1. Lục hợp của mười hai chi

II. HÓA HỢP CỦA MƯỜI HAI CHI

1. Lục hợp của mười hai chi

Tí hợp với sứu hóa thổ; dân hợp với hội hóa mộc; mão hợp với tuất hoá hoả; thìn hợp với dậu hóa kim; tị hợp với thân hóa thuỷ; ngọ hợp với mùi, ngọ là thái dương, mùi là thái âm, hợp nhau thành thổ.

Cách vận dụng lục hợp của mười hai chi. Thứ nhất là dùng trong sự sắp xếp thiên can, địa chi của Tứ trụ, tức là năm, tháng, ngày, giờ sinh. Nếu năm, tháng, ngày, giờ sinh, trong địa chỉ có tí và sửu, tức là có tí hợp với sửu, có hai chị dần và hợi tức là dần hợp với hợi. Những người có sự tương hợp đó là có nghĩa tốt.

Tương hợp lại chia ra trong hợp có khắc và trong hợp có sinh. Người trong hợp có khắc là trước tốt sau xấu, trước nóng sau lạnh, trước hợp sau phân. Có những cặp vợ chồng hoặc quan hệ bạn bè bắt đầu rất tốt, sau đó cãi vã li hôn, quan hệ bạn bè chia rẽ, đó là vì trong Tứ trụ có tiêu chí thông tin trong hợp có khắc.Ví dụ: tí hợp với sửu, mão hợp với tuất, tí hợp với thân. Tí là thuỷ, sửu là thổ, thổ khắc thuỷ mão là mộc, tuất là thổ, mộc khắc thổ, tị là hoả, thân là kim, hoả khắc kim. Như thế gọi là trong hợp có khắc.

Người trong hợp có sinh thì dù là quan hệ vợ chồng hay quan hệ và bạn với nhau đều ngày càng tốt hơn. Đó là trong Tứ trụ có tiêu chí thông tin trong hợp có Binh. Ví dụ: dần hợp với hợi, thìn hợp với dậu, ngọ hợp mùi. Dân là mộc, hợi là thuỷ, thuỷ sinh mộc, thìn là thổ, dậu là kim, thổ sinh kim, ngọ là hoả, mùi là thổ, hoả sinh thổ. Như thể gọi là trong hợp có sinh.