1. Ngũ hành của mười can

Chương 3 THIÊN CAN

Mười thiên can và mười hai địa chỉ, sách "Sử ký" gọi mười thiên can là mẹ, mười hai chi là con, gọi tắt là can chi. +

Từ quá trình phát triển của lịch sử để xem xét thì đại thể ban đầu phát minh ra thiên can, sau đó mới phát minh ra mười hai địa chỉ, cuối cùng mới ghép can chi lại với nhau. Từ thế kỷ XVI trước công nguyên qua các đời nhà Ân, nhà Thương đã có được can chi giáp tý. Mười can ban đầu được dùng làm đế hiệu của vua nhà Thương như Thành Thương có tên là Thiên Ất, con trai của ngài gọi là Đại Đinh, Trung Bính, Trung Nhâm, cháu có tên là Đại Giáp...

I. MƯỜI THIÊN CAN VỚI ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH

1. Ngũ hành của mười can

Mười can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là can dương; Ất, Định, Kỷ, Tân, Quý là can âm.

Giáp, ất đều thuộc mộc, giáp là dương mộc, ất là âm mộc;

Bính, định đều thuộc hoả, bính là dương hoả, định là âm hoả;

Mậu, kỷ đều thuộc thổ, mậu là dương thổ, kỷ là âm thổ;

Canh, tân đều thuộc kim, canh là đương kim, tân là âm kim;

Nhâm, quý đều thuộc thuỷ, nhâm là dương thuỷ, quý là âm thuỷ.

Giáp mộc là mộc thuần dương, tên là mộc của đại ngàn, tính của nó là cứng, là gỗ làm cột trụ cho nên gọi là dương mộc.

Ất mộc là một thuần âm có tên là gỗ của thảo mộc, có vẻ đẹp kiều diễm, có tính mềm yếu, tình khắp nhân gian nên gọi là mộc âm.

Bính hoả là hoả thuần dương, có tên là hoả của mặt trời, có công chiếu sáng trời đất, tính mãnh liệt làm tan sương tuyết, chiếu khắp vạn vật, cho nên gọi là dương hoả.

Đinh hoả là hoả thuận âm có tên là lửa của nến, chỉ chiếu sáng trong nhà, tính mềm yếu, quên mình vì mọi người, nên gọi là âm hoả.

Mậu là thổ thuần dương, là thổ trên tường thành, là tư lệnh của vật, tính cao thượng, chất cứng mà hướng dương, dưỡng dục cho vạn vật nên gọi là dương thổ.

Kỷ là thổ thuần âm, tên gọi là thổ của ruộng vườn, có chức năng bồi dưỡng cây cối và ngăn nước, tính của nó ẩm ướt, chất mềm, ở những chỗ thấp, hướng về âm, tạo phúc cho nhân gian nên gọi là âm thổ.

Canh kim là kim thuần dương, tên là kim mũi kiếm, tính cứng khỏe, có sức sát phạt, phong cách cương trực, cứng rắn, sát phạt vạn vật nên gọi là dương kim.

Tân kim là kim thuần âm, tên gọi là ngọc quý, có công dụng khảm, nạm vật quý, tính nhu nhược, chất sáng trong, ấm, trang sức cho mọi người nên gọi là âm kim.

Nhâm thuỷ là thuỷ thuần dương, có tên gọi là nước của sông, hồ biển, chảy khắp nơi không ngừng, tính mạnh, chất cứng tưới tắm cho vạn vật nên gọi là dương thuỷ.

Quý thuỷ là thuỷ thuần âm, tên gọi là nước mưa có sức biến thành khí, tính của nó yên tĩnh, mềm yếu, nuôi nấng vạn vật nên gọi là âm thuỷ.