V. LƯỢC ĐOÁN THẦN SÁT

Dịch học là học vấn về quy luật phát triển biến đổi của vũ trụ để tiến hành tính toán, nó vốn không liên quan với quỷ thần. Sau khi Huyền không học kết hợp với tín ngưồng và tôn giáo thì bị tôn giáo lợi dụng, khoác cho nó cái áo choàng mang màu sắc quỷ thần, biến thành sức mạnh siêu tự nhiên, siêu xã hội kìm hãm thế giới tinh thần của con người. Lại thêm sau khi kết hợp với giá trị cá nhân và giá trị lợi thế xã hội, bị lợi thế xã hội lợi dụng hoặc bài trừ, gán cho nó tội danh giáo điều mang tính thần thánh hoặc mê tín, hoặc khen hoặc chế, hoặc giương cao, hoặc dìm xuống.

Nếu chúng ta bóc đi cái vỏ áo ngoài của tín ngưỡng và tôn giáo sẽ có thể phát hiện nó có phạm trù của vật chất, tuy chỉ mang định tính, nhưng cho đến ngày nay nó vẫn là một loại trừu tượng cao độ. Do nó không có phạm vi thời gian và không gian chính xác, nên nó chưa thể được xem là "sự trừu tượng của khoa học" như Lênin đã nói mà chỉ có thể gọi là "khoa học trừu tượng". Đã là như vậy, xét theo phạm trù của chất và nội dung cốt lõi của nó, nó là khoa học, là khoa học mờ, là loại khoa học mang định tính, là khoa học trừu tượng xây dựng trên cơ sở hàng ngàn vạn năm và hàng trăm triệu lần thực tiễn.

Thực tiễn và ý thức vốn là hai phạm trù kbác nhau. Một cái là khách quan, một cái là chủ quan. Khi hai cái kết hợp với nhau thực tiễn sẽ được phản ánh chính xác, cũng có thể bị phản ánh méo mó đi. Cái gọi là thần và quỷ chính là sự phản ánh thực tiễn sau khi đã bị xuyên tạc. Cũng chỉ có sự xuyên tạc này mới làm cho những giá trị có lợi thế trong xã hội tiếp nbận và bị tâng bốc thành giáo điều của thần thánh, dưới sự nâng đỡ của các giá trị quan có lợi thế về xã hội nên nó được tồn tại mãi mãi. Nhưng cũng chỉ có sự xuyên tạc này mới có thể làm cho các giá trị có lợi thế của xã hội bài xích nó, cho đó là mê tín ; mới có thể trước sự đã kích của các giá trị quan có lợi thế xã hội nhằm đào thải nó, nó đã tự thân thể hiện một cách ngoan cường các giá trị dân tộc và giá trị khoa bọc của mình.

Khi đã cởi chiếc áo ngoài mang tính quỹ thần thì việc làm rõ bản chất khoa học của nó là trách nhiệm dân tộc thiêng bêng của những người làm công tác khoa học xã hội Trung Quốc.

Bản thân Dịch học chỉ nói đến sự đối lập của âm duơng, sự động tinh cát hung, ngü hành sinh khẩc, quẻ và sự biến đối hào của quẻ. hoàn toàn không nói đến quỷ thần. Nhưng nó thường mượn khái niệm quỷ thần để diễn đạt nội dung của mình, đó là công lao của lịch sử, nhưng cũng là tội lỗi của lịch sử. Ngày nay, khi chúng ta chưa có được những khái niệm xác đáng hơn, khoa học hơn để diễn đạt nội dung của nó thì buộc phải dùng tạm những khái niệm văn hóa của người xưa để lại để diễn đạt nội dung của nó. Do đó các danh từ như "quỷ "thần" vẫn tạm mượn dùng nguyên xi như cũ.

Nội dung biện chứng của âm dương động tĩnh, ngà hành sinh khắc của cổ dịch, cơ sở vật chất của nó là "kh. là sự đổi lập âm dương của khí, là sự biến đổi động tĩnh của khí, là ngũ hành sinh khắc của khí trường. Huyến không học cổ dịch chính là đem nguyên lý biện chứng của Dịch học tng dụng vào môi trường nhà à, sinh hoạt của con người và có học hướng hệ thống chặt chế, nó giống như các môn Dự đoán học của Dịch học khác, trở thành một bộ phận của Dịch học, là tng dụng học của Dịch học. Đã là tng dụng thi không thể tách rời văn hóa lịch sử, cho nên buộc phải dùng các danh từ "quý và "thán" để diễn đạt vấn để chứ không phải đó chính là qui thần thực sự.

Thái tuế và tuế phá

Thái tuế cũng gọi là tuế thần. Người nta cho rằng, trên trời có tuế tinh, là mộc tỉnh, là thanh long. 12 năm di chuyển được 1 vòng trời nhỏ ; trên mặt đất có thái tuế, là thái âm, theo 12 địa chí, 12 năm di chuyển 1 vòng tức là năm giáp tí thái tuế đóng tại cung tí, năm ất sửu thái tuế đóng tại phuơng sứu, v.v. năm quý hợi đồng tại phương hợi. Phàm là năm thuộc thái tuế ất sẽ có một vị thần cai quản, gọi là tuế thần Tất cả gồm có 60 vị tuế thắn lắn lượt thay nhau trực, mỗi tuế thần 60 năm mới trực 1 lần Vi dụ năm 1995 là năm ất hợi, thái tuế đóng tại phương hợi. Tuế thán luân phiên trực là Ngũ bảo.

Thông thường phương mà thái tuế đóng có một lực gia tốc, làm tăng rất lớn mắt thường không trông thấy. Lực này là trường khí mạnh do sự vận hành các tinh thể của vũ trụ kết hợp với từ trường của quả đất hình thành tại một phương vị riêng. Năm giáp tí khí trường tại phương tí cực mạnh. Năm ất sửu khí trường tại phương sửu cực mạnh, ... , năm quý hợi khí trường tại phương hợi cực mạnh. Nếu trong phương vị khí trường mạnh có một động tác (như đào móng xây nhà, máy móc vận chuyển, ống khói phụt lửa, v.v...) đều có thể làm mạnh thêm sự chuyển động của khí trường. Trong phạm vi này có động tác của con người, đặc biệt là người niên canh (tức năm tháng ngày giờ sinh) xung với thái tuế thì người đó có thể gặp hại nhiều, xuất hiện tai nạn bị thương trong khi lao động. Cho nên không thể xung thái tuế, cũng không nên hướng đến thái tuế, mà nên tĩnh không nên động. Cái gọi là "niên canh xung thái tuê" chính là năm mỗi người sinh ra ắt phải có một thái tuế trực, đó gọi là "niên canh thái tuê".. Nếu năm nào đó "niên trực thái tuế" đang nằm tại phương đối diện của "niên canh thái tuế" thì "niên trực thái tuế" sẽ tương xung với niên canh thái tuế, tức gọi là "niên canh xung thái tuế". Ví dụ người sinh năm 1938, đó là năm mậu dần. Niên canh thái tuế của người đó là dần. Nếu sắp xếp theo 12 địa chi, dần tương xung với thân. Vì vậy gặp năm thân, tức là năm "niên canh xung thái tuế". Người này trong năm thân phải đặc biệt chú ý tránh có các hành động tại hai phương dần thân, nếu không sẽ dễ gặp trắc trở. Ví dụ người sinh năm dần xây nhà về phương dần, gặp năm thân, thái tuế đến thân thì có nghĩa là thái tuế vào nhà, người sinh năm dần ở ngôi nhà đó sẽ gọi là xung phạm thái tuế, dễ gặp phải tai họa. Cho nên người sinh năm dần không thể dùng địa chi năm sinh của mình để lập hướng. Theo 12 cầm tinh mà bàn thì người tuổi tí không thể lập cửa (hoặc hướng) theo hướng tí ; người thuộc tuổi trâu không nên lập của (hoặc hướng) theo phương sửu, v.v... đó là vì không nên xung phạm thái tuế. Ở thành phố mua nhà nên tránh cửa chính xung thái tuế.

Huyền không tham dự học tọa sơn lập hướng phải đặc biệt chú ý phương vị thái tuế đến. Ví dụ một người năm 1936 động thổ xây nhà theo sơn tí hướng ngọ, thái tuế năm đó đóng tại phương tí tức là phạm thái tuế. Năm đó thuộc vận 4, hướng phi tinh của hướng là Tam, thuộc hướng thoái khí, sơn phi tinh của hướng là Ngũ, phạm Ngũ hoàng chính quan sát. Phi tinh lưu niên của năm đó là Ngũ hoàng đến hướng, phi tinh lưu niên của năm sau là Ngũ hoàng đến sơn. Sau khi xây nhà, vào ở không đầy 4 năm, không những gia đình tổn định mà còn gặp nhiều tai vạ, có thể nói cảnh tình rất bị thảm. Xin xem bảng dưới đây.

image

Như trên đã nói, phương thái tuế vốn là khí trường cực mạnh, bản thân không có sự phân biệt cát hung (tốt xấu) chỉ là vận dụng có thỏa đáng hay không mà thôi. Khi dùng nó được thích đáng thì đã vượng lại càng thêm vượng, như thêm hoa trên gấm. Khi dùng nó không thích đáng thì như bị trói tay, đã đau càng thêm buồn. Nếu như nhà xây dựng là vượng sơn vượng hướng, nhưng năm vào ở thái tuế đang nằm ở phương vượng thì chính là đã vượng lại càng thêm vượng, như trên gấm thêu hoa. Nếu như nhà xây dựng là "thượng sơn hạ thủy", năm vào ở thái tuế đang nằm tại phương của hướng (hoặc phương sơn), đây như là tay bị trói, đã đau lại thêm buồn, một người năm đó nếu xây nhà sơn cấn hướng khôn thì được vượng sơn vượng hướng. Năm vào ở (cuối năm 1937) thái tuế đến sửu. Đúng dịp tọa sơn vượng hướng, há chẳng phải là vượng cả đỉnh và tài, nhân tài xuất hiện không ngừng. Đâu có cảnh bi thảm nhà tan người mất, gặp bọn cướp hoành hành.

image

Cung đối của thái tuế là tuế phá. Phương thái tuế đã là một khí trường dương mạnh, cung đối của nó tương tự cũng là khí trường âm mạnh. Hai loại khí trường dương và âm, âm dương đối lập, tương khắc tương xung. Khi dùng nó được thích đáng thì như trên gấm thêm hỏa khi dùng no không thích đáng thì như nổi giáo cho giặc. Chúng ta thường thấy trêu lịch âm lịch ghi 8 chữ "nhật trực tuế phá, đại sự bất nghi" (tuế phá trực ngày này, không nên làm những việc lớn quan trọng), tức là từ phía mặt trái, khuyên răn mọi người không nên xúc phạm ngày đó và phương vị đó. Thực ra, nó vẫn có cái hay về chính diện (mặt phải), chỉ vì mọi người không rõ đạo lý đó cho nên người soạn lịch thà che giấu chỗ tốt đi, chỉ nói cái xấu (hung) của nó, không nói cái tốt của nó để tránh người ta dùng nhầm. "Nhật trực tuế phá" là như thế nào ? Ví dụ năm tí, thái tuế tại phương tí. tuế phá của nó ắt tại phương ngọ. Dùng can chỉ ghi ngày thì tất cả những ngày địa chi là ngọ như giáp ngọ, bính ngọ, mậu ngọ, canh ngọ, nhâm ngọ đều gọi "tuế phá nhật", khí trường âm của phương ngọ mạnh nhất. Nếu phạm phải (đặc biệt là người tuổi tí) thì dễ gặp tai hoạ. Thái tuế có hai cách dùng : một là Thái tuế Địa bàn, hai là Thái tuế phi tinh.

Thái tuế địa bàn là Thái tuế biểu hiện trên bàn Hậu thiên bát quái, tức bàn nguyên đán. Trên bàn nguyên đán có 12 địa chi, thái tuế mỗi năm trực tại một địa chi nào đó, 12 năm đi xong một vòng. Thái tuế luân phiên trực trên địa bàn cố định là Thái tuế địa bàn. Thái tuế phi tinh, chỉ có phái Huyền không phong thuỷ học mới sử dụng. Cửu cung phi tinh, mỗi năm có một sao (tinh) bay vào cung giữa, tám sao còn lại bay vào 8 cung, cho nên phi tinh của từng cung hàng năm khác nhau, 9 năm một vòng tuần hoàn. Khi 9 sao bay và xếp vào tinh bàn, khí trường thuộc phương vị địa bàn cũng phát sinh biến đổi. Thái tuế thuộc một phương vị nào đó sẽ tuỳ theo sự chuyển động của khí trường mà bay theo quỹ tích “lường thiên xích". Ví dụ năm Giáp Tý Thái tuế địa bàn tại phương Tý, nếu năm đó Nhất Bạch bay vào cung giữa, thì Thái tuế cũng theo Nhất Bạch trực ở cung giữa. Nếu năm đó Nhất bạch bay đến phương Cấn, thì Thái Tuế cũng theo Nhất Bạch bay đến phương Cấn. Nếu năm đó Nhất Bạch bay đến phương Chấn, thì Thái Tuế cũng theo Nhất Bạch bay đến phương Chấn, v.v.. Cứ như thế suy ra, Nhất Bạch bay đến chỗ nào thì Thái tuế bay thẹo đến đó, gọi là Phi Thái Tuế (Thái tuế bay). Cũng lý lẽ như thế, năm ất sửu, Thái Tuế địa bàn tại phương Sửu, Sửu là Bát, Thái Tuế liền bay theo Bát và xếp vào. Năm Bính Dần, Thái Tuế địa bàn tại phương Dần, Dần cũng là Bát, Thái tuế liền bay theo Bát xếp vào. Năm Đinh Mão, Thái tuế địa bàn tại phương Mão, Mão là Tam, Thái tuế liền bay theo Tam và xếp vào. Năm Mậu thìn, Thái tuế địa bàn tại phương Thìn, Thìn là Tứ, Thái tuế liền bay theo Tứ và xếp vào. Cứ như thế mà suy ra. Như vậy, quỹ tích vận hành của Thái tuế sẽ có 2 loại, một loại là Thái tuế địa bàn vận hành theo quỹ tích vòng tròn, một loại nữa là Phi thái tuế vận hành theo quỹ tích “lường thiên xích". Năm mà Ngũ Hoàng Thổ tinh bay vào cung giữa thì Thái tuế địa bàn và Phi thái tuế vừa khéo trùng lên nhau. Xin giới thiệu bảng dưới đây để độc giả tham khảo.

image
image

Ghi chú : Trong bảng chỗ đóng khung vuông là phương vị của Phi thái tuế bay đến chồng lên.

Tam sát

Tam sát lần lượt được gọi là Tuế sát, Kiếp sát, Tai sát, vì nó nằm trên vị trí cách nhau của các Thiên can và Địa chi, hai Thiên can bị kẹp ở giữa cũng có sát khí, gọi là “giáp sát" hoặc “Toạ sát". Tam sát có hai loại là “niên tam sát" (tam sát theo năm) và “nguyệt tam sát" (tam sát theo tháng).

Cái gọi là sát tức là giết (sát hại), là sự tương khắc tương xung rất mạnh của khí hai cung đối nhau, tạo nên sự hung sát. Theo số sinh thành của Tiên thiên Bát quái, Nhất Lục hợp là Thuỷ (nước) nằm tại phương Bắc do đó phương Bắc tụ tập thuỷ khí. Nhị Thất hợp là Hoả, nằm tại phương Nam, do đó phương Nam tụ tập Hoả khí. Tam Bát hợp là Mộc, nằm tại phương Đông, do đó phương Đông tụ tập Mộc khí. Tam Cửu hợp là Kim nằm tại phương Tây, do đó phương Tây tụ tập Kim khí. Ngũ Thập hợp là Thổ, nằm tại trung ương (giữa), do đó trung ương tụ tập Thổ khí. Kim Mộc Thuỷ Hoảå Thổ là năm loại khí. Trên vị trí của các chỗ đối nhau, tính chất tương phản (trái ngược nhau), thông qua tác dụng của Thổ, tương khắc tương xung, hình thành hung sát.

Khí của cung đối nhau tương khắc, thực ra không phải lúc nào cũng đều tương xung (xung nhau) sản sinh hung sát, mà là dựa theo năm tháng khác nhau, đợi khi nó thịnh vượng mới sinh ra.

Mộc khí của phương Đông, năm Mão vượng nhất, năm Mão vừa đúng lúc Thái tuế đến Mão tăng cường Mộc khí làm cho nó thịnh vượng. Mộc có quy luật sinh trường của nó, Mộc sinh tại Hợi, vượng tại Mão, ẩn tại Mùi. Sinh tại Hợi, mộc được sinh khí, lại thêm Thái tuế đến Hợi, cho nên sinh khí rất vượng. Ấn tại Mùi, Mộc được trở về để ẩn, lại thêm Thái tuế đến, cho nên mộ khí rất thịnh. Hợi Mão Mùi hình thành cục Mộc tam hợp, ba nắm này Mộc khí tụ tại phương Mão hình thành dòng Mộc khí mạnh xông thẳng đến Kim khí của Cung đối, Kim Mộc đấu nhau, xung sát rất thịnh, cho nên các năm Hợi Mão Mùi xung sát tại đây.

Thuỷ khí của phương bắc vốn sinh tại Thân, Thuỷ được sinh khí, lại thêm Thái tuế đến Thân, làm cho sinh khí cực vượng. Thuỷ vượng tại Tý, lại thêm Thái tuế đến Tý, làm cho vượng khí càng vượng thêm. Thuỷ ẩn tại Thìn, lại thêm Thái tuế đến Thìn, mộ khí của Thuỷ rất thịnh. Thân Tý Thìn hình thành cục Thuỷ tam hợp. Ba năm này, Thuỷ khí tụ tại phương Bắc hình thành dòng Thuỷ khí mạnh, xung thẳng đến Hoả khí của cung đối, Thuỷ hoả đấu nhau, xung sát rất thịnh, cho nên các năm Thân Tý Thìn hung sát tại Nam.

Kim khí của phương Tây vốn sinh tại Tỵ, lại thêm Thái tuế đến Ty, sinh khí rất thịnh. Kim Vượng tại Dậu, lại thêm Thái tuế đến Dậu, vượng khí càng vượng. Kim ẩn tại Sửu, lại thêm Thái tuế đến sửu, mộ khí của Kim cực thịnh. Tỵ Dậu Sửu hình thành cục Kim tam hợp. Ba năm này, kim khí tụ tại phương Dậu, hình thành dòng Kim khí mạnh, xung thẳng đến Mộc khí của cung đổi, Kim Mộc đấu nhau, xung sát cực thịnh, cho nên các năm Tỵ, Dậu, Sửu hung sát tại Đông.

Hoả khí của phương Nam, vốn sinh tại Dân, lại thêm Thái tuế đến Dần sinh khí cực thịnh. Hoà vượng tại Ngọ, lại thêm Thái tuế đến Ngọ, vượng khí càng vượng. Hoả ẩn tại Tuất, lại thêm Thái tuế đến Tuất, mộ khí của Hoả rất thịnh, Dẫn Ngọ Tuất hình thành cục Hoả tam hợp. Ba năm này, Hoà khí tại tại phương Ngọ hình thành dòng hoả khí mạnh, xung thẳng đến khí Thuỷ của cung đối, Hoả Thuỷ đấu nhau, xung sát rất thịnh, cho nên các năm Dần Ngọ Tuất hung sát tại Bắc.

Một năm có 12 tháng, sát khí chuyển dịch theo tháng, đó là "Nguyệt tam sát". Nguyên lý sản sinh khí sát giống “Niên tam sát". Cụ thể là:

Tháng Thân, Tỉ, Thin (tháng 7, tháng 11, tháng 3) sát tại ba phương Tị Ngọ Mùi (tức phương Nam).

Tháng Dần Ngọ Tuất (tháng 1, tháng 5, tháng 9) sát tại ba phương Hợi Tí Sửu (tức phương Bắc).

Tháng Tị Dậu Sửu (tháng 4, tháng 8, tháng 12) sát tại ba phương Dân Mão Thin (tức phương Đông).

Tháng Hợi Mão Mùi (Tháng 10, tháng 2, tháng 6) sát tại ba phương Thân Dậu Tuất (tức phương Tây).

Thông thường “Niên tam sát", "Nguyệt tam sát" đều không nên toạ sơn lập hướng và sửa chữa xây dựng, để tránh bị khí xung sát tạo thành tai họa. Nếu vì các nhân tố chủ quan hoặc khách quan bức bách, nhất định phải lập hướng sửa chữa xây dựng thì phải nấm chắc tính chất và việc nên hoặc kiêng của Tam sát. Phương thuộc Thái tuế có thể “toạ" mà không thể "hướng"; Phương Tam sát có thể "hướng" không thể "toạ". Hai cái trái ngược nhau. Ví như gặp các 483 năm Thân Ty Thin (tháng Thân Tý Thìn cũng thế), làm nhà ở có thể lấy hướng theo hai trong ba phtương đó, mà tránh phương Thái tuế đến. Nếu Thái tuế đến Thân có thể hướng về 2 phương Tí và Thìn: nếu Thái tuế tại Tí, có thể hướng về 2 phương Thân và Thìn : nếu Thái tuế tại Thin, có thể hướng về 2 phương Thân và Ti, cái đó gọi là có thể "hướng". Vì sao không thể "toạ" ? Bồi vì tai hoạ của phương Tam sát ất phải hướng về cung đổi, bị khí của cung đối xung thầng. tức phạm xung sát, tai họa liền đến. Ví dụ các năm Thân Tý Thìn xây nhà toạ Nam hướng Bắc, hướng cửa nhằm thẳng về phương Bắc. Thuỷ khí mạnh của phương Bắc xông thẳng về phương Nam, vừa vặn xung cửa Bắc, cái đó gọi là “toạ sát" ất sẽ sinh tai hoạ, nhất là người có năm sinh (niên canh) thuộc Hoả.

Ngũ hoàng đại sát

Ngũ hoàng đại sát là khí sát dữ tợn nhất trong sát bàn, còn gọi là Chính quan sát, Mậu Kỷ sát. Trong nguyên đán bàn (Dịa bàn), Ngâũ hoàng đóng ở cung chính giữa, không đủ sát khí.

Nếu bay thuận tám cung, thay thế sao ở giữa vào đóng ở đó thì Ngũ Hoàng ất sẽ đóng tại vị trí cung đối lập với cung của sao bay vào cung giữa, hình thành hai khí đổi lập đổng cung, tương xung tương khắc, hỗn hợp mà thành sát. Nhất bay vào cung giữa, Ngũ thay Nhất đến đóng tại Ly. Thuỷ Hoả xung khắc thành sát ; Nhị vào giữa, Ngũ thay Nhị đến đóng tại Cấn, Thổ khí âm dương xung khắc thành sát ; Tam vào cung giữa. Ngũ thay Tam đến đóng tại Đoài, Kim Mộc xung-khắc thành sát; Tứ vào cung giữa, Ngũ thay Tử đến đóng tại Càn, Kim Mộc xung khắc thành sát ; Lục vào cung giữa, Ngũ thay Lục đến đóng tại Tốn, Kim Mộc xung khắc thành sát ; Thất vào cung giữa, Ngũ thay Thất đến đóng tại Chấn, Kim Mộc xung khắc thành sát ; Bát vào cung giữa, Ngũ thay Bát đến đóng tại Khôn, Thổ khí âm dương xung khắc thành sát ; Cửu vào cung giữa, Ngũ thay Cửu đến đóng tại Khảm. Thuỷ Hoà xung khắc thành sát.

Ngũ Hoàng nếu bay ngược tám cung, thay thế sao vào cung giữa bay đến đón ở cung nào đó sẽ hình thành khí Phục ngầm. Phạm Phục ngâm là xãu (hung), cho nên Ngũ Hoàng là hung sát của Phục ngâm. Nhất vào cung giữa bay ngược, Ngũ thay Nhất đến đóng tại. Khảm. Ngũ và Khảm là Phục ngâm thành sát ; Nhị vào cung giữa bay ngược, Ngôa thay Nhị đến đóng tại Khôn, Ngũ và Khôn là Phục ngâm thành sát ; Tam vào cung giữa bay ngược, Ngũ thay Tam đến đóng tại Chấn. Ngũ và Chấn là Phục ngâm thành sát ; Tử vào cung  giữa bay ngược, Ngũ thay Tử đến đóng tại Tốn, Ngôũ và Tốn là Phục ngâm thành sát ; Lục vào cung giữa bay ngược, Ngũ thay Lục đến đóng tại Càn. Ngũ và Càn là Phục ngâm thành sát ; Thất vào cung giữa bay ngược, Ngũ thay Thất đến đóng tại Đoài, Ngũ và Doài là Phục ngâm thành sát ; Bát vào cung giữa bay ngược, Ngâũ thay Bát đến đóng tại Cấn. Ngũ và Cấn là Phục ngâm thành sát ; Cửu vào cung giữa bay ngược, Ngũ thay Cửu đến đóng tại Ly. Ngũ và Ly là Phục ngâm thành sát.

Tóm lại, trên vận bàn bất kể sao nào vào cung giữa bay thuận hay bay ngược, Ngâũ Hoàng đều trở thành khí hung sát. Nếu bay thuận thì trở thành sát khí tương xung tương khắc ; nếu bay ngược thì thành sát khí của Phục Ngâm. Đó là nguyên nhân Ngû Hoàng trở thành đại sát khí.

Ngũ là Mậu Kỷ Thổ, là tôn nghiêm nhất, lớn nhất, cao nhất, là Thổ hoàng cực, khí thế thịnh nhất, một khi trở thành sát ất sẽ nguy hại nhất, bất kể nó là khắc hoặc nó là xung, nhất loạt đều là hoạ.

Toạ sơn lập hướng, ngoài vận 5 ra, các vận khác đều có Ngâũ Hoàng đáo sơn hoặc đáo hướng. Nếu Ngũ hoàng là hướng tinh gặp sao dương vào giữa bay thuận thì toàn bàn hướng tỉnh đều là Phục ngâm, dùng nó sẽ xấu (hung); nếu gặp sao âm vào giữa bay ngược, toàn bàn hướng tinh đều là Phản ngâm. Hướng tỉnh âm bay ngược át sẽ là vượng tinh đáo hướng, hơn nữa toàn bàn và địa bàn “hợp thành 10", vì vậy tuy là Phản ngâm nhưng đó lại là lúc ngày càng thêm vượng. Nếu Ngũ hoàng là sơn tỉnh, gặp sao dương vào cung giữa bay thuận, toàn bàn sơn tinh đều là Phục ngâm, dùng nó thì xấu ; nếu gặp sao âm vào cung giữa bay ngược, toàn bàn sơn tỉnh đều là Phản ngâm, sơn tinh âm bay ngược át sẽ là vượng tinh đáo sơn, hơn nữa toàn bàn “hợp thành 10", vì vậy tuy là Phản ngâm nhưng đó lại là lúc ngày càng thêm vượng. Từ đó ta biết được Ngũ Hoàng nếu gặp sao âm vào giữa bay ngược khiến cho vượng tinh đáo hướng thì Ngâũ Hoàng này là Hoàng cực đóng tại chính vị, là lớn nhất, tôn nghiêm nhất, có công dụng "gặp tù mà không từ" (nhưng ngoài vượng hướng ra, cần phải có thuỷ), không phải là các Ngũ hoàng khác có thể so sánh được.

Ngũ Hoàng nếu trong vận 5, được cục "vượng sơn vượng huớng". đó cũng là cục đại cát (rất tốt), mà Địa vận không thể nhập tù. Ngũ Hoàng nếu là khách tinh lưu niên, các nơi nó đến đều mang đến tượng xấu (hung tướng). Nếu gặp Thái tuế cùng đến ắt sẽ phát sinh tai nạn lớn. Dù cho không có Thái tuế cùng đến, cũng vẫn sinh ra tai họa. Ngũ Hoàng gặp Tam Thất là Quan sát cộng thêm Xuyên tâm sát, không trở thành thổ phỉ thì là trộm cấp hoặc tứ chi bị trọng thương. Ngũ Hoàng gặp Tam Nhị là Quan sát cộng thêm “Đấu sát", không phải gia đình đấu đá nhau lộn xộn thì người mẹ bị chết đột ngột. Ngũ Hoàng gặp Lục Thất là Quan sát lại gặp thêm Kiếm sát. không tranh quyền đoạt lợi thì cũng bị kiện cáo đến tận kinh đô. Ngũ Hoàng đặt vào chỗ Nhị Ngô là ốm đau đến chết. Ngũ Hoàng đặt vào chỗ Thất Cửu là Ngũ Hoàng đến. đều xảy ra tai nạn, tổn hại cả đinh lẫn tài. gặp bệnh máu trắng cấp tính. Tóm lại, các chỗ mà Ngũ Hoàng đến, đều xảy ra tai nạn, tổn hại cả đinh lẫn tài.

Các loại bàn sát khác

Do "Sơn phi tinh" và "Hướng phi tinh" gặp nhau, ngoài việc tạo được các tổ hợp tốt ra, như Nhất Lục. Nhất Tứ, Lục Bát, v.v., còn có các tổ hợp xấu khác. Tổ hợp xấu chính là bàn sát.

Tam Nhị, Tam Bát là “đấu ngưu sát". Tam ví như chàng Sĩ Vưu ham đấu, Nhị và Bát là trâu là chó, hai sao gặp nhau là Sĩ Vưu đấu với trâu hoang dã, đấu đá nhau tất sinh ra sát khí, cho nên gọi là "đấu ngưu sát". Những phương vị mà hai sao này cùng đến sẽ xuất hiện hiện tượng trong gia đình xích mích lẫn nhau, vợ chồng tức khí, quan lính bất hoà, chủ tớ gầm ghè nhau, nếu gặp vượng tinh bay đến thì tranh đấu với nhau càng dữ dội ; nếu gặp Thái tuế bay đến, đấu tranh với nhau càng gay gắt hơn ; nếu gặp Hoàng Hắc bay đến, đấu nhau bị tổn thương.

Tam Thất là “Xuyên tâm sát". Tam là Sĩ Vưu, là tên phỉ cướp. Thất là đao kiếm, hai sao gặp nhau là giết sạch phi cướp. Nếu hai sao này cùng đến một phương vị thì sẽ xuất hiện các hiện ượng như vợ chồng tranh cải nhau, tranh đấu ở chốn quan trường, của cải bị cướp, con trai làm giặc, nhập bọn với trộm cướp, hỗn chiến nơi sa trường. Nếu gặp vượng tinh bay đến hành vi càng dữ dỗi ; hoặc gặp Thái tuế bay đến dễ gặp bệnh máu trắng cấp tính.

Lục Thất là “Giao kiếm sát". Lục là mã (ngựa) là thương (ngọn giáo), Thất là đao là kiếm, hai sao gặp nhau là so đao đọ kiếm, hai kẻ ạnh đánh nhau. Nếu hai sao này cùng đến hiện các hiện tượng như trai mạnh gái dũng đấu nhau, tranh nhau quyền lực, đấu khẩu với nhau.

Ám kiến sát. Thái tuế đến cung nào, nó sẽ biểu hiện theo khí của cung đó. Khí của Thái tuế toả ra 8 phương gọi là Ám kiến sát hoặc gọi là “Nguyệt phi Thái tuể", thần sát này dùng vào tháng, theo sự thay đổi của “Nguyệt phi tinh" mà bay đến các phương. Ví dụ vận 4, năm Giáp Tý ở Địa bàn Thái tuế tại Tý, Thái tuế phi tinh tại Khôn, Khôn là Nhị, Nhị tức là Phi Thái tuế. Tháng giêng Bát vào cung giữa, Ám kiến tại Cấn ; tháng hai Thất vào cung giữa, Ám kiến tại Ly ; tháng ba Lục vào cung giữa, Ám kiến tại Khảm ; tháng tư Ngũ vào cung giữa, Ám kiến tại Khôn ; tháng năm Tứ vào cúng giữa, Ám kiến tại Tốn ; tháng bảy Nhị vào cung giữa, không có Ám kiến ; tháng tám Nhất vào cung giữa, Ám kiến tại Càn ; tháng chín Cửu vào cung giữa, Ám kiến tại Đoài. Thường phương mà Ám kiến đến, trong tháng đó nên tránh sửa chữa hoặc xây dựng để tránh gặp điều xấu.

Ngoài các thần sát nêu trên, do trường khí biến đổi khác nhau, còn có các thần sát khác. Nói cho cùng là khi bất lợi, nằm ở phương vị bất lợi chính là thần sát, chính là sát khí. Không phải là có thẩn quỷ được nhân cách hoá đang thao túng chi phối. Tất cả mọi thần sát đều có thể khác nhau tuỳ theo từng người, từng phương vị, chẳng qua là do tính chất của khí và sự biến đổi của nó khác nhau mà thôi.