2. Dự đoán đại vận, lưu niên

2.Dự đoán đại vận, lưu niên

Quan hệ sinh khắc giữa đại vận, tiểu vận, lưu niên và quan hệ giữa ba cái đó với Tứ trụ vô cùng phức tạp. Nó là một trong những khâu quan trọng nhất quyết định dự đoán đúng hay sai. Do đó người xưa khi viết sách lập ngôn thường rất coi trọng nghiên cứu về mặt này. Rất tiếc là lý luận cao siêu, quan điểm phức tạp, chương tiết rườm ra làm cho các học giả về sau rất rối. Tôi căn cứ thực tiễn của bản thân, có thể nghiệm như sau: quan hệ sinh, khắc, hình, xung giữa đại vận và lưu niên với Tứ trụ thì lấy lưu niên làm chính, đại vận thứ yếu; tiểu vận hỗ trợ với thái tuế hoặc hỗ trợ đại vận, sau đó mới xem dụng thần, nhật nguyên hoặc những mục khác chủ về điều may, hay điều cấm trong Tứ trụ. Theo cách đó thường dễ dự đoán đúng cát hung của một đời. Dưới đây ghi lại các điều được bàn trong các sách "Bát tự tinh giải", "Khán lưu niên đại vận” để độc giả tham khảo.

Cách xem cát, hung theo đại bận và lưu niên chưa phát sinh khắc, hợp với mệnh cục để gây tốt, xấu.

Đại vận thông qua can chi của nó để quản 10 năm. Năm năm đầu lấy can làm chủ 70%, chi chỉ chiếm 30% làm bổ trợ, năm năm sau lấy chi làm chủ chiếm 70%. Còn lưu niên lấy can chi quản một năm. Trong trường hợp không có hình, xung, khắc, hợp phá hoại thì đại thể có thể dự đoán cát hung của đại vận hoặc giữa các lưu niên đó như sau:

1- Phàm người mà đại vận hoặc lưu niên là hỉ thân, hay dụng thần thì đại vận hoặc lưu niên đó tốt.

2- Người mà đại vận hoặc lưu niên là kị thần của mệnh cục thì nó chủ về đại vân hoặc lưu niên đó xấu.

3- Người mà đại vận hoặc lưu niên không phải là hỉ thần, dụng thần hay kị thần của mệnh cục thì đại vận hoặc lưu niên đó bình thường.

Cách xem cát hung theo đại bận hoặc lưu niên phát sinh hình, xung, khắc, hợp với mệnh cục để gây tốt, xấu

Trường hợp đại vận phát sinh hình, xung, khắc, hợp với mệnh cục để gây tốt xấu là khá phức tạp. Có trường hợp do hình, xung, khắc, hợp biến hóa thành cát lại là xấu; có trường hợp vì biến hóa mà hóa hung lại trở thành tốt. Đây là những trường hợp khó nhất trong các sách mệnh học. Mong độc giả nghiên cứu thêm.

1- Khi đại vận hoặc lưu niên phát sinh hình, xung khắc, hợp với mệnh cục rồi biến hóa thì cho dù mệnh cục có hay không có hình, xung, khắc, hợp nhất thiết lấy đại vận hoặc lưu niên làm ưu tiên để xem (đại vận quan trọng hơn, lưu niên thì yếu hơn). 2- Trường hợp mệnh cục có hợp nhưng không biến hóa, còn đại vận hoặc lưu niên hóa thành thần dẫn ra thì hợp cục đó thành hóa cục (khi tan cục sẽ có sự thay đổi to lớn).

Cách xem cát hung theo đại bận hoặc lưu niên sau khi phát sinh hình, cung, khắc, hợp với mệnh cục gây ra tốt, xấu

1- Đại vận hoặc lưu niên hình, xung, khắc, hợp làm mất vị thần trong mệnh cục là chuyển xấu thành tốt. 2- Đại vận hoặc lưu niên hình, xung, khắc, hợp làm mất hỉ thần, dụng thần trong mệnh cục là chuyển tốt thành xấu. 3- Đại vận hoặc lưu niên là hỉ thân hay dụng thần, nhưng bị một chữ nào đó trong mệnh cục xung khắc hay hợp chặt hỉ thần, dụng thần của đại vận, lưu niên thì tốt nhưng không thực, cho nên trở thành bình thường. 4. Đại vận hoặc lưu niên là kị thần nhưng có một chữ nào đó xung, khắc mất hoặc hợp chặt kị thần ấy thì xấu vừa, tức là trở thành bình thường, 5- Đại vận hoặc lưu niên hợp hóa thành công với mệnh cục thì lấy hóa thần đó để bàn cát hay hung. Hóa thành hỉ thần, dụng thần là tốt, hóa thành kị thần là hung. 6- Đại vận hay lưu niên hình phạt mệnh cục (cho dù là hình phạt mất hỉ thân hay bị thần) đều chủ về hung. 7- Địa chi của đại vận và lưu niên phát sinh thiên khắc địa xung với nhau hoặc can chi của đại vận và mệnh cục phát sinh thiên khắc địa xung với nhau, hoặc lưu niên và mệnh cục xung khắc nhau thì đều chủ về hung (nếu là khắc nhập hay xung nhập vào vận hạn đó thì càng nặng thêm). 8- Đại vận và lưu niên phát sinh thiên tỉ (tức ngang hòa nhau) địa xung hoặc thiện khắc địa tỉ, hoặc thiên tỉ địa hình (hình phạt) thì đều chú về hung (nếu xung vào vận hạn đó thì càng nặng). 9- Đại vận, lưu niên, mệnh cục hình thành một địa chi xung ba chi, hoặc một con khắc ba can; một chi hình phạt ba chi, hoặc ba chi hìnhphạt một chi thì e rằng có tai nạn bất ngờ nguy hiểm đến tính mạng (phải hết sức chú ý). Có một chi xung hai chi, một con khắc hai can, một chi hình phạt hai chi hoặc hai chị hình phạt một chi, tuy có tai họa nhưng tương đối nhẹ hơn.

10-Trong đại vận, lưu niên, mệnh cục có bốn chi hợp với một chi, bốn can hợp với một can, một chi hợp với bốn chi hoặc một con hợp với bốn can thì chủ về tình cảm có sóng gió, bệnh tật hoặc thất bại tài sản và tình trạng đó kéo dài.

11- Trong mệnh cục lấy thương quan làm dụng thần thì đại vận, lưu niên kị nhất là thương quan. Phạm phải điều đó có thể tan nát nhân duyên, cãi nhau, kiện tụng hoặc phá sản.

12- Mệnh cục, đại vận, lưu niên có sáu địa chi hợp thành hai cục khác nhau hoặc tam hợp cục tương khắc nhau thì chủ về đại hoạ đến nơi, cái chết khó tránh.

13- Đại vận, lưu niên lấy hai chi xung một chi, xung nhập cung thế (vợ) là chủ về vợ có tai hoạ, xung nhập cung phụ mẫu là chủ về phụ mẫu có tai nạn, xung nhập cung con cái là chủ về con cái gặp tai nạn.

14- Nếu trong đại vận, lưu niên, mệnh cục xuất hiện tam hình (ba hình phạt thì bất cứ hai hình nào nhập vào chính ấn của mệnh cục là có nguy cơ mẹ mất, nhập vào thiên tài của mệnh cục là có nguy cơ cha mất, nhập vào chính tài là có nguy cơ vợ mất, nhập vào thực thương là có điểm con mất.

15- Trong đại vận, lưu niên hoặc mệnh cục xuất hiện hai nhóm hình phạt lẫn nhau hoặc tuần hoàn tam hình (hình phạt) khi hình nhập vào vận hạn đó lại không có cái cứu giải (tức là không có thiên đức và nguyệt đức hoặc bị những cái khác hợp chặt) thì bản thân có tai vạ, nếu không may lại còn gặp xung nữa thì tai vạ càng nặng, có thể chết cũng nên. Nếu hình phạt không nhập vào vận hạn đó mà nhập vào chi năm (đồng thời không có gì cứu trợ) thì ông bà có tai vạ, hình nhập vào chi tháng (mà không có cứu trợ) thì cha mẹ có tai vạ, hình nhập vào chi ngày (mà không có cứu trợ ) thì con cái hoặc vợ có tai vạ.

16- Can ngày khắc thiên can của lưu niên (tức là phạm tuế quân) thì xấu, nếu có cứu (can khác khắc hợp làm xì hơi can ngày hoặc có quý nhân thiên đức) thì ngăn trở người đó tiến (tức không gặp của).

17- Trong đại vận, lưu niên và mệnh cục xuất hiện bốn chữ: tí, ngọ, mão, dậu thì tốt

Chú thích: Trong vận hạn này chia mệnh cục thành bốn thời kỳ: mỗi thời kỳ là một hạn, lấy theo:

a- Trụ năm: từ năm sinh đến tuổi 15.

b- Trụ tháng: từ 16 đến tuổi 31.

c- Trụ ngày: từ 31 đến tuổi 47.

d) Trụ giờ: từ 47 đến tuổi 65.