V. NGUỒN GỐC CỦA HUYỀN KHÔNG HỌC VÀ SỰ TRANH LUẬN GIỮA CÁC PHÁI

Thuật Huyền không tham dự sớm nhất là do Quách Cảnh Thuần đời Tấn đưa ra . Theo sách “ Thanh nang tự ” của Tằng Công An ( còn gọi là Tằng Cầu Kỳ ) đời nhà Đường thì Quách Cảnh Thuần đời Tấn đã bắt đầu truyền bá thuật Huyền không . Động là sinh , tĩnh là tử . Đến đời Đường Dương Duân Tùng biên soạn cuốn “ Thanh nang áo ngữ ' đưa ra lý luận " Cái và đực giao hội hợp nguyên thành Huyền không " , tức lý của Huyền không là âm dương giao nhau , thuật của Huyền không là vận dụng ngũ hành sinh khắc khi âm dương giao nhau ; phép của Huyền không là ở chỗ nắm vững " cách sắp xếp sao Về sau Tằng Công An được Dương Duân Tùng bí truyền cho sách “ Thanh nang áo ngữ " . Nhưng Dương và Tằng vẫn chưa công bố bí mật của thuật Huyền không cho công chúng , Dương Duân Tùng là viết cuốn “ Thiên ngọc kinh ” , chính thức đưa ra phép Huyền không dựa vào sắp xếp sao để lập quẻ . Ông cho rằng : thuật Huyền không quý ở phép lập quẻ theo sao và gọi đó là “ sắp xếp sao học " . Nhưng ông lại không truyền bá bằng sách mà bằng truyền khẩu , cho nên thiên hạ rất ít người hiểu được thuật sắp xếp sao .

Đến đời Tống, Ngô Cảnh Loan nắm được chân truyền , đã viết các sách “ Huyền không bị chì ” , “ Thiên cơ phú ” ( có người cho rằng “ Huyền không bị chỉ là tác phẩm của Mục Giảng Tăng , tức là Mục Giảng Tăng cũng được chân truyền ) đến đây Huyền không học đã có sự phát triển đáng kể . Nhưng vì bí mật của phép sắp xếp sao chưa được công khai cho nên vẫn thuộc môn học bí truyền .

Đến cuối đời Minh , Tường Đại Hồng ( còn gọi là Tường Bình Giai , Đỗ Lăng phu tử ) được Vô Cực Từ chân truyền , học được hình sắp xếp sao và lấy “ Thanh nang kinh ” làm truyện , “ Thanh nang tự làm chú , lấy " Thiên 11gọc kinh " làm truyện , " Thiên bảo kinh " làm chú , phát triển mạnh mẽ lý luận của Huyền không . Nhưng vì họ hiểu sai rằng thiên cơ không thể tiết lộ nên đã không công khai phép sắp xếp sao . Tuy họ đã phê bình các lý luận sai trái trong địa lý học , trở thành phái đại công thần trong địa lý , nhưng cũng vì thế mà đã tạo nên hàng trăm ngụy thuyết , sản sinh ra càng nhiều lý luận và trở thành tội nhân lớn nhất của địa lý học . Họ không những đã bảo mật nghiêm khắc mà còn không để cho đệ tử làm lộ thiên cơ . Trong " Thiên ngọc kinh " họ viết “ Duy chỉ có phép sắp xếp sao , nguyên lý đại ngũ hành là điểu tôn quý nhất của âm dương . Bí mật thiên cơ không thể tiết lộ ra ngoài , còn vì một sự ngẫu nhiên nào đó mà tiết lộ ra thì còn khả dĩ ” . Đồng thời ông nói “ nếu không cẩn thận chọn người được truyền thì e rằng tuy tìm được cát địa nhưng vẫn không nhận được phúc may . Còn người tiết lộ thiên cơ là kẻ phản bội lại các bậc tiên sư , không những gây nên sự phẫn nộ cho vạn vật mà còn phải chuốc họa vào thân ” .

Ông chỉ truyền phép sắp xếp sao cho đệ tử Khương Nghiêu ( còn có tên là Khương Nhữ Hào ) . Khương Nghiêu không phải dễ dàng mà được chân truyền . Không những Khương Nghiêu theo học thầy hơn 20 năm , mà cuối cùng còn vì Tường Thị không có tiền mua đất mại táng bố nên Khương Nghiêu phải giúp Tường Đại Hồng 2000 lạng bạc để mai táng bố , sau đó mới được chân truyền , đồng thời còn bị khuyến cáo không được tiết lộ thiên cơ . Về sau Khương Nghiêu trong cuốn “ Thanh nang áo ngữ cũng đã giữ lời thầy dặn , ở những chỗ mấu chốt chỉ dùng những lời mập mờ , khiến cho người đời không lần ra đầu mối . Nhưng trong cuốn “ Tòng sơ tuỳ bút ” , Khương Nghiêu đã kể lại nhiều câu truyện , qua đó vô tình khiến cho toàn bộ " Khẩu quyết của quẻ thay " bị tiết lộ ra , làm cho những người học Huyền không học đã có đầu mối để lẩn ra bí mật .

Đến đời Tống và những năm Khang Hy , Càn Long đời Thanh , Dịch học rất thịnh hành , Huyền không học cũng theo đó mà phát triển . Nhưng sau Gia Khánh , nhà địa lý Kỳ Đại Khuê ra sức hành đạo , tuy được nhiều người theo học , nhưng Huyền không học cũng ngày càng mất dấu tích . Nguyên nhân căn bản là vì số người được truyền dạy thuật sắp xếp sao rất ít , vì vậy rất nhiều ngụy thuật đã ra đời , thậm chí có người dùng nguy thuật để làm kế mưu sinh .

Đến cuối đời Thanh , Thẩm Trúc Nhưng người Tiền Đường ( còn gọi là Thẩm Thiệu Quyên ) từ bé đã đọc tác phẩm của Tưởng Đại Hồng nhưng không lần ra đầu mối . Về sau năm Đồng trị Quý dậu ( 1873 ) ông đã cùng Hồ Bá An đến Vô Tích , Giang Tô gặp đệ tử Ngô Môn là hậu duệ của Chương Trọng Sơn , mong học được bí mật phép sắp xếp sao , nhưng ở đó mấy tháng mà vẫn không tìm được , về sau phải trả nhiều tiền mới mượn được sách để đọc một lần . Hai người trong một ngày đêm ra sức sao chép lại đầy đủ tác phẩm “ Âm dương nhị trạch lạc nghiệm ” của Chương Trọng Sơn . Sau khi có được sách này trong tay , họ cảm thấy tác phẩm rất kỳ diệu . Sau nhiều năm khổ công nghiên cứu , bỗng một hôm họ đọc kinh Dịch , xem hình vẽ Lạc thư , từ lý thuyết Ngũ hoàng nhập giữa họ liên tưởng đến các hình vẽ trong tác phẩm của Chương Trọng Sơn , bỗng nhiên hiểu được các hình vẽ là do từng sao lần lượt chuyển vận mà hình thành . Từ vận 1 9 , các sao lần lượt nhập giữa sẽ được các tính bàn khác nhau . Đó chính là cái mà người ta thường gọi là thiên cơ . Về sau họ sửa cuốn “ Âm dương nhị trạch lục nghiệm ” thành “ Âm dương trạch đoán ” để dễ hiểu , dễ nhớ . Khi Thẩm Trúc Nhưng còn sống , người theo học rất nhiều . Sau khi ông mất , con ông là Thẩm Tổ Huyện và người nhà đã thu thập những bản thảo của ông biên soạn phân loại rồi lần lượt xuất bản , có tên là “ Thẩm thị Huyền không học ” . Từ đó thuật Huyền không sắp xếp sao mới được công khai ra quần chúng , được nhiều người biết đến .

Năm 1927 , một tác phẩm lấy tên là “ Hải thượng tứ vô lượng trại ” tập hợp thành các tác phẩm cận đại về Huyền không địa lý phong thuỷ , đã hội tụ được các ví dụ thực tế thành công cũng như thất bại , xuất bản thành Tuyển tập “ Đông phương chị khoa học - trạch vận tận án ” . Cuốn sách này đã trình bày một cách hệ thống lý luận phương pháp Huyền không địa lý phong thuỷ học của Trung Quốc , được người đời tôn vinh là " Hoạt dịch học " . Có thể xem đó là kho báu để lại cho người đời . Đọc tác phẩm này độc giả có thể biết được mỗi năm mỗi tháng . phi tinh chuyển đến đâu và họa phúc sẽ phát sinh ra sao , từ đó mà giảm thiểu được tổn thất , tránh được bất hạnh , tăng thêm sự yên ổn .

Trong quá trình phát triển của Huyền không học , vì thuật sắp xếp sao luôn bí mật không được lưu truyền , nên đã xuất hiện đủ kiểu dự đoán , do đó mà sản sinh ra rất nhiều học phái và ngụy pháp .

Về ngụy pháp mà nói , biểu hiện thứ nhất là phương pháp khí quẻ cứng nhắc , dù toạ hay hướng nào thì vận 1 đều lấy Khảm , vận 2 lấy Khôn , vận 3 lấy Chấn , vận 4 lấy Tốn , vận 5 lấy 2 khỉ Cấn và Khôn , vận 6 lấy hàn , vận 7 lấy Đoài , vận 8 lấy Cấn , vận 9 lấy Ly làm cát trạch . Thứ hai là phép cố định ngồi khí , tức là cho dù sao nào nhập giữa , khi bay đến cung Càn đều là thí sinh vượng , bay đến cung Tổn đều là khí thống soái . Như vậy nhà có toạ và hướng là cung Càn và cung Tốn đều là vương trạch . Thứ 3 , quẻ phụ mẫu đều chọn theo phương pháp bay ngược , tức là cho dù sơn và hướng âm hay dương , chỉ cần là quẻ phụ mẫu thì đều chọn bay ngược . Như vậy tất nhiên là đảo sơn đáo hướng . Thứ tư , hướng thì dùng thiên bàn , sơn thì dùng bàn ngũ vận , tức là toạ sơn do bàn ngũ vận xác định phương vị , còn hướng thì dùng thiên bàn bố trí theo dương bay thuận , âm bay ngược . Ví dụ sơn cần hướng tốn , càn nhất định là 6 , còn tốn thì vận tình dương bay thuận , âm bay ngược . Năm là , dùng phép số sinh thành , tức khi ở vận 1 thì gặp 6 cộng thêm 1 ; khi ở vận 2 thi gặp 7 cộng thêm 1 , khi ở vận 3 , gặp 8 cộng thêm 1 , v , v .. Thật là mỗi phép làm một cách , khác nhau hắn . Do sự xuất hiện của nhiều ngụy pháp mà thấy rõ hổi đó Huyền không học phát triển rất mạnh .

Trong lưu hành các nguy pháp , thì phép 64 quẻ của Trương Tâm Ngôn ( còn gọi là Trương Kỳ Thạch ) là còn coi trọng Dịch lý . Trương Tâm Ngôn thuộc phái Huyền không học Thượng Ngu Triết Giang . Vì phái này coi trọng Dịch lý nên người theo học tương đối ít , bởi vì người ta rất khó hiểu . Trương Tâm Ngôn đã viết nhiều tác phẩm tư “ Sơ ” hoặc “ Bố chú ” để giải thích các tác phẩm “ Thanh nang kinh " Thanh nang tự " , " Thanh nang áo ngữ " , " Thiên ngọc kinh " , " Ba . chiếu kinh " . Qua đó có thể thấy ông nghiên cứu rất sâu về Dịch lý . Nhưng đối với phép sắp xếp sao ông cũng chưa biết mà cho rằng phép sắp xếp sao chính là phép sắp xếp 64 quẻ . Ông lấy hình vẽ 6 quả của Thiệu Khang Tiết làm gốc , lại lấy các hình của Ngô Môn Phan Cảnh Kỳ làm ứng dụng , tập hợp lại thành phép 64 quẻ . Phương pháp này ban đầu cũng bị bí truyền , trừ các nôn đệ của ông ra , người đời đều không được biết đến . Đến những năm đầu thời Dân quốc , Chúc Nghiêu Hào , Trương Trấn Thái , Lưu Tương Tiều , v , v . , đã tập hợp các tàng bản viết thành 3 tập “ Huyền không chân giải ” , đem 64 quẻ của Trương Thị nói rõ từng quẻ một . Độc giả đọc ba tập sách này thì sẽ hiểu được phép dùng của nó .

Về học phái mà nói , cuối đời Thanh , đầu thời Dân quốc , Huyền không học được chia thành 6 phái lớn , tức là phái miền Nam lấy Phạm Nghị Tân làm tông phái , phái Vô Thường lấy Chương Phố làm đầu , phái Tô Châu lấy Chu Tiểu Hạc làm tiêu biểu , phái Thượng Ngu lấy Từ Địch Huệ làm tiêu biểu , phái Tương Sở lấy Y Hữu Bản làm tiêu biểu , phái Quảng Đông lấy Sài Dân Sơn làm tiêu biểu . Cà 6 phái không có được người nào thông hiểu toàn bộ vấn đề . Sách của tông sư các phái viết ra rất nhiều , nhưng đều bí truyền lẫn nhau , không tiết lộ ra ngoài , vì vậy những chỗ sai sót không thể hiệu chỉnh được , do đó mà ngụy thuật rất nhiều . Các phái đều tự xưng mình là chính tông , tự nhận mình được tổ chân truyền bản gốc . Vì vậy bị nhiều người trong giang hồ lợi dụng để làm kế mưu sinh .

Giữa các phái vì bảo vệ ý kiến của mình mà công kích lẫn nhau phản bác lại học thuật của đối phương . Hậu duệ của Ngô Môn . Trương Trọng Sơn ra sức vạch ra sai sót của phái Trương Tâm Ngôn . Còn phái Trương Tâm Ngôn cũng ra sức phản bác lại phái kia . Thự ra trong hai phái chưa có ai thông hiểu hoàn chỉnh , khiến cho Huyền không học càng trở nên manh mún hơn . Thực chất thì phép lập quẻ của Trương Tâm Ngôn là xuất phát từ là tự nhiên , có nguồn gốc từ cửu cung bát quái , nên không thể gọi là ngụy biện . Nhưng phương pháp này không phân biệt rõ quẻ thể và quẻ dụng , tạo nên cách vận dụng sai . Khiến cỡng xem quẻ thể của 64 quẻ đều là quẻ phụ mẫu để phối với thời vận và cho rằng như thế là Tường Đại Hồng có ý ẩn 24 sơn , hướng thành 64 quẻ , tức là hiểu sai phép sắp xếp sao . Cho nên Trương Tâm Ngôn không sai về Dịch lý mà sai về cách dùng , tức là sai về cách lập quẻ , chọn sao , xác định thành môn , vv . , còn về phản ngân , phục ngâm thì ông lại đúng .

Phái Chương Trọng Sơn lại cứ cố giữ phương pháp cửu cung phi tinh mà không biết rằng cửu cung tức là bát quái , không hiểu phi tinh tức là 64 quẻ , tức biết được cách dùng mà không hiểu được bản chất của nó .

Mãi đến cuối đời Thanh , Thẩm Trúc Nhưng qua 40 năm nghiên cứu , đọc hơn 1700 các loại tác phẩm bàn về Chu dịch , đọc " Tòng sự tùy bút " , " Âm dương nhị trạch lục nghiệm " mới hiểu rõ được các vấn đề : theo thời vận lập hướng , phản ngâm , phục ngâm , kiêm hướng , dùng sao lập quẻ , khẩu quyết về thành môn , thay quẻ , thiên tâm , nhập tù , đáo sơn đáo hướng , thượng sơn hạ thủy , toạ và hướng phạm ngũ hoàng thổ , vv . , hoàn toàn ăn khớp với Lục nghiệm " của Chương Trọng Sơn , chứng minh rõ Chương Thị quả thật được hương Nghiêu chân truyền . Từ đó phương pháp sắp xếp theo sao mới được truyền ra công chúng .