể nhận được tất cả các loại thông tin, còn nếu dùng Bát quái thì không tốn tiền, xa hàng nghìn dặm nhưng có thể đoán được rất nhanh. Cho nên tổ tiên ta, từ mấy nghìn năm về trước đã phát minh ra dùng Bát quái để đoán thông tin, còn phát minh ra dùng thiên can, địa chi và phép sắp xếp Tứ trụ để dự đoán tin tức lành dữ cho con người với độ chuẩn xác rất cao, ứng nghiệm thần kỳ, cơ sở khoa học rất sâu. Ngày nay cho dù khoa học đã phát triển rất nhanh và rất hiện đại, cũng chưa có cách gì giải thích được sự bí ảo của nó (xin xem kỹ trang 64 sách Chu dịch và dự đoán học của Thiệu Vĩ Hoa biên soạn).

II. CƠ THỂ NGƯỜI CÓ CHỨC NĂNG PHÁT VÀ THU NHẬN THÔNG TIN

Cơ thể người là một máy lưu trữ thông tin, có chức năng phát và thu nhận thông tin. Vạn vật đều vận động theo quy luật vốn có riêng biệt của mình để tồn tại. Người là động vật cao cấp, khi nó phát và thu thông tin, không những đã tuân thủ quy luật vốn có một cách nghiêm ngặt mà còn có mật mã riêng của mình để phát và thu tin. Cũng giống như máy thu - phát, máy vô tuyến, vệ tinh thông tin, vv... mỗi loại đều có sóng, tín hiệu và tần số riêng của mình để phát và thu những nội dung, hình ảnh cần thiết. Để nói rõ vấn đề này, tôi lấy một vài việc mà mọi người thường gặp trong cuộc sống để chứng minh.

1. "Nhắc đến Tào Tháo, là Tào Tháo đến ngay"

Trong cuộc sống thường ngày, có lúc ở nhà, có lúc ở cơ quan, hoặc ở nơi công cộng thường xảy ra hiện tượng sau: khi bạn bè ngồi với nhau, trong đó có một người vô tình nhắc đến ai đó, vừa nói xong thì một chốc có người gõ cửa. Mở cửa đúng là người vừa được nhắc đến. Mọi người đều ớ lên mà nói: thiêng thật, vừa nhắc tên xong thì anh đến!

"Nhắc đến Tào Tháo, Tào Tháo đến". Câu nói cửa miệng này của dân gian đối với những việc chưa đoán đã biết là từ trong cuộc sống thường ngày mà tổng kết ra. Nhưng tại sao rất ít người nghiên cứu đến hiện tượng kỳ lạ này, mà chỉ biết nó như thế, không ai chú ý hỏi vì sao?

Thực chất, đây là kết quả người nào đó phát ra thông tin và người kia nhận được thông tin. Từ góc độ nghiên cứu thông tin, tôi đã nhiều lần nghiên cứu và điều tra vấn đề này. Kết quả chứng tỏ, khi anh ta đến gần cửa hoặc cơ quan với một khoảng cách nào đó thì đại não của anh ta sẽ phát ra thông tin một cách có ý thức hoặc vô ý thức hướng vào mục tiêu anh ta cần đến. Thông tin đó được những người bạn đang tụ tập, trong đấy có một người (thông thường có quan hệ mật thiết hoặc trường khí liên thông với anh bạn kia) nhận được, do đó đã bất giác nhắc đến anh ta. Vì vậy mà có hiện tượng "nhắc đến Tào Tháo là Tào Tháo đến".

Trước đây tôi tưởng rằng chỉ có Trung Quốc mới có cách nói này, thực tế đó không phải là cách nói riêng của người Trung Quốc. Thời gian giảng bài ở Singapore và Thái Lan, tôi được biết ở đó họ cũng có cách nói như thế. Năm ngoái, lúc còn ở Singapore có hôm ông Mã và mấy người bạn của ông cùng đến thăm tôi. Lúc đang nói chuyện, ông Mã đã giới thiệu với tôi ông Trần, người bạn Indonesia của ông và nói ông Trần cũng rất hứng thú nghiên cứu vấn đề này. Lời ông Mã vừa nói xong, một phút sau thì nghe thấy tiếng gõ cửa. Ông Ngụy Văn Tín người Singapore ra mở cửa thì đúng là ông Trần. Ông Mã vừa kinh ngạc vừa phấn khởi reo lên, bắt tay khách và giới thiệu với tôi đây là bạn của ông. Ông Mã, bằng ánh mắt tin tưởng nhìn vào tôi nói: ông Thiệu, nhất định ông có nghiên cứu về vấn đề này, đề nghị ông giải thích cho chúng tôi vì sao lại như vậy? Khi được nghe nói đây là kết quả ứng nghiệm phát và thu thông tin của cơ thể con người thì tất cả họ đều nói: "Có lý! Có lý!"

2. Vì sao ông ta khóc?

Vũ trụ là trường điện từ, trường sinh vật và trường phản ứng. Cơ thể con người cũng thế. Khoa học hiện đại đã chứng minh rằng cơ thể con người có trường điện từ, trường sinh vật, tia hồng ngoại và sóng hồng ngoại. Cơ thể người phát và thu thông tin là dựa vào những trường vật chất này làm môi giới để hoàn thành. Khoa học hiện đại tuy chưa kiểm nghiệm được quá trình phát và thu nhận thông tin, nhưng việc phát và thu thông tin của cơ thể người là tồn tại khách quan ngoài ý muốn của ta.

Lúc 10 giờ đêm ngày 24 tháng 9 năm 1989, trong số học viên đến học lớp Kỳ môn độn giáp ở Tây An, có ông Lăng đột nhiên khóc rất thương tâm. Các học viên cùng phòng ai cũng kinh ngạc và đều quan tâm hỏi han xem có việc gì đau buồn mà khóc? Ông Lăng không nói gì, chỉ một mực khóc rất to. Khi ông Hoàng Bình - Hiệu trưởng Trường khí công Bảo Lâm Quảng Châu cũng là học viên đến an ủi, hỏi xem có việc gì cần giúp, thì ông Lăng nói: "Tôi chẳng có việc gì cả, chỉ thấy muốn khóc".

Ông Lăng đã trên 40 tuổi, vì sao lại khóc một cách vô cớ, không những mọi người không hiểu mà bản thân ông Lăng cũng không nói được nguyên cớ gì, thật là kỳ lạ! Nhưng rồi mọi người cũng bỏ qua, chỉ khi nào nói chuyện mới nhắc đến, không ai chú ý nữa.

10 giờ sáng hôm sau, ông Lăng bỗng nhận được điện báo của gia đình từ Thượng Hải, báo tin bà mẹ đã mất 10 giờ tối hôm qua, yêu cầu ông về gấp để lo tang. Lúc đó ông Lăng và mọi người mới tỉnh ra, giờ ông Lăng khóc cũng chính là lúc bà mẹ qua đời, phát ra thông tin cho ông. Đại não ông Lăng sau khi tiếp thu thông tin của bà mẹ, vì đau khổ quá nên đã phản ứng thành hành vi mà khóc một cách thảm thiết.

Mươi năm lại đây rất nhiều báo trong và ngoài nước đều đưa nhiều tin tức về mặt này. Khi người thân ở rất xa gặp việc lành hay việc dữ thì người ở đây đều dự cảm được và có những phản ứng khác nhau, có người khóc, có người cười, có người một bộ phận cơ thể đau khác thường... Tất cả những biểu hiện này là dấu hiệu cơ thể con người có chức năng phát và thu thông tin.

III. DÙNG THIÊN CAN, ĐỊA CHI ĐỂ BIỂU THỊ THÔNG TIN CỦA CƠ THỂ

Trong khoa học nhân thể có nhiều phương pháp khác nhau để dự đoán các loại thông tin. Ví dụ muốn biết sức khoẻ tốt hay xấu có thể thông qua y học để phát hiện, nhưng mệnh vận con người tốt hay xấu, những thông tin về cát, hung, hoạ, phúc thì phải dùng các phương pháp Tứ trụ, Bát quái để dự đoán.

Cho dù là dùng Tứ trụ, Bát quái hay các phương pháp thuật số khác để dự đoán mệnh vận, dự đoán cát hung đều phải gắn chặt nguyên lý âm dương biến hoá, gắn chặt với các quy tắc ngũ hành sinh khắc chế hóa, gắn chặt với tổ hợp sắp xếp thiên can, địa chi.

Khí âm dương, ngũ hành là loại vật chất vô cùng tinh vi, nói chung nhìn không thấy, sờ không được, cũng chưa có cách gì để đo được nó. Ngay cả khí âm dương, ngũ hành trong cơ thể, được phân bố, kết cấu, sắp xếp ra sao, các ngũ hành phát sinh sinh - khắc được phân biệt ra sao và có ảnh hưởng như thế nào đối với sự sinh trưởng của con người, thì khoa học hiện đại cũng chưa có cách gì biết được. Do đó người ta cũng không thể đề phòng các tai nạn, hướng về điều tốt, tránh xa điều xấu.

Tổ tiên ta để giải quyết sự khó khăn trên đã phát minh ra thiên can, địa chi dùng làm tiêu chí cụ thể của các loại thông tin âm dương, ngũ hành trên cơ thể. Như vậy ta sẽ rất dễ biết được sự phân bố, kết cấu, tổ hợp sắp xếp của khí âm dương, ngũ hành trong cơ thể và thời gian ngũ hành sinh khắc, cũng như ảnh hưởng của nó đối với mệnh vận của con người.

Sự sắp xếp thiên can, địa chi của giờ, ngày, tháng, năm sinh là nột tổ hợp sắp xếp rất nghiêm ngặt. Các tin tức về mệnh vận của con người hiện ra thành hình thức khống chế trình tự vận khí của con người, nó được tiềm ẩn trong thiên can, địa chi và sẽ dựa theo các tiêu chí trong đồ thị khống chế để từng bước, từng giai đoạn chuyển dời theo thời gian một cách có trật tự. Cho nên người ta đến khi nào sẽ có thể phát sinh việc gì, nên đi theo vận nào thì có rất nhiều khả năng sẽ diễn ra như thế. Như trong một đời người không có quan vận, không có tài vận, khi nào thì phát tài, khi nào kết hôn, khi nào phát sinh việc lành dữ, trong thiên can, địa chi đều có tiêu chí. Do đó, chỉ cần chúng ta học và nghiên cứu Tứ trụ dự đoán học thì có thể hiểu được mệnh vận của mình một cách rõ ràng, từ đó mà làm chủ hành động của mình.

Sự sắp xếp thiên can, địa chi, âm dương, ngũ hành lúc sinh vừa là khí âm dương ngũ hành của cơ thể, vừa là những tiêu chí thông tin về thời gian, và phương vị không gian; vừa là cơ thể khoẻ hay yếu, vừa là tiêu chí thông tin mệnh vận tốt hay xấu; vừa là khí âm dương ngũ hành của cơ thể vượng hay suy, vừa là tiêu chí thông tin âm dương ngũ hành, sinh khắc chế hóa. Tóm lại trong cuộc đời, các loại thông tin đều tiềm chứa trong thiên can, địa chi lúc ra đời của người ta. Cho nên sự sắp xếp thiên can, địa chi của giờ sinh không những là thời gian biểu của đời người, mà còn là hồ sơ chứa những tiết mục đầy kịch tính và phong phú.

VI. MỐI QUAN HỆ GIỮA ÂM DƯƠNG, NGŨ HÀNH VỚI CƠ THỂ

Học thuyết âm dương ngũ hành và thiên can địa chi tương truyền do Đổng Trọng Thư đời Hán sáng tạo và đưa vào mệnh lý học. Cách nói này tuy chưa đủ để tin, nhưng Đổng Trọng Thư đối với sự phát triển về mặt này có cống hiến rất lớn. Ngày nay, từ hai mặt y học và vận khí của con người, chúng ta có thể bàn một cách vắn tắt sự ảnh hưởng của âm dương ngũ hành, thiên can địa chi đối với con người.

1. Xét ảnh hưởng âm dương ngũ hành, Thiên can địa chi đối với bệnh tật

Âm dương, ngũ hành là một danh từ triết học trừu tượng. Muốn diễn đạt rõ tác dụng của nó trong lĩnh vực khoa học và mối quan hệ của nó với cơ thể con người, nhất định phải dùng đến thiên can, địa chi. Vì trong thiên can, địa chi thể hiện chính xác thuộc tính của âm dương ngũ hành, mà những thuộc tính này lại là tiêu chí cụ thể về các thông tin của cơ thể. Cho nên âm dương ngũ hành, thiên can địa chi không những nói rõ sự ảnh hưởng to lớn của nó đối với sinh lý, bệnh lý và sự thay đổi do khí hậu, mà còn nói rõ sự thống nhất giữa cơ thể con người với hoàn cảnh xung quanh, tức là quan điểm trời, đất và người tương ứng thành một chỉnh thể.

Trước hết ta bàn về hai khí âm dương. Sách "Âm dương ứng tượng đại luận nói: "Âm thắng thì dương bệnh, dương thắng thì âm bệnh". Hai khí âm dương trong cơ thể cân bằng lẫn nhau, nếu khí dương phát triển trội hơn thì khí âm tất sẽ bị tổn thương, ngược lại khí âm phát triển trội hơn, khí dương sẽ bị thương tổn, như vậy sẽ sinh bệnh, thậm chí tử vong. Trong sách "Mạch giải biên” nói rất cụ thể về nguyên nhân sinh bệnh: "Người tai ù là dương khí vạn vật thịnh mà sinh ra, thậm chí thành điện vậy". Do đó trảm bệnh đều do khí mà sinh ra.

Xét về ngũ hành, sách "Tố vấn trạch dịch" có nói: "Hợp với người thì lấy phép ngũ hành bốn mùa mà chữa. Ngũ hành là: kim, mộc, thủy, hoả, thổ, rất cao xa nhưng cũng rất gần gũi. Nó quyết định sự sống chết, thành bại, là khí của lục phủ, ngũ tạng". Cơ thể con người là một vật thể âm dương đối lập rất phức tạp. Trong y học, từ xa xưa đã căn cứ vào âm dương ngũ hành, thiên can địa chi để sắp xếp các tổ chức khí quan, các bộ vị trên cơ thể, nó quyết định người thịnh hay suy, để chẩn đoán và chữa trị. Cho nên âm dương ngũ hành, thiên can địa chi, không chỉ dùng để nói rõ chức năng sinh lý của cơ thể, bệnh lý biến hóa mà còn để chỉ đạo chẩn đoán chữa trị bệnh tật. Để nói rõ vấn đề này, dưới đây sẽ giới thiệu bảng âm dương ngũ hành, thiên can địa chi phối với các tạng, phủ

image

Thiên can địa chi phối với các tạng phủ là dựa vào sự vượng của bốn mùa và tuế vận của hàng năm làm chủ, từ đó có thể biết được thời gian nào có nạn dịch bệnh gì. Sách "Khí giao biến đại luận” nói: "Tuế mộc thái quá thì phong thấp lưu hành, tỳ (lách) thể bị lâm bệnh. Hoả thái quá thì nhiệt cao, phổi thuộc kim bị bệnh. Năm thổ mạnh quá, phong thấp lưu hành nhiều, thận thuộc thuỷ bị bệnh. Năm kim mạnh quá thì táo bón lưu hành, gan thuộc mộc bị bệnh. Năm thuỷ mạnh quá thì hàn lưu rét nhiều, tâm thuộc hoả bị bệnh. Trong "Tàng khí pháp thời luận” nói: "Bệnh gan khỏi vào mùa hạ, mùa hạ không khỏi thì nặng vào mùa thu, mùa thu không chết kéo dài sang mùa đông lại bắt đầu khởi bệnh vào mùa xuân. Người bị bệnh gan khỏi ở bính, định, bính định không khỏi sẽ nặng thêm ở canh, tân; canh, tân không chết kéo dài sang nhâm quý, bắt đầu bị bệnh vào giáp, ất...". Thuộc tính âm dương ngũ hành của tạng phủ con người phù hợp với âm dương ngũ hành trong thiên can địa chi mà kim mộc thuỷ hỏa thổ lại phân biệt vượng suy theo bốn mùa. Cho nên mộc vượng quá thì tỳ vị bị khắc, do đó tỳ vị bị bệnh. Hoặc nói cách khác, trong giờ sinh của con người mà mộc nhiều hoặc mộc vượng, còn thổ suy thì tỳ vị của người đó nhất định có bệnh. Do đó, nắm được mối quan hệ sinh khắc giữa thiên can địa chi với cơ thể con người và tính quan trọng của nó thì sẽ biết cách đề phòng bệnh tật một cách hữu hiệu và biết được bệnh nặng hay nhẹ, cát hay hung.

2. Từ vận khí tốt xấu của con người để biết được ảnh hưởng của thiên can, địa chi

Học thuyết vận khí là môn khoa học, trong Đông y đã nghiên cứu quy luật vận động của thời tiết từ thời xa xưa, sau đó phát triển thành thiên văn vận khí học, hải dương vận khí học, khí tượng vận khí học, y học vận khí học, vv.. Tóm lại vận khí đối với vạn vật mà nói là khách quan tồn tại. Cho nên vạn vật có thuỷ chung, đế vượng có hưng suy, con người có cát hung là do có sự thống nhất trong ngũ vận.

Con người ở giữa trời và đất, bốn mùa thay đổi, lạnh nóng khác nhau đều tự mình biết được. Khoa học vận khí được các lĩnh vực khác thừa nhận, còn con người có vấn đề vận khí hay không thiết tưởng cũng không nên tranh luận làm gì. Vì con người cũng là một vật trong vạn vật nên nó cũng bị ảnh hưởng sự vận động của các thiên thể, cũng bị vận khí chi phối.

Thế nào là "vận"? Thế nào là "khí"? Tôi cho rằng: vận là hành, khí là hai khí âm dương. Hai khí âm dương vận động tồn tại hai trạng thái: cân bằng và mất cân bằng. Khi mất cân bằng sự vật sẽ mất đi tính quy định của chất; mất cân bằng thì sự thống nhất của mâu thuẫn bị phá hoại và sự vật này sẽ chuyển hóa thành vật khác. Mà sự cân bằng và mất cân bằng này, sự phá hoại và sự tồn tại đều phát sinh ra trong một thời gian và điều kiện nhất định. Thời gian và điều kiện chính là toàn bộ của quá trình sự vật phát sinh thay đổi. Trong quá trình này gặp khí tương sinh thì có lợi, gặp khí tương khắc thì có hại. Cho nên sự vật trong lúc vận hành gặp khí tương sinh hay tương khắc gọi là vận khí.

Mùa xuân đến, cỏ cây tươi tốt, sang mùa thu cỏ cây khô dần. Sự biến hoá của bốn mùa đối với cơ thể con người cũng như vậy. Do đó trong sách "Thiên nguyên khí đại luận" nói: "Trời có ngũ hành, đóng ở năm phương vị để sinh ra: lạnh, nóng, phong, táo, thấp; người có 5 tạng hóa 5 khí để sinh ra: mừng, giận, thương nhớ, lo lắng, hoảng sợ".

Trên kia đã nói về thiên can địa chi phối với các tạng phủ để chẩn đoán bệnh, ở đây sẽ bàn về sự sắp xếp thiên can địa chi của giờ sinh và sự vượng suy ảnh hưởng đến vận khí của con người.

Lấy thiên can địa chi phối vào năm tháng ngày giờ sinh để dự toán thông tin, phương pháp này đã trải qua hai giai đoạn lịch sử.

Bắt đầu từ Lý Hư Trung đời Đường, ông đã phối thiên can địa chi vào năm tháng ngày giờ sinh để dự đoán thông tin. Đến đời Tống, Từ Tử Bình đã phát triển phối thiên can địa chi vào năm tháng ngày giờ sinh thành tám chữ, nên gọi là phương pháp tám chữ. Sau khi phát minh tám chữ, lại phát minh ra cách sắp xếp vận khí của người. Do đó dùng thiên can địa chi phối với ngày sinh và cách sắp xếp vận khí để dự đoán tin tức đã là một sự phát minh lớn của nhân dân Trung Quốc. Phát minh này có thể dự đoán ra cát hung, hoạ phúc của cuộc đời, tính chính xác khá cao. Đó là cách dự đoán cát hung khá toàn diện, nhưng cũng rất khó nắm vững.

Thiên can địa chi trong giờ sinh không những là trạng huống thân thể của con người, tiêu chí thông tin về bệnh tật mà còn là tiêu chí tin tức về cuộc đời tốt hay xấu. Dùng phương pháp thiên can địa chi để dự đoán thông tin cũng là dùng nguyên lý âm dương biến hoá, lấy sự vượng suy, sinh khắc chế hóa của ngũ hành làm quy tắc. Ví dụ nói: nhật nguyên là mình, nhật nguyên là mộc lại sinh vào năm bị khắc, hoặc giả trong Tứ trụ kim nhiều thì cuộc đời của người đó không thuận lợi; nhật nguyên là mộc, trong Tứ trụ có thuỷ để tu dưỡng, ngũ hành bình hoà, đắc thời đắc địa thì cuộc sống anh ta tất sẽ thuận lợi. Để nói rõ vấn đề này xin nêu ví dụ dưới đây:

Ví dụ 1. Sinh năm quý mùi.

Có hai người bạn giờ kỷ tị, ngày giáp tí, tháng ất mão tức tháng 1/1987 đưa "lễ vật" đến thăm nhờ tôi đoán. Tôi xem Tứ trụ chỉ có can chi của năm mà không có tháng, ngày giờ. Một vòng Giáp tý 60 năm chỉ có 1 năm Quý mùi, 600 năm chỉ có 10 năm Quý mùi, 6000 năm chỉ có 100 năm Quý mùi. Do đó tôi hỏi là năm Quý mùi nào? Ông khách nói: xin ông đừng hỏi, cứ theo Tứ trụ mà đoán.

Loại Tứ trụ không cụ thể năm tháng như thế này là lần đầu tiên tôi gặp phải, vì vậy đành phải dùng phép gieo quẻ để đoán Tứ trụ. Tôi nói: Tứ trụ này là của nam giới, người khá cao, dáng đẹp; vợ anh ta cũng đẹp, quan hệ vợ chồng rất tốt. Về đường con cái, nếu con đầu là nam thì khó thành người, nếu là nữ thì lớn lên sẽ khá. Khách nói: mấy điểm này ông đều đoán đúng. Nhưng chúng tôi muốn đoán xem người này làm nghề gì? Nông dân, công nhân, cán bộ, thầy giáo, hay là nhà doanh nghiệp.

Tôi khẳng định rằng: chẳng là gì cả, là tướng hoặc soái cầm quân đánh nhau. Khách nói: đúng! Nhờ ông xem năm 30 tuổi vận khí ra sao? Tôi lập đại vận là năm Tân Hợi, tiểu vận là Canh dần, lưu niên là Tân Dậu, trong giờ lại ám tàng thất sát canh kim, mà trong can ngày của Tứ trụ là giáp mộc. Giáp mộc bị khắc vô sinh nên nhất định chết, không nghi ngờ gì nữa. Nên tôi nói: năm 39 tuổi, nửa năm đầu có công, nửa năm sau nhất định gặp tai nạn nặng. Ở hai vị khách kinh ngạc nói to: "Hoàn toàn đúng!". Đây là Tứ trụ của anh hùng Nhạc Phi.

Ví dụ 2. Tháng 12 năm 1986, tôi đoán vận cho bà Lô. Căn cứ Tứ trụ của bà, sắp xếp đại, tiểu vận và lưu niên, tôi đoán năm 1987, bà bị nạn rất nặng, thời gian ở nửa năm đầu, đặc biệt là tháng 3, tháng 4 dương lịch không nên đi công tác về phía Tây bắc, nhân đó cũng bày cho bà biết cách giải nạn. Bà ấy đã không làm theo, ngày 14/4/1987 đi công tác về hướng Tây bắc. Trên đường trở về bị tai nạn ô tô mà chết. Đúng là ứng nạn quá nặng, đúng vào tháng 3 âm lịch. Ta thử xem Tứ trụ và đại, tiểu vận của bà ấy ra sao.

Sinh giờ Mão (Quý mão) - Ngày mồng 7 (Đinh dậu) - Tháng 3 (Mậu thìn) - Năm 1964 (Giáp thìn)

Đại vận: Bính dần, từ năm 15 đến 24 tuổi, gặp tử địa.

Tiểu vận: Kỷ mão, dậu kim xung khắc Thái tuế mão mộc.

Lưu niên: Đinh mão. Mão mộc là Thái tuế, rất nghiêm trọng không thể phạm.

1. Vì sao đoán năm Đinh mão (1987) có tai nạn rất nặng? Vì trong Tứ trụ nhật nguyên Đinh dậu và giờ sinh Quý mão đúng là thiên khắc, địa xung. Chi của ngày là dậu kim xung khắc Thái tuế mão. Xung khắc Thái tuế là điềm đại hung nên tan nát.

2. Tiểu vận là Kỷ mão, lưu niên Thái tuế là Đinh mão, giờ là Quý mão. Trong Tứ trụ có Dậu kim, tạo thành 1 Dậu xung 3 Mão, hay 3 Mão xung 1 Dậu là điểm đại hung.

3. Vì sao đoán tháng 3, tháng 4 dương lịch không nên đi hướng Tây bắc? Vì thời gian này đúng vào tháng 3 âm lịch. Trong Tứ trụ của bà ấy, năm là Giáp thìn, tháng là Mậu thìn tức là có hai Thìn thổ, tháng 3 năm 1987 là Giáp thìn, phương tây bắc là Tuất, như vậy sẽ tổ hợp thành cách cục 3 Thìn xung 1 Tuất cũng là điềm đại hung.

4. Đại vận gặp tử địa là điểm hung.

Tôi đã căn cứ vào các thông tin đó để đoán năm 1987 bà ấy có nạn nặng, tháng 3, tháng 4 không nên đi công tác phía Tây bắc, nếu không hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Kết quả ứng nghiệm thật thần kỳ.

Ví dụ 3: Tháng 2/1989, khi tôi còn giảng bài ở Quảng Châu gặp một bản án bị hung sát. Để nghiên cứu vì sao nạn nhân chết vào năm 1988, nên đã ghi lại Tứ trụ, lập đại, tiểu vận để nghiên cứu nguyên nhân cái chết.

Sinh giờ Dần (Nhâm dần), Ngày 15 (Nhâm ngọ) Tháng 8 (Kỷ dậu), Năm 1952 (Nhâm thìn)

Đại vận: Quý Sửu: suy địa

Tiểu vận: Canh thìn: thìn là kho nước, là mộ địa.

Năm hạn: Mậu thìn: thìn là kho nước, là mộ địa.

1) Trong Tứ trụ "thìn, dậu, ngọ là tự mình phạt mình".

2) Trong Tứ trụ 3 nhâm là kiếp, tài ngang hoà, vì của cải hoặc vì đàn bà mà bị hoạ kiếp sát (thực tế là vì của mà bị chết).

3) Can ngày là Nhâm thuỷ, sợ Thổ khắc. Đại vận, tiểu vận, lưu niên là 3 thổ chồng lên nhau mà khắc, có khắc nhưng lại không có sinh.

4) Trong Tứ trụ chi năm có 1 Thìn thổ lại gặp tiểu vận là lưu niên có 2 Thìn thổ; Tứ trụ lại có 3 Nhâm thuỷ, vừa đúng để tạo thành 3 Thìn thổ khắc 3 Nhâm thuỷ, 3 mộ thu về 3 Nhâm cho nên đó là nạn chết người.

Sách "Hoàng đế nội sinh” nói: "Giữa trời đất, trong lục hợp, khí của nó có ở khắp nơi, ở ngũ tạng và 12 tiết đều thông với khí trời". Trong ngày giờ tháng năm sinh của người ta, thiên can địa chi là khí âm dương ngũ hành, là tiêu chí cụ thể trong cơ thể cũng là tiêu chí thông tin mệnh vận tốt xấu của cả cuộc đời. Cơ thể con người là diễn biến âm dương, ngũ hành sinh khắc trong tự nhiên, cho nên cơ thể luôn luôn liên thông với tự nhiên. Sở dĩ cơ thể và các thiên thể có sự cảm ứng lẫn nhau thành một thể thống nhất là vì khí người và khí trời liên thông với nhau. Âm dương ngũ hành của thiên thể sinh khắc dẫn đến muôn vàn sự thay đổi, nó ảnh hưởng đến cơ thể của ta và mệnh vận của con người.

Qua ba ví dụ trên không những nói lên sự sắp xếp thiên can địa chi trong Tứ trụ của thời điểm sinh biểu thị sự ảnh hưởng của âm dương ngũ hành sinh khắc chế hóa đối với con người mà còn nói lên con người cũng giống như vạn vật, đều có quá trình phát triển hưng suy tử vong. Quá trình này chính là vận khí mà ta hay nói đến.

Người xưa lấy sự sắp xếp của thiên can địa chi lúc sinh gọi là mệnh, lấy các giai đoạn trải qua của cuộc đời gọi là vận. Hai cái kết hợp với nhau gọi là mệnh vận. Mệnh vận của 1 người tốt hay xấu, vừa phải xem tổ hợp sắp xếp Tứ trụ của giờ sinh, vừa phải xem hành vận. Tổ hợp Tứ trụ tốt, hành vận cũng tốt là tốt nhất, tổ hợp Tứ trụ tốt, hành vận không tốt thì khó khăn gặp phải là tạm thời. Tổ hợp Tứ trụ không tốt lại gặp vận kém rõ ràng là đã phủ tuyết lại còn thêm sương mù, nhà rách lại gặp mưa to; tổ hợp Tứ trụ không tốt mà gặp vận tốt thì niềm vui đó không bền. Mệnh và vận so sánh với nhau, đương nhiên mệnh tốt là tốt nhất.

Mình nắm vững mệnh vận của mình, điều đó là đúng, nhưng nếu không biết mệnh vận của mình thì không có cách gì để làm chủ mệnh vận được. Ví như anh không biết phương pháp và quy luật lái xe thì không thể làm chủ được xe và lái không tốt. Cho nên người ta nên biết tự nắm vững mệnh vận của mình. Muốn biết mệnh vận của mình thì phải tìm hiểu mệnh vận của mình. Phương pháp duy nhất là sau khi dự đoán toàn diện cho mình, hiểu rõ được cát hung, lợi dụng những thời cơ có lợi để hành động, đối với việc có hại thì đề phòng. Hướng về điều tốt, tránh xa điều hoạ, chỉ có thế mới đạt được làm chủ mệnh vận của mình, nếu không thì chỉ là lời nói suông. Một nước cũng có vấn đề mệnh vận tốt xấu. Người ta từ hoàng đế đến dân thường đều có vấn đề mệnh vận.

Về quan niệm mệnh vận là trời định, tôi cho rằng không thể nói như thế được. Mệnh vận là sản phẩm của âm dương ngũ hành trong thiên nhiên sinh khắc chế hóa mà biến thành. Con người cũng như mọi vật trong thiên nhiên đều chịu ảnh hưởng sự vận động của các thiên thể chứ không phải một ý chí cố định nào gọi là thiên mệnh định đoạt.

V. SỰ ĐỒNG BỘ CỦA THÔNG TIN

Trong quá trình nghiên cứu dự đoán thông tin, tôi phát hiện thấy thông tin có quy luật đồng bộ. Trong sự đồng bộ của thông tin có thông tin của một người đồng bộ với thông tin của các thành viên trong gia đình.

1. Sự đồng bộ thông tin của một người

Ở Trung Quốc dùng rất nhiều phương pháp để dự đoán thông tin cát, hung, hoạ, phúc của con người. Một người nếu dùng các phương pháp như Tứ trụ, Bát quái, Đại lục nhâm, Tử vi đẩu số, Tướng học, Kỳ môn độn giáp, vv. để dự đoán bản thân, nếu kỹ thuật dự đoán cao cường thì kết quả dự đoán mệnh vận của mọi phương pháp đều như nhau, quyết không thể xuất hiện kết quả trái ngược. Để chứng minh thông tin của một người là đồng bộ, tôi xin nêu trường hợp của bà Lô làm ví dụ.

Trong cuốn sách "Chu dịch và dự đoán học” tôi đã nêu ví dụ về cái chết của bà Lô. Khi đó tôi đã dùng Tứ trụ để đoán tháng 3 âm lịch năm 1987 bà ấy có nạn rất nặng. Bà ta bán tin bán nghi nên đã nhờ tôi dùng Bát quái để đoán lại. Tôi dựa vào giờ sinh của bà ta gieo được quẻ "Tấn" của quả "Lữ". Hào đầu của quẻ "Lữ" là Thìn thổ trì thế, hào ứng là dậu kim. Thái tuế năm 1987 là mão đúng là dậu kim xung khắc thái tuế.

Thái tuế mão mộc lại khắc hào thế thìn thổ. Xung khắc thái tuế là rất xung, thái tuế khắc hào thế cũng là hung. Hào thế thìn thố, đi "Tây bắc là tuất địa, tức phạm vào thìn tuất xung nhau. Nên kết quả nhất trí với dự đoán theo Tứ trụ.

Bà Lô thấy quả ngày giờ sinh, giống như Tứ trụ, nhưng vẫn còn hoài nghi, xin lắc lại quẻ để chứng minh một lần nữa. Bà ta lắc được quẻ "Tốn" của quẻ "Khôn". Hào sáu của quả khôn là dậu kim trì thế, hào ứng quan quỷ mão mộc xung khắc hào thế, hào thế lại hóa quan quỷ mão mộc khắc trở lại. Năm 1987 là năm Mão đúng là lúc quan quỷ gặp thái tuế mà vượng. Hào thế dậu kim lại xung khắc thái tuế nên là điểm đại hung. Nặng hơn nữa, thổ của khôn hóa thành mộc của tốn khắc lại, là tượng càng hung. Sự xung khắc của mão dậu là chính xung, chính xung lực rất mạnh; nên khi đó tôi đã căn dặn bà rất kỹ: cả 3 phương pháp dự đoán đều giống nhau cho nên yêu cầu bà khoảng tháng 3, tháng 4 năm dương lịch 1987 (tức tháng 3 âm lịch) tuyệt đối không được đi về hướng Tây bắc. Về sau vì bà Lô coi thường nên đã bị tai nạn ô tô.

Năm 1987, khi tôi đoán cho một người bằng phương pháp Tứ trụ và phương pháp Bát quái, phát hiện thấy năm 1975 người đó gặp họa bị giam, sau đó lại xem vân tay thấy năm 23 tuổi có dấu vết bị giam. Do đó tôi đoán anh ta năm 1975, vì quan hệ nam nữ mà bị ngồi tù. Anh ta vô cùng ngạc nhiên và thán phục mãi.

2. Sự đồng bộ thông tin của những người cùng gia đình.

Trong thế giới bao la cho dù là sự vật gì, có sự sống hay không, hữu hình hay vô hình, điều có quy luật riêng của bản thân, không tồn tại những vật không có quy luật. Người là động vật cao cấp tinh hoa của vạn vật, tất nhiên có quy luật riêng của mình. Đó là điều khẳng định. Trong quá trình nghiên cứu dự đoán thông tin, tôi còn phát hiện thấy, một gia đình cho dù có bao nhiêu con, gia đình có bao nhiêu người, những thông tin của các thành viên trong gia đình đó không những liên quan với nhau mà còn đồng bộ. Sự liên hệ lẫn nhau của thông tin như: Tứ trụ của chồng có thể đoán được cho vợ và con cái; Tứ trụ của con cái có thể đoán ra bố mẹ, anh em. Như vậy ta có thể thấy sự sắp xếp thiên can địa chi trong Tứ trụ của một người không những tàng chứa toàn bộ thông tin của người đó, mà còn bao gồm các thông tin của người nhà.

Thông tin người trong nhà không những liên hệ với nhau, luôn luôn liên thông với nhau mà còn đồng bộ. Ví dụ người bố năm 50 tuổi thăng quan tiến chức thì trong tiêu chí Tứ trụ của từng người trong gia đình cũng lợi về bố, quyết không thể có Tứ trụ của một người con nào đó biểu thị lúc cha 50 tuổi lại gặp rủi ro. Nếu là năm 50 tuổi, bố anh ta chết, thì nhất định Tứ trụ của mẹ anh ta năm đó gặp vận xấu khắc chồng. Nếu gặp năm chồng mất thì Tứ trụ người vợ không thể có sao tốt nhất chiếu vào. Trong tổ hợp sắp xếp Tứ trụ của anh em cũng không có lợi cho bố, còn Tứ trụ của bố thì thể hiện những thông tin bị khắc mà không có cứu. Đó gọi là sự đồng bộ của thông tin. Dưới đây xin nêu ví dụ để tham khảo.

Ví dụ 1. Tứ trụ của một người là:

Kiếp (Mậu ngọ) - Tài (Quý hợi) - Nhật nguyên (Kỷ tị) - Kiếp (Mậu thìn)

Sinh năm 1918, mất năm 1982 (năm Nhâm tuất) tháng 10 âm lịch. Nguyên nhân là: Tuế vận gặp nhau, lại gặp chi ngày nên xung khắc rất mạnh. Dụng thần ngọ hỏa nhập mộ ở tuất- mộ của lưu niên, bình dương gặp xung khắc.

Ví dụ 2. Tứ trụ của vợ là:

Tài (Ất Sửu) - Tỉ (Tân tị) - Nhật nguyên (Tân mão) - Tỉ (Tân mão)

Sinh năm 1925. Tứ trụ này chứa thông tin khắc chồng: "Thuần âm thuần dương sẽ giữ được ngọn đèn sáng", "nữ mà gặp thuần âm tất sẽ có quả, nhật nguyên tân mão, mão là ngôi chồng của nó, bị ba tân khắc". Còn việc chồng mất năm 1982 là "sao chồng lâm cung tuế vận ở tứ tuyệt, lại còn nhập mộ, nên chồng nhất định qua đời". Thứ nhất: người vợ này lúc 50 tuổi gặp đại vận Đinh hợi chính xung tháng sinh là Tân tị, ở trong tị bính hoả là sao chồng, tị hoả bị hợi thuỷ xung khắc, xung mất sao chồng là hung; thứ hai: sao chồng bính hỏa gặp hợi là tuyệt địa, cũng là xấu; thứ ba: sao chồng bính hỏa nhập mộ ở tuất của lưu niên, do đó chồng mất năm nhâm tuất.

Ví dụ 3. Tứ trụ của con gái đầu là:

Tài (Bính tuất) - Kiêu (Canh tí) - Nhật nguyên (Nhâm tuất) - Кіếр (Quý mão)

Sinh năm 1946. Người đàn bà này là nhâm thuỷ lại sinh vào tháng 12, đúng là đất thuỷ vượng, trụ năm bính hoả là thiên tài, là tử địa của cha. Trong Tứ trụ, tháng ngày giờ đều là vượng thuỷ, vượng thuỷ khắc tử hoả, cho nên bản thân người đàn bà đó tỉ kiếp lâm vượng địa, khắc cha rất rõ.

Ví dụ 4. Tứ trụ của con trai thứ là:

Thực (Ất mùi) - Ấn (Canh thìn) - Nhật nguyên (Quý sửu) - Kiếp (Nhâm thân)

Sinh năm 1955. Đinh hỏa trong mùi là thiên tài là cha, bị quý thuỷ trong sửu khắc, sửu mùi xung lẫn nhau. Không lợi cho cha. Thuỷ của nhâm quý trong Tứ trụ là tỉ kiếp khắc cha, cho nên việc khắc cha đã được định sẵn.

Con gái trưởng từ 32 đến 41 tuổi hành đại vận thiên tài trong bính, con trai thứ từ 26 đến 35 tuổi hành đại vận thiên tài trong đinh sứu, là "vào tháng sinh đó thì ngày sinh không nên gặp thiên tài, nếu gặp thì khắc cha". Bính gặp thân là gặp bệnh, đinh gặp sửu là mộ địa, đều là điểm khắc cha. Năm Nhâm tuất (1982), hai chị em đều gặp lưu niên là đất tỉ kiếp khắc cha, hoả của bính đinh lại nhập mộ ở tuất của lưu niên, nên cha nhất định chết vào năm Nhâm tuất.

Ví dụ 5. Tứ trụ của con trai cả:

Ấn (Tân mão) - Tài (Bính thân)- Nhật nguyên (Nhâm thìn) - Quan (Kỷ dậu)

Sinh năm 1951. Tháng trong Tứ trụ là Bính hoả, là bố gặp đất bệnh không tốt, còn bị vượng thuỷ của ngày xung khắc, "thân vượng, tài nhược là khắc cha", "can chi của tháng bị khắc làm tổn hại đến cha mẹ", thông tin khắc cha đã rõ ràng, con của ông ta từ năm 24 đến năm 33 tuổi gặp đại vận kiếp tài khắc cha, lưu niên nhâm tuất vừa là đất của kiếp địa, vừa là sao cha nhập mộ, cho nên cha mất vào năm Nhâm tuất.

Ví dụ 6. Tứ trụ của con gái thứ là:

Thực (Quý tị) - Ấn (Mậu Ngọ) - Nhật nguyên (Tân hợi) - Thương (Nhâm thìn)

Sinh năm 1953. Ất mộc trong thìn là cha, trường sinh ở nguyệt nhưng thương quan trong Tứ trụ cũng là tiêu chí thông tin khắc cha. Con gái từ 23 đến 32 tuổi gặp đại vận tân dậu kiếp tài, tức là sao cha ất mộc rơi vào tuyệt địa, cho nên nói "vận gặp tỉ kiếp là khắc cha mẹ", "lại còn gặp lưu niên, thương quan nên khắc cha, hại chồng". Người con gái này lưu niên nhâm tuất chính là thương quan, tiểu vận cũng là thương quan, còn thêm sao cha ất mộc mộ ở tuất cho nên cha mất vào năm 1982.

Những ví dụ tương tự như thế rất nhiều không kể xiết được. Từ đó ta có thể thấy rõ: thứ nhất, tuy năm tháng sinh của người nhà khác nhau, mệnh năm khác nhau, hành vận khác nhau, số con cái khác nhau, nhưng những vấn đề quan trọng nhất trong một nhà thì các thông tin đều đồng bộ với nhau. Đó là một quy luật phổ biến.

VI. NGƯỜI SINH CÙNG NGÀY GIỜ THÌ MỆNH VẬN CÓ GIỐNG NHAU KHÔNG?

Có người khi nói chuyện mệnh vận bảo với tôi rằng, anh ta cực lực phản đối quan niệm người ta có mệnh vận và nêu ra một số lý do để chứng minh quan điểm đúng đắn của mình. Ví dụ, nếu nói rằng người ta có mệnh vận thì chắc là những người sinh cùng năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây vì sao chỉ có một người làm vua? Nước ta rất nhiều người trùng giờ sinh với nhau, đáng lẽ mệnh vận của họ nên như nhau, nhưng tại sao lại khác nhau? Luận điểm của anh ta rất rõ ràng, chỉ cần thời gian sinh (năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây) giống nhau thì mệnh vận đều giống nhau, không thể có người vượng, người suy được. Tôi hỏi lại anh ấy, trời cùng chung một bầu trời, sao lại chia ra xuân, hạ, thu, đông, lạnh nóng khác nhau? Đất cùng một quả đất, vì sao lại có trên cạn, dưới nước khác nhau được? Cùng một khoảnh đất, cùng một cây lúa mạch, đều gieo trồng 9 tháng, vì sao lại có cây cao, cây thấp? Cùng một cành cây, vì sao lại có quả to, quả nhỏ? Thân thể người ta là một thể thống nhất vì sao chức năng, lục phủ, ngũ tạng lại có cái mạnh, cái yếu, cái hơn, cái kém? Vì sao có người gan mọc khối u mà các phủ tạng khác lại đều tốt? Tôi còn nói thân thể người ta là một, lục phủ ngũ tạng đều ở chung trong đó, từ lúc sinh ra lục phủ ngũ tạng đều ra đời cùng nhau vì sao bộ phận này lại bị bệnh, bộ phận khác lại không? Vì sao giữa các bộ phận lại có sự cách biệt xa đến thế?

Người bạn đó sau khi nghe tôi hỏi, anh ta cũng ngạc nhiên rằng đúng thế, nhưng anh ta cũng chẳng rõ vì sao. Tôi bảo anh ta: "Tổ tiên ta đã sớm nghiên cứu ra điều đó: lục phủ, ngũ tạng đều mang âm dương, ngũ hành tương sinh, tương khắc, mỗi thứ làm chủ bốn mùa vượng hay suy, chính vì thế mà có sự khác biệt rất lớn".

Ngày giờ sinh như nhau, nhưng tại sao mệnh người ta lại khác nhau, nguyên nhân rất nhiều, khó nói tỉ mỉ rạch ròi được? Chỉ có thể tạm khát quát như sau:

1. Do phương vị khác nhau, như phương nam là hoả, đồng mộc, bắc thủy, tây kim. Mệnh hoả sinh ở phương nam và ở phương bắc tất sẽ khác nhau. Phương nam hoả vượng, phương bắc bị thuỷ khắc cho nên không bằng người sinh ở phương nam.

2. Năm mệnh của cha mẹ không giống nhau.

3. Năm mệnh của anh chị em khác nhau.

4. Năm mệnh kết hôn khác nhau.

5. Năm mệnh sinh con cái khác nhau.

Vì năm mệnh của những người trong gia đình khác nhau, nên mức độ sinh khắc của ngũ hành sẽ khác nhau, do đó ảnh hưởng đến người đó cũng khác nhau. Ví dụ có một người mệnh mộc, cha mẹ đều là mệnh kim thì người đó bị cha mẹ khắc; nếu cha mẹ đều là mệnh thuỷ thì thuỷ sinh mộc có lợi cho người đó. Người bị khắc thì cuộc đời không thuận, người được sinh thì hay may mắn.

6. Nam nữ khác nhau, nên trong hành vận có thuận, có nghịch.

7. Tướng mặt, vân tay nhất định khác nhau, cho nên sự việc có khác biệt.

8. Cốt tướng không giống nhau.

9. Mộ tổ, nhà cửa, phương hướng khác nhau. Ngày xưa có câu: "Nhất mộ, nhì nhà, thứ ba mới đến ngày sinh tháng đẻ". Tức là nói mệnh vận của một con người tốt xấu, thứ nhất quyết định ở phong thuỷ phần mộ của tổ tiên, thứ hai quyết định ở phong thuỷ nhà cửa tốt hay xấu; thứ ba mới đến sự sắp xếp Tứ trụ của mình. Do đó dù là những người sinh cùng năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây, nhưng nhất định phần mộ tổ tiên và nhà cửa không thể giống nhau được.

10. Gen di truyền của mỗi người khác nhau

11. Hoàn cảnh và điều kiện gia đình của mỗi người khác nhau.

12. Điểm sáng của sao chỉ có một. Tuy có hàng nghìn, hạng vạn người sinh cùng một giờ, phút, giây, nhưng điểm sáng của sao trực ban chỉ có một, cho nên không phải người nào cũng nhận được. Nếu điểm sáng này chiếu đúng nhà nào đó, hoặc đúng vào lúc hình thành thai, hoặc giờ sinh thì người đó mới có thể làm vua, những người khác chỉ là dân thường.

13. Lòng tín ngưỡng khác nhau thì mệnh vận cũng phát sinh thay đổi. Người tin thờ thì hay có lợi, gặp điều xấu cũng dễ vượt qua.

Có câu chuyện kể rằng: Chu Nguyên Chương đời Minh sau khi lên ngôi vua nghĩ rằng mình làm vua, vậy những người cùng giờ sinh với mình cũng lên làm vua. Vì vậy nếu không giết họ đi thì sau này có thể bị tranh mất ngôi vua. Do đó ông đã giết rất nhiều người cùng tuổi: Giết đến nửa chừng, ông ta nghĩ nên hỏi một người trong số họ xem làm nghề gì, sau đó giết cũng chưa muộn. Người được ông ta hỏi trả lời rằng, tôi làm nghề nuôi ong. Ông ta hỏi nuôi bao nhiêu tổ. Nuôi 9 tổ gồm hàng vạn con ong. Chu Nguyên Chương vừa ngạc nhiên, vừa mừng. Ông nghĩ mình làm vua thống trị 9 châu, 9 chư hầu. Người kia nuôi 9 tổ ong cũng có 9 ong chúa. Như vậy làm vua của con người chỉ có mình, còn ông kia là vua của ong, tức là vua loài côn trùng. Chắc những người khác, có người là vua cá... Do đó Chu Nguyên Chương cảm thấy yên tâm và không giết tiếp nữa.

Trong quá trình nghiên cứu, tôi phát hiện thấy những người sinh cùng năm tháng ngày giờ, khi hành vận đến 1 năm nào đó có người vì phạm pháp mà ngồi tù, có người bị tai nạn công nghiệp, có người thì cha mẹ bị bệnh hoặc bị mất, có người thất nghiệp, nói chung đều ít gặp may nhưng mức độ có khác nhau.

Còn có vấn đề: những người sinh đôi thì mệnh vận có giống nhau không? Có thể nói không hoàn toàn giống nhau. Vì cho dù sinh đôi vẫn có người ra trước, người ra sau. Nếu giờ sinh cách nhau xa thì sự khác biệt càng lớn. Trong điều tra của tôi thì cho đến nay đã thấy rõ những người sinh đôi sau khi kết hôn sự khác biệt rất rõ ràng. Nguyên nhân là vì mỗi người đều phối hôn với những người khác nhau, do đó mà các thành viên gia đình phát sinh thay đổi, ngũ hành sinh khắc cũng thay đổi, cho nên mệnh vận của hai người sẽ khác nhau.

Có cặp bào thai sinh đôi sinh cùng giờ. Năm 1986 tôi đoán hai anh em năm 1987 sẽ bị tai nạn, người anh đi theo đạo Phật vào ở chùa, người em ở nhà. Kết quả năm 1987 người em bị tai nạn suýt chết, người anh thì bình an vô sự. Lại có một cặp sinh đôi người anh công tác ở ngành công an, còn người em thì phục vụ trong quân đội. Về sau, khi người anh ra khỏi ngành công an, thì người em cũng được giải ngũ. Người anh viết sách rất nổi tiếng, còn người em thì không có công danh gì. Vì sao trong sự nghiệp lại khác nhau nhiều thế. Đó là vì "Người sinh vào ngày dương, giờ dương thì anh mạnh em yếu; sinh đôi vào ngày âm, giờ âm thì anh yếu, em mạnh". Cặp sinh đôi này đúng là sinh vào ngày dương, giờ dương. Nguyên nhân thứ hai là: vấn đề nỗ lực rèn luyện sau này, người anh thì cần cù khổ luyện, còn người em lại chỉ bận lo công việc. Cho nên một người viết sách thành công, người kia không có danh tiếng. Mọi sự vật trong tự nhiên, đặc biệt là sự phát triển biến hóa của cùng một sự vật đều có sự chênh lệch nhau, huống hồ là những người cùng giờ sinh thì làm sao mệnh vận lại như nhau được. Do đó, tổ hợp sắp xếp thiên can, địa chi trong Tứ trụ là nhân tố bên trong của mệnh vận tốt xấu của người ta. Nó là căn cứ của mọi sự biến hoá, là biểu hiện của tiên thiên; chủ quan có nỗ lực hay không chỉ là nguyên nhân bên ngoài của sự biến hóa, là điều kiện của sự thay đổi. Sự sắp xếp của thiên can địa chi và khí của âm dương, ngũ hành có quan hệ mật thiết với con người. Nếu sự sắp xếp của thiên can địa chi có chứa thông tin sẽ thi đỗ đại học, nhưng người đó học hành không chăm chỉ, cố gắng thì vẫn không thể vào được đại học. Do đó nhân tố tiên thiên phải cộng thêm sự nỗ lực của hậu thiên mới có thể đạt được mục đích mong muốn.