V. DÙNG QUẺ THAY BẰNG CÁCH SẮP XẾP SAO

Vì hình thế tự nhiên phức tạp , nên mạch núi và dòng sông không thể chạy tự do theo bát phương chính hướng , mà thường lệch sang phải , sang trái hoặc có lúc ẩn chìm đi . Trong trường hợp này phải dùng đến quẻ thay kiêm hướng mới có thể tìm được khí hợp lý . Gọi là quẻ thay tức là 2 sao sơn và hướng phải dùng những sao khác để thay thế sao nhập vào giữa , từ đó hình thành những tượng quẻ khác nhau khi lập quẻ . Ví dụ thế của sơn long là sơn tí hướng ngọ , nhưng hơi lệch phải sang hướng quý . Khi độ lệch đạt đến một mức nào đó lớn hơn 3 độ ) thì gọi là sơn tí hướng ngọ kiêm quý Đinh . Nếu lệch về bên trái sang hướng nhâm đến mức độ nào đó thì gọi là sơn tí hướng ngọ kiêm nhâm bính . Những Sơn và hướng khác cũng hiểu theo cách tương tự .

Vì sao kiêm hướng thì phải dùng quẻ thay ? Vì kiêm hướng có 3 trường hợp . Thứ nhất là kiêm hướng đồng tính . Thiên nguyên long và nhân nguyên long cùng thuộc tính dương hoặc cùng thuộc tính âm , có thể kiêm dùng . Tí quý , mão ất , ngọ đinh , dậu tân cùng thuộc tính âm nên 2 quẻ kiêm cùng tính âm . Cấn dần , tốn tị , khôn thân , càn hơi cùng thuộc tính dương nên hai quẻ kiêm cùng tính dương .

Thứ hai là tương kiêm khác tính . Thiên nguyên long và địa nguyên long là âm dương tương kiêm . Tí và nhâm , cấn và sửu , mão và giáp , tốn và thìn , ngọ và bính , khôn và mùi , dậu và canh , càn và tuất là 1 âm 1 dương , kiêm dùng với nhau .

Thứ ba , tương kiêm quẻ xuất . Quả khảm và quẻ càn là quý sửu tương kiêm , quả cấn và quẻ chấn là dần giáp tương kiêm , quẻ chấn và quẻ tốn là ất thìn tương kiếm , quả tốn và quẻ ly là tị bính tương kiêm , quẻ ly và quẻ khôn là đinh mùi tương kiêm , quả khôn và quẻ đoài là thân canh tương kiêm , quẻ đoài và quẻ càn là tân tuất tương kiêm , quẻ càn và quẻ Khảm là hợi nhâm tương kiêm . Ngược lại , khảm và càn , càn và đoài , đoài và khôn , khốn và ly , ly và tốn , tốn và chấn , chấn và cấn , cấn và khảm cũng là tương kiêm , là xuất quẻ tương kiêm . Đã là tương kiêm thì khí quẻ không thuần , khí quẻ hỗn tạp , tạo thành tạp khí hỗn loạn , chuốc lấy hung sát . Cho nên phải dùng phương pháp quẻ thay để điều chỉnh tạp khí , tránh được hung sát .

Nếu hướng của sông núi phù hợp với chính hướng , nhưng không thể tìm được vượng sơn vượng hướng mà chỉ tìm được thượng sơn hạ thuỷ , như thế gọi là địa hình tuy đẹp nhưng không có lợi cho mình , Nếu vẫn bắt buộc phải dùng thì cần dùng quẻ thay kiêm hướng để tìm được sơn và hướng thích hợp với thời vận .

Nếu chính hướng không tìm được vượng sơn vượng hướng , nhưng có thành môn có thể chọn thì dùng quẻ thay kiêm hướng khiến cho vượng tinh đáo thành môn để thu hút được khí tốt của sông núi , đó cũng là cách dùng quẻ thay để lựa chọn .

Dưới đây nêu 2 ví dụ để làm sáng tỏ .

Ví dụ 1. Vận 4 , sơn quý hướng đinh .

Chính hướng là cục thuỷ thần thượng sơn .

Sau khi dùng quẻ thay kiêm hướng biến thành vượng sơn vượng hướng .

image
image

Ví dụ 2. Vận 5 , sơn bính hướng nhâm .

Chính hướng là cục thượng sơn hạ thuỷ .

Sau khi kiêm hướng thay thế , phương sửu được vượng tinh Ngũ đáo .

Phương Sửu là thành môn của hướng nhâm .

image
image

Sau khi dùng quẻ thay kiêm hướng thì sơn tinh đương vượng Ngũ đáo phương giáp . Nếu ở phương này có núi đẹp thì sẽ vượng đinh . Hướng tinh đương vượng Ngũ đáo phương sửu Phương này là thành môn . Nếu ở phương này có sông nước , ao hồ lớn thì gia tài đại phát .

Phép quẻ thay kiêm hướng từ tác phẩm “ Thanh nang áo ngữ của Dương Quân Tùng đời nhà Đường đã tiết lộ , nhưng chỉ có 4 câu . Đó là:

Khôn nhâm ất , Cự môn từ đầu xuất .

Cần bính tân , ngôi ngôi là Phá quân .

Tốn thìn hợi đều là Vũ khúc .

Giáp quý thân cùng là Tham Lang .

Bốn câu này chỉ nhắc đến 12 sơn , còn khoảng một nửa chưa nhắc đến và chỉ truyền khẩu cho hậu thế . Người nào được truyền đều tự cho là gia bảo , giấu giếm không công khai , khiến cho người đời sau không thể nào hiểu nổi . Mãi đến cuối đời Minh đầu đời Thanh , sau khi Khương Nghiêu trả cho Tường Đại Hồng 2000 lạng bạc để Tường Đại Hồng mai táng bố , mới được Tường Đại Hồng chân truyền , Nhưng Khương Nghiêu cũng không công khai mà chỉ vô tình nhắc đến trong tác phẩm “ Tòng sự tuỳ bút ” của mình , nên người đời sau đọc nhưng không dùng được . Đến thời cận đại có người tên là Vu Khải biên soạn cuốn “ Địa lý lục yếu ” giải thích thuật phong thuỷ của Âu Dương Thuần . Âu Dương Thuần đem 24 chữ của quẻ thay kiêm hướng cộng thêm tiết lộ bài khẩu quyết và các hình vẽ , nhưng cũng không hề giải thích khiến cho độc giả vẫn không hiểu được.

Bài khẩu quyết đó có 28 câu phù hợp với bài khẩu quyết 28 câu trong tác phẩm “ Tòng sự tuỳ bút ” của Khương Nghiêu . Nhưng vì sao người đời sau khi đọc đến vẫn không hiểu được ? Nguyên nhân chủ yếu là vì người đời chưa hiểu được phép sắp xếp sao . Không hiểu được cách lập quẻ sắp xếp sao thì làm sao hiểu được quẻ thay kiêm hướng .

Quẻ thay kiêm hướng còn gọi là chọn sao , nó khác với phương pháp lập quẻ . Lập quẻ là dùng cách sắp xếp sao để lập chính hướng , còn chọn sao là dùng cách sắp xếp sao để lập kiêm hướng . Cách sắp xếp sao giống nhau , nhưng hai sao Sơn và hướng phải dùng sao thay thế . Sau khi sắp xếp được vận bàn , thì phải dùng sao gì để thay thế hai sao Sơn và hướng ? Căn cứ khẩu quyết mà Khương Nghiêu được truyền , ta được :

Bốn sơn : tí quý giáp thân , dùng sao Tham Lang ( 1 Nhất ) thay thế .

Năm sơn : nhâm mão ất mùi khôn , dùng Cự môn (2 Nhị ) thay thế 287

Sáu sơn : tuất càn hợi thìn tốn ti , dùng Vũ khúc ( 6Lục ) thay thế

Năm sơn : tân dậu sứu cán bính , dùng Phá quân ( 7 Thất ) thay thế .

Bốn sơn : ngọ đình dân canh , dùng Hữu bật ( 9 Cửu ) thay thế .

Như vậy 24 sơn , sơn nào cũng đều có sao thay thế . Nhưng đối chiếu kỹ thì có 11 sơn không cần thay thế . Đó là : tí , quí , mùi , khôn , tuất , càn , hợi , tân , dậu , ngọ , đinh . Còn số sơn cần thay thế chỉ có 13 Sơn . Như vậy số sơn và hướng cần thay thế đã đơn giản đi rất nhiều . Cụ thể như sau :

Giáp Tam , thân Nhị dùng Nhất thay thế .

Nhâm Nhất , mão Tam , ất Tam dùng Nhị thay thế .

Thìn Tứ , tốn Tứ , tị Tứ , dùng Lục thay thế .

Sửu Bát , cấn Bát , bính Cửu , dùng Thất thay thế .

Dần Bát , canh Thất , dùng Thất thay thế .

Dưới đây nói rõ các vấn đề có liên quan với quẻ thay kiêm hướng .

Muốn dùng quẻ thay thế , phải lệch từ 3 độ trở lên . Mỗi tọa sơn hay lập hướng chỉ chiếm 15 độ . Nếu dùng đường trung tuyến chia đôi thì mỗi nửa của sơn hay hướng chỉ chiếm 7,5 độ . Khi lệch hướng nhỏ hơn 3 độ thì không cần thay thế . Khi độ lệch lớn hơn 3 độ tạp khí rất nhiều , nên phải thay thế mới điều chỉnh được khí quẻ .

Quẻ thay thế có 3 trường hợp . Một loại là thay Sơn tinh , loại khác là thay hướng tinh , loại thứ ba là thay cả sơn tinh và hướng tinh . Đại để về hướng có thể tìm được sao thay thế thì thay hướng . nếu không tìm được sao thay thế thì thay sơn tinh . Đối với trường hợp sơn và hướng tinh đều tìm được sao thay thế thì thay cả hai . Tìm sao thay thế trọng tâm là ở hướng tinh .

Có một số sơn và hướng tuy lệch nhưng khi lập hướng , hai sao Sơn và hướng đều không tìm được sao thay thế , vẫn dùng hai sao Sơn và hướng cũ lần lượt nhập vào giữa , tuy được vượng Sơn vượng hướng , nhưng không xem là vượng sơn vượng hướng . Vì nếu dựa vào long mạch của kiêm hướng để lập kiêm hướng , tất sẽ phạm phải âm dương sai lệch , hoặc phạm quẻ xuất hướng .

Ví dụ . Vận 4 , sơn canh hướng giáp kiêm dậu mão .

image

Nếu chính hướng là vượng sơn vượng hướng , nay kiêm dậu mão , hướng tinh giáp là Nhị , theo khẩu quyết thay quẻ thì Nhị tức là mùi , mùi là Cự môn 2 , vẫn là Nhị nhập giữa , nên không gọi là thay thế . Sơn tinh canh là Lục , Lục tức là tuất , tuất là Vũ khúc Lục , vẫn là Lục nhập giữa nên cũng không gọi là thay thế . Hiện nay không lập chính hướng mà lập kiêm hướng thì phạm âm dương sai lệch , không thể xem là vượng sơn vượng hướng . Nếu gặp trường hợp này chỉ có thể dùng biện pháp lập chính hướng để xử lý . Nếu sơn canh hướng giáp không kiêm dậu mão mà kiêm thân , dần thì đó là kiêm quẻ xuất , cũng xử lý theo pháp lập hướng chính . Nếu hình cục chưa chuẩn , lại không thể chỉnh dời thì phải dùng phương pháp lập quẻ nội ngoại để xử lý , tức là nội thì lập quẻ thuần nhất , thanh khiết , chính hướng , ngoại thì lập quẻ kiêm hướng để thoả mãn hình cục .

Dùng quẻ thay kiêm hướng sẽ xuất hiện trường hợp vô cùng đặc biệt , đó là 8 quẻ thuần . Loại quẻ này phi tinh của Sơn và hướng chữ nào cũng giống nhau , không biến đổi , thuộc quẻ đại hung . Đó là 216 cục không có . Quẻ này cũng gọi là phạm quẻ phản phục ngâm . 8 quẻ thuần trong 216 cục , chỉ có 6 cục , tất cả đều phát sinh ở 2 cung cấn tốn của vận 5. Đặc điểm của 8 quẻ thuần là còn gặp càn , tốn gặp tốn , cấn gặp cấn , khôn gặp khôn , vv . , Sơn tinh và hướng tinh đều cùng một chữ .

image

Hình quẻ thay kiêm hướng 24 sơn phối với cửu tinh.