2. Thiên can ngũ hợp

2. Thiên can ngũ hợp

Điều kiện của thiên can ngũ hợp là hai con phải kể nhau , không được có can khác chen vào giữa .

Thiên can ngũ hợp thành hóa : có thành hóa hay không là căn cứ vào các điều kiện sau :

1 ) Ngũ hành của " hóa thân " phải cùng loại với ngũ hành của lệnh thảng ( chi tháng ) , hoặc cùng loại với ngũ hành của một trong những nhân nguyên tàng trong chi tháng . Nếu không phù hợp điều kiện trên thì cho dù từng cặp thiên can ngũ hợp cùng với ngũ hành của các địa chỉ khác cũng chỉ là hợp mà không hóa ,

2 ) Ngũ hành của địa chi ( có hai can ngu hợp ) nếu cùng loại với hóa thân của ngũ hợp thiên can thì chỉ cần hóa thần đó nắm lệnh là ngũ hợp đó được xem như thành hóa .

3 ) Ngũ hành của địa chỉ ( có hai can ngu hợp đóng ) nếu sinh phù cho hóa thân của ngũ hợp thiên can thì chỉ cần hóa thần đó nắm lệnh là ngũ hợp được xem như có thành hóa .

4 ) Khi địa chi ( có hai thiên can ngũ hợp đóng ) hợp hóa với nhau , nếu hóa thân của hợp hóa đó cùng loại với ngũ hành của hợp hóa thiên can ngũ hợp thì chỉ cần hóa thân của ngũ hợp nắm lệnh là được xem như có thành hóa .

Ví dụ .

image

Hai can mậu quí ngũ hợp hóa hỏa . Ngọ , dần là hai chỉ có hai can đó đóng . Ba chị ngọ , dần , tuất cùng tam hợp hóa hỏa . Như vậy hóa thần đều là hỏa ( tức cùng loại ngũ hành ) , do đó ngũ hợp của mậu và quý được xem là có thành hóa .

5 ) Khi ngũ hành can âm cùng loại với ngũ hành năm lệnh , các địa chi cùng trụ với thiên can có ngũ hành cùng loại với can âm hoặc sinh phù cho ngũ hành can âm thì gọi là " phu tòng thể hóa " ( chồng hóa theo vợ ) .

Ví dụ .

image

Ất thuộc âm mộc , mão cũng thuộc mộc , có thể tương trợ nhau . Tí thuộc thủy có thể sinh mộc . Mão nắm lệnh của ất mộc . Vì tí thủy sinh phù cho ất mộc nên ất , canh ở đây được xem là hợp hóa thành mộc ( tức phụ tùng thể hóa ) .

6) Khi ngũ hành can dương cùng loại với ngũ hành nắm lệnh địa chi cùng trụ với thiên can có ngũ hành cùng loại hoặc sinh phù cho can dương thì gọi là thrr tòng phu hoá tức vợ hoá theo chồng

Ví dụ

image

Bính thuộc dương hoả , tị , ngọ cũng thuộc hoả có thể tương trợ nhau , hơn nữa tị hoả nắm lệnh , như vậy bính và tân được gọi là " thê tòng phu hóa " hoả .

7 ) Sự thành hóa của ngũ hợp chia làm ba loại : Hai can mỗi can 36 cộng lại thành 72 độ , giảm đi 1/6 còn lại 60 độ . Sự thành hoá âm dương của nó được xác định bởi âm dương của bản khí chi tháng .

a . Ngũ hợp thành hóa

Giáp kỉ hoá thổ 60 độ .

Ất canh hóa kim 60 độ

Bính tân hoá thuỷ 60 độ .

Định nhâm hóa mộc 60 độ

Mậu quý hóa hoả 60 độ .

b Thế tòng phù hóa .

Giáp kỉ hóa mộc 60 độ ,

Ất canh hoá kim 60 độ

Bính tân hóa hoả 60 độ .

Định nhâm hóa thuỷ 60 độ

Mậu quý hoá thổ 60 độ .

c . Phụ tùng thể hóa

Giáp kỉ hóa thổ 60 độ .

Ất canh hoa mộc 60 độ

Bính tân hóa kim 60 độ .

Đình nhâm hóa hỏa 60 độ

Mậu quý hoá thuỷ 60 độ .

Mệnh nam có ngũ hợp " phu tòng thể hóa " thì vợ quyền cao , nể vợ Ngũ hợp chính hóa thì tính tình cương trực , không theo đuổi vợ . " Thế tòng phu hóa " là người có chính kiến , được sự giúp đỡ

8 ) Khi điều kiện dẫn hóa đầy đủ thì cả bốn trụ năm tháng ngày đinh hợi . giờ đều có thể đồng thời hợp hóa thành " thiên can hợp uyên ương

Ví dụ .

Sinh năm - đinh hợi

Tháng - nhâm dần

Ngày - quý mão

Gio - mậu ngọ

Quý nhâm được hợi thủy sinh phù , dân ( mộc ) nắm lệnh cũng được sinh phù nên thành hóa ) .

Thiên can hợp mà không hóa được xem là khắc gần , can bị khắc tổn hao mất 1/3 tức chỉ còn 24 độ , can khắc không bị hao tổn .

Ví dụ 1 .

image

Giáp kỉ hợp mà không hóa , vì giáp ( mộc ) khắc kỉ ( thô ) giáp không bị hao tổn , con kỷ chỉ còn 24 độ

Hai can ngũ hợp nếu có can hư phu vẫn được xem là hợp , không tính hư phù . Nếu hai can đều hư phù thì không xem là hợp mà xem là hư phù , tức mỗi can còn 9 độ ( can hư phù không khắc ) .

Hai can kề nhau thành ngũ hợp , trong đó có một con lại có can bên cạnh đến hợp tức là hai can tranh hợp một can , như thể gọi là " thiên can tranh hợp " . Tranh hợp thì không thành hóa được , cả ba can mỗi can tổn hao 1/3 tức mất 12 độ , chỉ còn lại 24 độ .

Vi dụ 2 :

image

Tránh hợp Khi hai đinh tranh hợp một nhâm thì :

Định tổn 12 độ còn 24 độ . Nhâm tổn 12 độ còn 24 độ .

Định tôn 12 độ còn 24 độ .