1. Cách sắp xếp Tứ trụ trước và sau lập xuân.

III. MƯỜI HAI TIẾT LỆNH

Tháng giêng lập xuân, tháng hai kinh trập, tháng ba thanh minh, tháng tư lập hạ, tháng năm mang chủng, tháng sáu tiểu thư, tháng bảy lập thu, tháng 8 bạch lộ, tháng 9 hàn lộ, tháng 10 lập đông, tháng 11 đại tuyết, tháng 12 tiểu hàn.

Mười hai tiết lệnh cũng gọi là lệnh của 12 tháng. Lệnh tháng năm quyền sinh sát của một tháng, là cương lĩnh của vạn vật. Lệnh tháng không những là ranh giới phân chia một năm, một tháng mà cũng là tiêu chuẩn vượng, suy của can chi trong Tứ trụ. Cho nên lệnh tháng vô cùng quan trọng trong việc dự đoán thông tin của con người.

1. Cách sắp xếp Tứ trụ trước và sau lập xuân của năm

1. Ví dụ cách sắp xếp Tứ trụ trước lập xuân Năm 1987, tháng 12, ngày 17, giả thiết 3 giờ 30 ngày đó là lập xuân, đối với người sinh giờ dân, tính như sau:

Năm đinh mão, tháng quý sửu, ngày kỷ sửu, giờ bính dần (đây là cách sắp xếp Tứ trụ của người sinh trước 3h30). Nếu sinh sau 3h30 ngày 17 tháng 12 năm 1987, tức sinh sau giờ lập xuân thì sắp xếp là: Sinh giờ dần, ngày 17 tháng giêng năm 1988, Tứ trụ là: mậu thìn, giáp dần, kỉ sửu, bính dần.

Vì sinh sau 3h30 tức là sau lập xuân, cho nên tính vào tháng giêng năm 1988, còn thiên can, địa chỉ của ngày và giờ sinh không đổi.

2. Ví dụ cách sắp xếp Tứ trụ sau lập xuân của năm Giả thiết 10h4' ngày mồng 7 tháng giêng là lập xuân năm 1987. Sinh năm 1986, tháng 12, mồng 7, giờ tị. Bính dân, tân hợi, giáp thân, kỷ tị. Đó là người sinh trước lập xuân. Năm 1987, tháng giêng, mồng 7, sau 10h4' Tứ trụ của người sinh sau lập xuân là: Năm đinh mão, nhân dân, giáp thân, kỉ tị.