5. Chú thích về dụng thần điều hầu

5. Chú thích về dụng thần điều hâu

Đối với người Tứ trụ thành cách rõ ràng lấy dụng thần tương đối dễ. Nhưng cũng có Tứ trụ không thành cách hoặc cách cục rất đặc biệt, hoặc cách cục không rõ, hoặc không lấy dụng thần theo cách cục thì việc lấy dụng thần khá phức tạp. Hơn nữa cách lấy dụng thần cũng không phải là cứ thấy nhiều là phải chế ngự, thấy ít thì tăng thêm, vượng thì tiêu giảm, nhược thì bổ sung vào, mà phải căn cứ vào nhu cầu của nhật nguyên ở vào mùa nào mà lấy dụng thần. Ví dụ có Tứ trụ: sinh năm bính thân, tháng canh tí, ngày quý sửu, giờ ất mão. Tứ trụ này là cách kiến lộc. Trong Tứ trụ, ngũ hành kim mộc thuỷ hoả thổ đều có, nhưng thuỷ lạnh, mộc hàn, thổ đông cứng, hoả bị nhốt, vậy lấy gì làm dụng thần? Đặc điểm mùa đông là rét lạnh, không lợi cho sự sinh trưởng của vạn vật tất nhiên phải dùng hoả để giải hàn, mà bính hoả trong Tứ trụ lại ở đất tù hãm, vô lực, nhưng may được trụ giờ có ất mộc sinh sau lập đông, mộc có khí mà sinh bình hoả, bính hoả nhờ được sinh, cháy lên xua đuổi hàn lạnh, sưởi ấm vạn vật, khiến cho vạn vật có dịp phát triển, nên lấy bính hoả làm dụng thần. Đó gọi là thực thần sinh tài, phú quý tự đến.

Dưới đây xin nêu mấy ví dụ về cách lấy dụng thần.

Ví dụ 1. Nam

Ấn - Thương - Nhật nguyên - Thương

Đinh mão - Canh tuất - Kỉ tị - Giờ canh ngọ

Nhật chủ kỉ tị là kim thần, can thấu hai canh là thương quan, địa chỉ ngọ, tuất hội thành hoả cục, thấu định là ấn, là cách thương quan thổ kim. Mùa thu thần kim nắm lệnh, thổ vượng, kim thần mạnh mà được hoả chế ngự, nên lấy định hoả làm dụng thần. Như thế gọi là "thần kim nhập hỏa hương, chủ về võ quý". Đây là Tứ trụ của Tưởng Giới Thạch.

Ví du 2. Nam

Thương - Ấn - Nhật nguyên - Thực

Mậu thìn - Giap dần - Đinh mão - giờ kỉ dậu

Đinh hoả ở tháng giêng, xuân hoả là bản thể. Dân mão thìn hội thành mộc cục, phương đông. Giáp mộc trong dần thấu ra thành án đó gọi là mộc nhiều, hoả bị đề nghẹt, nên lấy tài tinh dầu kim trên trụ giờ làm dụng thần, mục đích để làm tổn hao ấn. Khi vận nhập canh thân, tân dậu dụng thần sẽ đắc địa, được thăng lên làm Chủ tịch tỉnh, Ví dụ 3 Nam

Kiếp - Quan - Nhật nguyên - Thực

Đinh Mão - Quý sửu - Bính thân - giờ mậu tí

Bính hoả sinh vào tháng 12, động hoả là bản thể. Thân thìn hội cục, quý thuỷ trong sửu thấu ra. Hoả suy thuỷ vượng là cách chính quan. Mão mộc trong Tứ trụ tuy hàn, nhưng có định hoả sưởi ấm. Quý thuỷ khắc định hoả được mậu thổ hợp, nên lấy ấn tinh mão mộc làm dụng thần sinh bình hoả. Về sau được thăng chức làm viện trưởng Viện nghiên cứu. Ví dụ 4. Nam

Sát -tài - nhật nguyên - thực

Canh dần- mậu dần - giáp tí - giờ bính dần

Bính mậu trong dân đều thấu, trời che đất chở, trên dưới có tình, tí dần củng quý sửu. Tam kì lại gặp quý nhân. Đầu xuân mộc còn đang mầm, khí hàn được bình hoả sưởi ấm, nên lấy bính hoả làm dụng thần. Để giải quyết khó khăn trong việc ứng dụng chọn dụng thần, tôi xin giới thiệu bảng dụng thần điều hầu do một độc giả tặng tôi vào hồi tháng 3 năm 1991 khi tôi giảng bài ở Xingapo để độc giả tham khảo. Rất đáng tiếc là tôi đã quên không hỏi bảng này lấy ở sách nào ra. Bảng này chủ yếu căn cứ mười can sinh vào tháng 12, sau đó căn cứ đòi hỏi của can ngày mà chọn dụng thần để tiện cho việc lấy dụng thần giải quyết một số vấn đề.

image
image

Tháng bảy : định , giáp . Chuyên dùng định hoả , nếu không có giáp thì không được chọn ất .

Tháng tám : định , giáp , bính . Nếu bính hoả không thấu chi thì có thể chọn tạm .

Tháng chín : giáp , nhâm . Người chọn nhâm thì kị gặp kỉ thổ .

Tháng mười : định , bính . Không có giáp có thể chọn cáp mộc .

Tháng mười một : định , giáp , bính . Không thể thiếu tính . Người thiếu bính là người rất tầm thường .

Tháng mười hai : bính , định , giáp . Chọn dụng thân như tháng mười một .

Can ngày là tân

Tháng giêng : kỉ , nhâm , canh . Chọn kỉ thổ sinh kim làm chính , Ki , nhâm không nên cạnh tranh nhau

Tháng hai : nhâm , giáp . Kị định thấu can , chi .

Tháng ba : nhâm , giáp . Nếu bính , tân hợp thành thuỷ cục thì phải dùng cả bính .

Tháng tư : nhâm , giáp , quý . Người không có mậu là tốt nhất .

Tháng năm : nhâm , kỉ , quý . Nhâm , kỉ không nên thiên vượng , không có nhâm thì dùng quý , kiêng dùng đinh .

Tháng sáu : nhâm , canh , giáp . Kị thổ vượng .

Tháng bảy : nhâm , giáp , mậu . Nhâm thuỷ là tốt nhất , nếu không bị hỗn tạp thì chọn quý thuỷ .

Tháng tám : nhâm , giáp , định . Nếu thổ thịnh trước hết cần chọn giáp , kim vượng nên chọn thêm cả định .

Tháng chín : nhâm giáp . Sợ hoả thổ vượng .

Tháng mười : nhâm , bính . Là cách các kim thuỷ thuần khiết .

Tháng mười một : bính , mậu , nhâm , giáp . Bính không được thiếu , còn những con chi khác thì tuỳ đó mà chọn .

Tháng mười hai : bính , mậu , nhâm , kỉ . Bính không được thiếu , những can khác tuỳ đó mà chọn . Can ngày là nhâm

Tháng giêng : canh , bính , mậu . Từ kiếp nhiều thì ưu tiên lấy mậu .

Tháng hai : mậu , tân , canh . Có nhiều cách cục thì cũng lấy mậu là tốt nhất . 395

Tháng ba : giáp , canh , bính . Nếu thành kim cục thì phải dùng cả bính nữa mới tốt .

Tháng tư : nhân , tân , canh , quý . Tỉ kiếp phục tàng ở canh tân .

Tháng năm : quý , canh , tân . Kị định thấu can nào đó chế ngự quý .

Tháng sáu : tân , giáp . Gặp thổ nhiều thì chọn giáp trước , thứ nữa mới đến tận .

Tháng bảy : mậu , định . Mậu phải đóng ở thìn tuất , định phải đóng ở ngo tuất .

Tháng tám : giáp , canh . Nên chỉ có một ngôi thủy .

Tháng chín : giáp , bính , tuất . Người có hợp thì chọn bính trước , chọn giáp sau .

Tháng mười : mẫu , bính , canh . Người mà mộc cục nhiều , nên chọn canh trước .

Tháng mười một : mậu , bính . Cả hai không được thiếu cái nào .

Tháng mười hai : bính , giáp , định . Thượng tuần chọn bính , hạ tuần chọn cả định và giáp .

Can ngày là quý

Tháng giêng : tân , bính . Người không có tân thì chọn canh . Bính , canh đòi hỏi thế phải ngang nhau

Tháng hai : canh , tân . Ất , mão hợp với canh nên ưu tiên chọn tân .

Tháng ba : bính , tân , giáp . Thượng tuần chọn bính , hạ tuần chọn cả tân giáp , không được chọn định .

Tháng tư : tân . Có thể chọn canh để thay .

Tháng năm : canh , tân , quý . Kị gặp định hoả vượng .

Tháng sáu : canh , tân , quý . Cách chọn như tháng năm .

Tháng bảy : định . Người có kim cục , định phải thông với ngọ , tuất , mùi .

Tháng tám : tân , bính . Người mà cả hai đều có thì thuỷ ấm , kim ôn , nhưng không nên sát liền nhau mà cách một ngôi thì tốt .

Tháng chín : tân , giáp , quý , nhâm . Kị thổ thịnh .

Tháng mười : canh , tân , mậu , định . Thuỷ nhiều thì chọn mậu trước , kim nhiều chọn định trước ,

Tháng mười một : bính , tân , Bính không thể thiếu , thiếu thì sẽ thành tầm thường.

Tháng mười hai : bính , đỉnh . Nên sinh vào ban đêm . Người mà căn thông với ( ki ) ngọ , mùi , tuất thì quý , nếu có hoả cục thì cần có canh , tân .