IV. LƯỢC ĐOÁN PHI TINH

Sau khi xác định bàn cục thì phải đưa ra sự phán đoán tốt, xấu của bàn cục hợp với Dịch lý, cách phán đoàn này bao gồm quan hệ và nội dung của ba mặt. Một là, quan hệ của việc phán đoán thời vận và phán đoán Ngũ hành. Hai là, quan hệ của việc phán đoán môi trường với phán đoán lý của bàn. Ba là quan hệ của hai phi tinh sơn và hướng.

Phương pháp của Huyền không học nhấn mạnh vào sự phán đoán của thời vận, nên đặt sự phán đoán về Ngũ hành sinh khắc vào thứ yếu. Việc phán đoán thời vận phân thành hai mặt là : đắc thời và thất thời (mất thời và lỡ thời). Một sao nào đó đương vận, nó sinh cho ta là tốt, khắc ta không tốt. Được vượng tinh sinh cho đương nhiên là tốt, nhưng bị vượng tinh khắc, chứng tỏ khí thuộc ta là khí suy, khí vượng khắc khí suy, đương nhiên là không tốt. Ví dụ vận 7: Lập sơn Mão hướng Dậu, hai phi tinh của hướng là Tam Thất, Tam là sơn tinh, Thất là hướng tinh, quan hệ của hai sao là Thất xích kim khắc Tam bích mộc. Thất là khí vượng, Tam là khí suy tử. Khí vượng khắc khí suy tất nhiên là tốt. Ngược lại sao sinh ta là sao suy thì ta tất là xấu (hung) ; sao khắc ta là sao suy, ta tất càng xấu (hung). Cho nên việc hung cát vượng suy của trạch mệnh là lấy tình hình sao nhập vào cung giữa đáo sơn đáo hướng để chuyển dịch. Nếu được sơn vượng hướng vượng, toàn trạch đều vượng ; nếu gặp “thượng sơn hạ thuỷ", toàn trạch đều suy. Phương pháp phán đoán lấy “đắc thời" (được thời) và thất thời (lỡ thời) làm chuẩn mực là một đặc trưng lớn của Huyền không phong thuỷ học, còn phán đoán theo Ngũ hành sinh khắc là sự vận dụng dưới tiền đề “đắc thời" và “lỡ thời".

Phương pháp của Huyền không học là đem môi trường sơn thuỷ (núi sông) kết hợp với lý của bàn để tiến hành phán đoán. Môi trường sơn thuỷ là cơ sở của việc phán đoán. Còn phán đoán theo nguyên lý của bàn là căn cứ logic Dịch lý để chứng minh. Môi trường sông núi đẹp, chứng minh theo lý của bàn là vượng sơn vượng hướng sẽ là nơi lý tưởng để xây dựng nhà ở. Môi trường sông núi thiếu, kém, dù rằng chứng minh theo lý của bàn là vượng sơn vượng hướng, hoặc Phản ngâm Phục ngâm, hoặc kị tuyến vượt khỏi quẻ (xuất quái kị tuyến), hoặc gặp thời (giờ) niên (năm) hung sát (xấu) thì phải dựa vào hoàn cảnh núi sông điều chỉnh tượng quẻ, hoặc chính hướng và kiêm hướng, hoặc chọn thành môn, hoặc “toạ mãn triều không", hoặc “toạ không triều mãn", hoặc chờ thời cơ mà dùng, thậm chí vứt bỏ không dùng. Cái gọi là thu sơn thoát sát, hai cung thành môn, tất cả đều dùng trạng thái của môi trường để quyết định chọn hoặc bỏ. Trên hành vi, có thể dựa môi trường mà định quẻ trên bàn, chọn đề tài tại chỗ, chọn địa điểm ở chỗ gần nhất, sau đó dựa theo lý của bàn mà điều chỉnh lại. Ở thành phố hiện đại, "tấc đất ngàn vàng", khiến bạn không thể tuỳ ý chọn, đành phải gượng sử dụng, dựa theo nguyên lý của bàn để điều chỉnh cho hợp lý. Cũng có thể dựa theo nguyên lý của bàn để đi tìm môi trường hợp với yêu cầu, phải đặt chân lên "trám núi ngàn sông", đi tìm nơi lý tưởng, việc này ở vùng đất rộng, người thưa là có thể làm được. Nhưng cơ hội này trong xã hội hiện đại hoặc nơi dân cư động đúc là rất hiếm có. Hoàn cảnh sông núi, ngoài việc bố cục có thể làm căn cứ phán đoán cát hung ra, các hình thái của vật thực cũng có thể làm căn cứ để phán đoán. Cái gọi là "sáu việc bên ngoài" của phong thuỷ chính là chỉ hình thái của vật thực, hình dạng của núi, sự uốn lượn của sông, sự cong thẳng của đường , sự

si thẳng

ng nghiêng của cây cối, sự cao thấp của các cầu, việc chạy theo hướng hay ngược hướng của “sa", sự lởm chởm hoặc dựng đứng của vách đá, sự trong đục của nước đầm hồ ao, màu sắc của chùa chiền, vị trí của tháp, sự lớn nhỏ của hang động, việc tụ tán của gió, v.v., đều là căn cứ khách quan để phán đoán.

Untitled

May 2022
Today
Sun
Mon
Tue
Wed
Thu
Fri
Sat
24
25
26
27
28
29
30
May 1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
Jun 1
2
3
4

Sau khi xác định rõ hai quan hệ trên, dưới đây sẽ tập trung bàn về quan hệ của hai phi tinh sơn và hướng.

Sau khi tinh bàn của tám cung hình thành, sẽ có ba mối quan hệ giữa địa bàn, vận bàn và phi tinh bàn. Xét theo quan hệ của địa bàn và vận bàn thì địa bàn là chủ, vận bàn là khách. Xét theo quan hệ của vận bàn và phi tinh bàn thì vận bàn là chủ, phi tinh bàn là khách. Xét theo quan hệ của phi tinh toạ sơn lập hướng với phi tinh của 6 cung còn lại thì phi tinh của hai phương sơn và hướng là chủ, phi tinh của 6 cung còn lại là thứ yếu. Xét theo quan hệ của phi tinh của tọa và phi tinh của hướng thì phi tinh của hướng là chủ, phi tinh của toạ là thứ. Xét theo quan hệ của sơn phi tinh và hướng phi tinh, trên hướng sẽ lấy phi tinh của hướng là chủ, trên toạ lấy phi tinh của sơn (sơn phi tinh) là chủ. Nói đến cùng, xét cả tinh bàn, mấu chốt là phi tinh của hướng (hướng phi tinh). Hướng phi tinh là vượng tinh thì toàn bàn đều vượng ; hướng phi tinh là suy thì toàn bàn đều suy. Hướng phi tinh thao túng quyền bính của trạch vận, chủ quản hoạ phúc của một trạch. Đây lại là một đặc trưng lớn nữa của Huyền không phong thuỷ học.

Xét đoán quan hệ của hướng phi tinh và sơn phi tinh như thế nào ?

Nhất Bạch thuỷ tinh Nhất Bạch là sao Tham lang, hiệu Văn xương, là quan tinh, là tử tinh (con), là cát tinh. Nếu nó đương vượng, bên ngoài cũng có ánh nước phản chiếu, là thời trẻ có đỗ đạt, danh lừng bốn bể, sinh con trai trí tuệ thông minh. Khi nó là suy và tử thì hại vợ, chết yểu, phiêu đãng, mắc bệnh, chảy máu, thận hư, là kẻ nghiện ngập và trộm cướp.

Nhất Nhất ngang hoà. Khi nó vượng có lợi cho tài văn chưng, lợi về văn chức. Khi nó suy, có nguy cơ bị bệnh về máu, nguy cơ nghiện ngập và tửu sắc.

Nhất Nhị khắc nhập. Khi nó vượng, mẹ mắc bệnh đau dạ dày và đường ruột. Khi nó suy, chồng bị vợ nhục mạ, vợ nắm quyền hành, người nhà dễ mắc bệnh về thận và hệ tiết niệu

Nhất Tam sinh xuất. Khi nó vượng, con trưởng được danh giá quyền quý hoặc có lợi cho người thuộc mệnh Tam mộc, phát định và tài lớn. Khi nó suy, con cháu ngành trưởng lụn bại hoặc có nỗi khổ bị kiện cáo hay tù tội, hoặc trong nhà bị mất trộm cướp, hoặc có bệnh về gan, chân, hoặc bị ép di chuyển đi nơi khác.

Nhất Tứ sinh xuất. Khi nó vượng. nổi tiếng trong khoa củ, đường quan vận thuận lợi, ra ngoài gặp cái hay của văn chương, sẽ được nêu tên chốn khoa trường.

Khi nó suy, tuy cũng đỗ đạt, nhưng sang mà không giầu, hoặc vì sang mà sinh ra quan hệ nam nữ bất chính. Nếu bên ngoài có vật hình thổ thì đường văn chương hư bại, hoặc vợ vô sinh, hoặc con cái chết yểu.

Nhất Ngũ khắc nhập. Khi nó vượng thì được cả tài (của cải) cả quý (sang trọng về chức tước). Khi nó suy, nhẹ thì nữ mắc bệnh đường sinh dục, nặng thì thận và lưng bị suy kiệt, ngộ độc thức ăn, con thứ chết yểu.

Nhất Lục sinh nhập. Khi nó vượng thì được hưởng từ bẩm sinh, phát giầu sang lớn, có thể mở đầu sự nghiệp văn chương tám đời, nếu sơn càn được thuỷ (có nước thì sẽ có ứng nghiệm này). Khi nó suy, Thuỷ kim đều lạnh ngắt, dễ mắc bệnh về đầu, hoặc xương hoặc bị thương vì kim loại.

Nhất Thất sinh nhập. Khi nó vượng, có vận đào hoa, dễ kiếm được của cải. Khi nó suy, Kim thuỷ đa tình, đam mê tửu sắc, hoặc vì tửu sắc mà bị tù đầy, hoặc vì tranh chấp phải trái mà thù hằn đâm chém nhau, hoặc sa vào trai gái mà bị bệnh giang mai.

Nhất Bát khắc nhập. Khi nó vượng, trẻ nhỏ có hiểm hoạ chết đuổi, trong nhà có người tài về viết lách. Khi nó suy, vợ bị vô sinh, có bệnh về tai, bệnh thiếu máu, hoặc có con bị chết non.

Nhất Cửu khắc xuất. Khi nó vượng, thuỷ hoả đều có đủ, có lợi lớn về tiền tài, nhân khẩu thịnh vượng. Khi nó suy, dễ mắc bệnh thấp tim, vợ chồng bất hoà, anh em bất hoà.

Nhị Hắc Thổ tinh

Nhị hắc là sao Cự Môn, hiệu là Bệnh phù. Khi nó vượng, điền trang giầu có, nhân khẩu hưng vượng, lại phát quý về võ. Khi nó suy, tử thì vợ đoạt quyền chồng, thâm hiểm, keo kiệt, khó sinh đẻ, có

bệnh về bụng, là kẻ tính toán nhỏ nhen, trong nhà phát sinh bệnh tật liên miên.

Nhị Nhất khắc xuất. Khi nó vượng, giầu có về điền sản, gia cảnh hưng vượng, nhân khẩu đông, mẹ mạnh khoẻ sống lâu. Khi nó suy, vợ khắc chồng, đàn ông mất ở tuổi trung niên, quả phụ làm chủ gia đình, phần nhiều mắc bệnh dạ dày, đường ruột, hay bệnh thận.

Nhị Nhị ngang hoà. Khi nó vượng, ruộng đất nhiều và giàu có, có quyền và lợi về chức võ. Khi nó suy, ham mê nữ sắc, dâm đãng, khí đan điền suy yếu, mẹ già nhiều bệnh tật, trong nhà thường xảy ra chuyện xấu. Ra ngoài phần nhiều gặp tiểu nhân ngầm hại.

Nhị Tam khắc nhập. Khi nó vượng, vợ nắm quyền, gia tài tích tụ bất chính, chỉ có điều là con trưởng không ra gì. Khi nó suy, đàn ông dâm đăng làm tan nát gia đình, đàn bà mắc bệnh khó tiêu hoá. Nhị Tam là “đấu ngưu sát", biểu hiện vợ chồng bất hoà, vợ chồng dối nhau. Người trong nhà chỉ ham ăn chơi, ruộng vườn bỏ hoang hoá, có dấu hiệu xuất hiện kẻ trộm gà trộm chó.

Nhị Tứ khắc nhập. Khi nó vượng, con dâu nắm quyền, gia đình hưng vượng, nhiều đinh. Khi nó suy, chị dâu ức hiếp em chồng, nam giới hiếu sắc, ngoại tình. Mẹ già cô đơn đáng thương, hoặc xuất gia làm ni sư. Người trong nhà dễ mắc bệnh đau dạ dày, đường ruột, bệnh đau cánh tay. Cảnh nhà cửa vắng lặng buồn tênh, ra ngoài thường có những việc tai tiếng quấy rẩy, mắc bệnh thương hàn.

Nhị Ngũ ngang hoà. Khi nó vượng, dễ dàng tạo dựng nghề nghiệp, tài vận tốt, nhất là làm nghề địa sản thì rất hưng thịnh. Khi nó suy, trăm bệnh sinh ra, vợ bệnh nặng, dễ thành người goá vợ. Đặc biệt dễ bị bệnh đau dạ dày, đường ruột mãn tính.

Nhị lục sinh xuất. Khi nó vượng, trời đất đến lúc bình yên, con cái thuận hoà, gia nghiệp hưng thịnh, trở thành gia đình hành nghề y cứu thiên hạ, hoặc trở thành người có quyền hành trong nghề võ. Khi nó suy, thì cha già lắm bệnh, trong nhà có người đi tu, cha con thành thù oán, chủ khách tranh chấp, gặp việc tai tiếng. phiền phức, người nhà thường có bệnh đau đầu hay bệnh thần kinh. Nhị Thất sinh xuất. Khi nó vượng trở thành cự phú bằng tiền của bất chính, sinh nhiều con gái. Khi nó suy, mẹ và con gái thường hay cãi nhau, vợ kế không hiền thảo.

Nhị Thất là Hoả bẩm sinh dễ có hoả tai hoặc bị bệnh máu trắng cấp tính. Người trong nhà thường

mắc bệnh kiết lỵ, đàn ông thường hay bị phụ nữ quấy rẩy, hoặc vì tranh chấp phải trái mà bị đâm chém.

Nhị Bát ngang hoà. Khi nó vượng, ruộng đất liền bờ, điền sản giầu có. Khi nó suy, thường hay có bệnh nhẹ. Đàn bà thường bỏ nhà đi làm ni cô.

Nhị Cửu sinh nhập. Khi nó vượng, văn chương toả sáng, đất đai và tiền tài tích tụ lớn. Khi nó suy, việc đen tối ập đến, nam nữ dâm đãng, tiền của đội nón ra đi, hơn thể còn sinh ra người chồng ngu đần. Hoả nóng Thổ (đất) khô, dễ sinh ra bệnh máu trắng cấp tính. Khí âm quá nặng, đời sẽ có quả phụ. Thổ tổn thương mắt, đời ắt có người mù loà.

Tam bích mộc tinh

Tam mộc là sao Lộc tồn, vì tính ngổ ngáo thích đấu đá của nó, cho nên gọi là Man Vưu. Khi nó vượng tài lộc đầy đủ, chấn hưng gia đình, sáng lập cơ nghiệp, được tiến cử làm giám thị sẽ nổi tiếng. Con cái ngành trưởng sẽ hưng vượng lớn. Khi nó suy tủ, bị điên hoặc hen suyễn, chân tàn tật, sát vợ, bị kiện tụng hoặc trở thành trộm cắp.

Tam Nhất sinh nhập. Khi nó vượng, con trưởng được quyền quý, phát định, phát tài lớn, thi cử đỗ đạt. Khi nó suy, con cháu ngành trưởng lụn bại, tính khí ngổ ngáo, hoặc vì đánh đấm nhau mà gây nên tù tội. Hoặc vì bất hoà với xóm giềng lân cận mà phải dọn nhà đi xa. Vận thế phần nhiều không thuận lợi, hay gặp đen đủi, hơn nữa còn dễ bị thương tay chân.

Tam Nhị khắc xuất. Khi nó vượng, được giầu có về điền trang địa sản, con trưởng phát đỉnh phát tài lớn. Khi nó suy, tức gây ra'sát khí đấu chọi nhau. Gia đình xích mích, vợ chồng không hoà thuận. Thường vì đấu tranh với cấp trên mà gây nên những điều tai tiếng. Hoặc vì đau dạ dày nên khó tiêu hoá, hoặc vì đánh lộn nhau mà bị . thương chân. Tóm lại là gặp nhiều vất vả, trở ngại, mà vẫn bị thất bại và tan vỡ.

Tam Tam ngang hòa. Khi nó vượng, lên mặt lấn át người, thanh danh hiển hách, hưng gia lập nghiệp, tương đối có tiền của. Khi nó suy, trong nhà sinh ra trộm cắp hoặc bị trộm cướp, thường hay bị thương chân tay, hoặc đánh nhau với người khác nà phải đưa ra pháp luật.

Tam Tứ ngang hoà. Khi có vượng, Tam và Tứ chính phối, sinh nhiều quý tử, sự nghiệp và tài vận phát triển hanh thông. Khi nó suy, trong nhà sinh ra trộm cắp và ăn mày, ra vào thường hỏng việc, trên người thường có bệnh mày đay hoặc bị thương ở cánh tay hoặc tay chân, hoặc có bệnh đau gan, đau mật. Nếu gặp Thái tuế e rằng bị nạn tình sắc hoặc bị rắn cắn.

Tam Ngủ khắc xuất. Khi nó vượng, tương đối có tiền tài và quyền quý, hoặc có vận làm quan to. Khi nó suy, trên người thường sinh bệnh mày đay hoặc bị Ngũ độc (như bọ cạp, rắn, rết, thạch sùng hay cóc cắn), gây nên tâm tư quẫn bức, dễ mắc bệnh gan, bị thương ở chân.

Tam Lục khắc nhập. Khi nó vượng, chạy vạy ngược xuôi trên quan trường, sự nghiệp ắt thành, trở thành cánh tay đắc lực của cấp trên. Khi nó suy, bị nhà cầm quyền bãi bỏ hoặc gặp tai hoạ binh đao, hoặc bị ngã lao vào đao hoặc kim loại nên bị thương chân tay. Hoặc đôi khi mắc bệnh gan. Trong nhà thường hay xẩy ra tranh chấp.

Tam Thất khắc nhập. Khi nó vượng, nguồn của cải tăng tiến, có chức quyền “Văn thần kiêm võ tướng". Khi nó suy là “xuyên tâm sát", sẻ có bệnh ở tay chân, hoặc bệnh về gan mật, bệnh xong lại còn bị tố tụng. Phương đoài có phá tổn là gan bị thương tổn, hoặc mắc bệnh thổ huyết. Trong nhà có kẻ đam mê tửu sắc, bọn trộm cướp trèo tường đào ngạch, phá hoại danh giá của gia đìn". chốn “khuê phòng" không thuận hoà, thường là con trưởng bị tai ương.

Tam Bát khắc xuất. Khi nó vượng tài văn chương bậc nhất, lại phát tài phát định. Khi nó suy, con bé thường gặp nhiều tai nạn, dễ bị thương gân cốt hoặc bị nạn chó cắn. Anh em trong nhà bất hoà hoặc vì tranh giành tài sản mà gây nên kiện tụng.

Tam Cửu sinh xuất. Khi nó vượng sôi động như sấm (lôi) dậy, con cái thông minh linh hoạt, tài văn chương hiếm thấy, nhiều năm được hưởng giầu sang. Khi nó suy, các việc tai tiếng chồng chất liên miên, thường mắc các bệnh đau mắt và đau đầu, đồng thời cũng dễ gặp hoả hoạn.

Tứ lục mộc tinh

Tứ lục mộc là sao Văn Khúc. Khi nó vượng, tài văn chương hơn đời, đỗ đạt khoa cử lừng danh, con gái dung mạo đoan trang, lấy được con nhà quyền quý. Khi nó suy tử, đàn bà dâm loạn, đàn ông ham mê tửu sắc, phá gia sản, lang thang phiêu bạt.

Tứ Nhất sinh nhập. Khi nó vượng, một đời danh giá, lợi lớn về tài văn chương và sự nghiệp học hành, thi cử đỗ đạt. Con cái học hành thông minh, thành tích hàng đầu, con trai cả đỗ đạt, nghề nghiệp vừa ý, tài vận thuận lợi. Khi nó suy, dễ mắc bệnh trúng phong, hoặc lang thang dâm đăng, tửu sắc hư bại, gây nên tiếng xấu bên ngoài. Hoặc vợ vô sinh, hoặc có sinh thì cũng chết yểu.

Tử Nhị khắc xuất. Khi nó vượng, tương đối giàu sang, vợ nắm gia quyền, sinh đẻ nhiều, con đông. Khi nó suy, vợ ngỗ ngược, khắc mẹ chồng và ức hiếp em chồng. Trong gia đình không khí không vui, nặng nề, bị bệnh hoảng loạn, bệnh dạ dày dày vò, mẹ chồng nàng dâu, chị dâu em chồng thường hay xích mích, mẹ già gặp tai ương. Sự nghiệp suy bại, gia phong xấu đi, hoặc có người xuất gia đi làm ni cô, hoặc bị chó dại cắn.

Tứ Tam ngang hòa. Khi nó vượng, âm dương phối hợp đúng đắn với nhau, gia đình êm ấm, con cái thuận hòa, tương đối giàu sang, sự nghiệp thuận lợi. Khi nó suy, vợ chồng xích mích, có ý hướng làm tàng ni, sinh ra kẻ sống lang thang không ra gì. Người thường mang bệnh mày đay, có tật ở cánh tay hoặc tứ chi.

Tứ Tứ ngang hoà. Khi nó vượng hai sao Văn khúc cùng đến, con cái có thành tích nổi bật, có tin mừng khi gặp thi cử. Đại lợi về tài văn chương, làm quan văn tương đối có tiếng tăm. Khi nó suy, phiêu bạt khắp nơi, hoặc trở thành tăng ni. Dễ bị bệnh phong, quả phụ làm chủ gia đình. Đàn ông xa nhà bôn ba, sống nơi chân trời góc bể.

Ngũ Tứ khắc nhập. Khi nó vượng, có tài văn chương và giàu có, sự nghiệp thuận lợi. Khi nó suy thường bị bệnh sởi, thích ăn ham uống, ruộng vườn bỏ hoang, trong nhà ảm đạm, buồn tênh, bà chủ ốm đau luôn, thương có tâm nguyện hướng về tăng ni, khó sinh và khó nuôi con cái, gia cảnh lụn bại.

Tứ Lục khắc nhập. Khi nó vượng, quân lính không dám đụng đến, được đối đãi tử tế như quan, gia cảnh êm ấm, có đủ tài lộc. Khi nó suy, cha ngược đãi con dâu, dễ làm cho con dâu đáng thương bỏ nhà ra đi. Người trong gia đình tranh chấp nhau, dể mắc bệnh về gan, mật hay cảnh tay. Tứ Lục có dáng của "dịch mã", nên người nhà dễ phải dọn nhà đi nơi khác hoặc bị khổ sai.

Tứ Thất khắc nhập. Khi nó vượng, vợ nắm quyền hành, táo bạo hơn người, tích trữ được nhiều của cải. Khi nó suy, nam nữ ham dâm, tài văn chương của con cái không nổi bật, dễ bị bệnh thổ huyết chết yểu. Ra ngoài thì gặp nhiều việc cãi nhau, mẹ chồng nàng dâu bất hoà. Dễ phạm kiếp đào hoa.

Tứ Bát khắc nhập. Khi nó vượng, vợ hiển dạy con ngoan, của cải chất thành núi. Khi nó suy, người nhà có người mê say ở trong núi sâu, hoặc vào rừng làm ẩn sĩ, hoặc vào chùa làm sư. Con cái lắm bệnh tật, đường học hành không tốt, dễ mắc bệnh viêm mũi. Dễ mắc bệnh phong (hủi) hoặc bị rắn hay chó cắn.

Tứ Cửu sinh nhập. Khi nó vượng hợp với kim của tiên thiên, được tài và quý, nhà sinh ra kẻ sĩ thông minh, văn chương nổi tiếng. Khi nó suy, chị dâu tranh quyền, cảnh đàn bà bất hòa, dễ mắc kiếp đào hoa, thường bị bệnh đau mắt hoặc bị hỏa tai. Cảnh đàn ông gặp cảnh ngộ vì gian dâm mà mất hết tài sản.

Ngũ hoàng thổ tinh

Ngũ hoàng thổ là sao Liêm trinh, là mậu kỉ đại sát. Khi nó vượng, phát tài phát đỉnh lớn. Khi nó suy, bất kể được nó sinh hoặc bị nó khắc đều là rất xấu, vì vậy nên yên lặng không nên hoạt động. Nếu trực thái tuế giáng lâm, tính chất xấu càng phát ra mạnh, tức tổn đỉnh tổn tài lớn, nhẹ thì bị ốm đau, nặng thì hao vài người, nên : tránh không nên phạm.

Ngũ Nhất khắc xuất. Khi nó vượng, phát tài phát đỉnh lớn, nhưng con giữa không phát. Khi nó suy, con giữa lại chịu tai ương, bị ốm nặng. Đặc biệt là bệnh hệ tiết niệu, đàn bà thì bị bệnh phụ khoa. Người nhà phát bệnh luôn. Ngoài ra còn có bệnh về tai, bệnh hắc lào.

Ngũ Nhị ngang hoà. Khi nó vượng, phát đinh phát tài lớn, người mẹ nắm quyền. Khi nó suy, thường phát đủ thứ bệnh, nhất là cha mẹ bị bệnh nặng, chủ yếu là bệnh dạ dày và bệnh đường ruột. Sao thái tuế giáng lâm (đến), bố thường ốm nặng, mẹ trở thành quả phụ.

Ngũ Tam khắc nhập. Khi nó vượng, phát đỉnh phát tài lớn, nhất là con trai trưởng được thừa hưởng phúc lộc..Khi nó suy, e rằng bị bệnh gan, lá lách, người mọc mụn nhọt, ghẻ lở hắc lào ở chân tay, chỗ kín. Con trai có lòng phản nghịch, trong nhà có người bị thương ở chân, cả nhà không yên ấm. 468

Ngũ Tứ khắc nhập. Khi nó vượng, có tài văn thơ, của cải giàu có, sự nghiệp thuận lợi. Khi nó suy, con trai ăn uống chơi bời, bỏ ruộng vườn hoang hóa. Đàn bà mọc ung nhọt độc ở vú, đàn ông phần nhiều sinh bệnh sởi. Nhà cửa åm đạm, buồn tênh, con dâu có ý hướng đi tu, tình cảnh gia đình lụn bại.

Ngũ Ngũ ngang hòa. Khi nó vượng, vượng đỉnh vượng tài, gia nghiệp phồn thịnh. Khi nó suy, hung sát hoành hành khó ngăn cản và tránh thoát, dễ gặp bệnh máu trắng cấp tính. Nhẹ thì người bị mụn độc, nặng thì hao người. Ngũ Lục sinh xuất. Khi nó vượng, tương đối có tiền của, con cái hiếu thuận, nhưng chủ nhà không được hưởng. Khi nó suy, chủ nhà mắc bệnh, nhẹ thì đau đầu, đau xương, nặng thì thập tử nhất sinh. Đi ra ngoài dễ bị sây xát. Là quan chức thì gặp nhiều việc khó khăn, thậm chí gây nên tổn thất.

Ngũ Thất sinh xuất. Khi nó vượng, rất có tiền tài, gia nghiệp hưng vượng. Khi nó suy, cãi cọ nhau tranh giành phải trái, chuyện rắc rối xảy ra luôn, hoặc vì dâm đăng mà phá hết tài sản, hoặc vì nữ sắc mà gây nên tai họa, phạm pháp. Thiếu nữ thường hay đau ốm nhiều, trong nhà có người bị bệnh răng miệng và họng và còn dễ bị thương bởi búa rìu.

Ngũ Bát ngang hòa. Khi nó vượng thì ruộng vườn địa sản giàu có, con cái tốt lành thuận lợi. Khi nó suy thì con trai nhỏ hay đau ốm, người lớn bị đau mỏi gân cốt. Vận khí gia đình suy giảm.

Ngũ Cửu sinh nhập. Khi nó vượng con cái thông minh, gia đình tài vận tốt. Khi nó suy vợ đẻ con ngu đần, người nhà phần nhiều hay đau mắt, hoặc đau đầu hay buồn bực trong lòng. Nếu gặp thái tuế e rằng dễ có bệnh máu trắng cấp tính.

Lục bạch kim tinh

Lục bạch là Vũ khúc, là sao tốt. Khi nó vượng quyền uy chấn động bốn phương, nếu là võ tướng thì công trạng cao quý, gia đình cự phú, định nhiều. Khi nó suy tử thì vì sát thế nên sinh ra sống cô độc, chết trận trong binh đao hoặc góa vợ, hoặc quả phụ. Lục Nhất sinh xuất. Khi nó vượng được số tiên thiên bát quái tạo thành, nên đường quan vận thuận lợi, hanh thông, của cải dồi dào, con cái học hành đỗ đạt. Khi nó suy, quan lộc tuy không giảm nhưng nhà có người mắc bệnh đau đầu, hoặc gặp thủy hoạn.

Lục Nhị sinh nhập. Khi nó vượng, điền địa, phát tài sản lớn, nhà nhiều vàng bạc đá quý, cuộc sống bình yên, hành nghề y thì cứu giúp cho đời. Khi nó suy thì tham lam vô độ, bủn xin, hoặc xuất gia đi tu, hoặc vợ chồng bất hòa, chia ly. Người nhà thường có các bệnh về đầu, xương hoặc dạ dày, đường ruột.

Lục Tam khắc xuất. Khi nó vượng thì tài vận và quan vận đều hanh thông, quyền uy hơn người. Khi nó suy hoặc gặp khổ về binh đao, hoặc bị thương, hoặc cha con bất hòa, hoặc có tang tóc.

Lục Tứ khắc xuất. Khi nó vượng thì giành được giàu có trong thương trường, thu được nhiều lãi trong buôn bán đường dài, hoặc được cử làm võ quan. Khi nó suy thì khắc vợ hoặc bị khổ sai, có trường hợp vợ chịu không nổi phải bỏ nhà đi. Người nhà đau tay hoặc đầu bị tê liệt.

Lục Ngũ sinh nhập. Khi nó vượng thì tài vận quan vận đều tốt, nhưng có tiểu nhân ngầm hại. Khi nó suy thì tiểu nhân nổi lên chống lại, mất chức, đấu đá làm hao tổn tinh thần. Chủ nhà lắm bệnh nhiều tật, thường gặp nhất là bệnh đau đầu, thần kinh thất thường, có thể làm điều dở.

Lục Lục ngang hòa. Quan vận thuận lợi, thông suốt, quyền chức đạt tới đỉnh cao. Khi nó suy có nhiều điều rắc rối, khó thoát thân, hoặc phải ngấm ngầm chuyển đi, hoặc bị hung đổ truy đuổi, của cải tổn thất, dễ gặp tai nạn giao thông.

Lục Thất ngang hòa. Khi nó vượng thì văn quan võ chức quyền lớn trong tay, tài vận thuận lợi. Khi nó suy dễ bị thương về đao kiếm hoặc đấu tranh nhau cùng bị tổn thương. Nhà có thể gặp trộm cướp, hoặc vì xích mích mà bị rắc rối. Già trẻ không yên, có bệnh đau đầu, đau miệng họng. Lục Bát sinh nhập. Khi nó vượng có văn chức, võ quyền, công danh và bổng lộc đều đến, gia nghiệp hưng thịnh, con cháu được thừa hưởng. Khi nó suy quan lộc tuy không giảm nhưng phần nhiều có bệnh đau đầu, đau xương.

Lục Cửu khắc nhập. Khi nó vượng, hỏa chiếu thiên môn nên định tài đều vượng, chủ nhà có quyền sang, chức trọng lại sống lâu, còn xuất hiện võ tướng thông minh. Khi ó suy hỏa đốt thiên môn, trong gia đình sinh ra con bất hiếu. Con cháu ngành trưởng sa sút. Khi hỏa khắc kim dễ bị bệnh thổ huyết. Hỏa hướng°về thiên môn nên trong nhà dễ sinh "nghịch tử". Nếu hỏa thịnh thì dễ gặp tai ương.

Thất xích kim tinh

Thất xích còn gọi là Phá quân, là tặc tinh. Khi nó vượng phát về võ quyền, đỉnh tài đều vượng. Khi nó suy nhà dễ sinh ra trộm cướp hoặc bị chết trận, bị giam cầm hoặc cãi cọ nhau. Vì hỏa tai mà tổn đinh hoặc xuất hiện những người ham mê tửu sắc. Thất là sao xấu, nên yên lặng không nên hoạt động. Hoạt động thì cái xấu lộ ra nhiều hơn, nhất là nhà ở nơi đầu phố và ngã ba thì nguy hại càng lớn. Thất xích nếu tương ứng với ngoại hình của môi trường thì sẽ có các biểu hiện như :

Ở bên ngoài có sa (sa là chì cồn, núi ở phía trước, phía sau hoặc trái, phải nhà) dạng quả bầu thì trong nhà có người làm nghề y thuật.

Ở bên ngoài có sa hình dạng con dao sẽ sinh con làm nghề đồ tể. Ở bên ngoài có sa dạng cái kìm thì trong nhà có người làm thợ thủ công.

Ở bên ngoài có sa dạng cờ trống trong nhà dễ có người trộm cắp phản nghịch. Ở bên ngoài có sa thủy dạng thập thò hoặc phình ra bên sườn trong nhà dễ sinh ra trộm cướp.

Ở bên ngoài có sa chiếu thẳng tới gặp Nhất Lục bay đến, trong nhà dễ có người ốm nặng thổ huyết.

Thất Nhất sinh xuất. Khi nó vượng thì võ chức thăng tiến, con cái hành vận đào hoa, ăn uống lu bù. Khi nó suy, thủy kim lạnh ngắt, con cái ham mê tửu sắc, tiêu tiền phá của hoặc vong ơn bội nghĩa. Nếu gặp thái tuế thường trực sẽ gây nên điều nọ tiếng kia, hoặc bị cướp, hoặc bị bệnh đau bụng dưới, hoặc thổ huyết, hoặc bị thương, hoặc bị tù đày mà phá sản.

Thất Nhị sinh nhập. Khi nó vượng thì tài sản đất đai tiền triệu, thăng quan tiến chức, đàn bà sang trọng. Gặp được số Nhị Thất tiên thiên bát quái thì trong nhà luôn có ánh đèn chiếu sáng, nhộn nhịp hưng vượng. Khi nó suy dễ gặp hỏa hoạn, phụ nữ trọng nhà bất hòa với nhau, hoặc bị ngộ độc thức ăn, hoặc có bệnh về răng miệng hay kiết lị.

Thất Tam khắc xuất. Khi nó vượng có quyền cao chức trọng. "văn thần võ tướng", xuất hiện người có tài "văn thao võ lược", bốn phương phục tùng, con cái giỏi giang hơn người. Khi nó suy thì thô bạo với mọi người, con cái lộng hành hống hách, gia đình bị xuyên tâm sát, có cảnh tượng như gặp binh đao, trộm cướp. Trong nhà cãi cọ, kiện cáo lẫn nhau, gia đình bất hòa, con cái ly tán. Về bệnh tật dễ mắc bệnh thổ huyết, bị thương hoặc vừa ốm xong lại phải hầu tòa.

Thất Tử khắc xuất. Khi nó vượng phụ nữ có chức tước cao, quan lộc đều có, đồng thời gặp vận đào hoa. Khi nó suy phụ nữ làm chủ nhà, nam nữ ham dâm, gặp kiếp đào hoa. Trong nhà bất hòa, hay cãi nhau, mẹ chồng nàng dâu xích mích. Về thân thể dễ gặp bệnh thổ huyết hoặc chết yểu. Thất Ngũ sinh nhập. Khi nó vượng, đất đai và của cải giàu có. Khi nó suy, có bệnh ở miệng hoặc bị ung nhọt, hay cãi nhau vì thế mà dễ gặp kiện tụng hoặc những rắc rối vì đào hoa.

Thất Lục ngang hòa. Khi nó vượng có tài văn võ, quan lộc đều có. Khi nó suy có tranh chấp nơi quan trường, gia đình bất hòa, dễ bị thương bởi đao kiếm hoặc tai nạn vì xe cộ. Về thân thể dễ có tật ở miệng, bệnh đau đầu hoặc bệnh viêm nhọt.

Thất Thất ngang hòa. Khi nó vượng, của cải và quyền bính đều được trợ giúp, nhưng kiếm tiền bất nghĩa. Khi nó suy dễ gặp trộm cướp hoặc hỏa hoạn, thường hay gặp tranh chấp. Trai gái vì đam mê tửu sắc mà dễ gặp nạn ra tòa.

Thất Bát sinh nhập. Khi nó vượng thì thăng quan tiến chức liên tục, thần tài trợ giúp trở nên giàu có, gia đình hòa thuận, con cái khỏe mạnh và phát triển thuận lợi. Khi nó suy, tiền tài tổn thất nhanh chóng, dễ có tật ở miệng hoặc con nhỏ lắm bệnh nhiều tật.

Thất Cửu khắc nhập. Khi nó vượng hỏa chiếu sảnh đường, gia đình hưng vượng. Khi nó suy dễ gặp hỏa hoạn. Phương Thất Cửu nếu gặp Nhất bạch bay đến thường gặp hỏa tai. Thất Cửu tại hướng của nó mà động thì gặp hỏa hoạn. Cửu Thất tại phương sơn gặp Nhị hắc càng thêm hung sát, tuy không động cũng gây nên hỏa hoạn. Nếu bên ngoài có miếu màu hổng thì khó tránh khỏi nạn cháy. Về thân thể nếu gặp Ngũ hoàng thì mắc bệnh về máu.

Bát bạch thổ tỉnh

Bát bạch còn gọi là sao Tả bổ, là sao tốt. Khi nó vượng có nghĩa là trung hiếu, phú quý dài lâu, con cháu được hưởng phúc lộc ông cha. Khi nó suy tử có tổn thưởng nhỏ hoặc bệnh dịch lan tràn.

Bát Nhất khắc xuất. Khi nó vượng đại lợi về văn chương học hành, có lợi về chức văn thăng tiến, đặc biệt lợi về kinh doanh địa sản (như kinh doanh ruộng đất). Khi nó suy dễ mắc bệnh thiếu máu, bệnh về tai, anh em bất hòa, bạn bè phản bội, hoặc phụ nữ không sinh đẻ, hoặc trẻ con chết đuối.

Bát Nhị ngang hòa. Khi nó vượng giàu về ruộng vườn địa sản. Khi nó suy dễ mắc bệnh dạ dày, đường ruột, hoặc bị chó cắn thành bị thương. Nếu phía ngoài có dải núi chạy ngược lại thì có thể rời xa quê hương đất tổ làm ni cô hoặc chết nơi đất khách quê người.

Bát Tam khắc nhập. Khi nó vượng thì tài sản về nhà đất dổi dào, quyền lực tăng lên đột ngột, nhờ được số của tiên thiên bát quái tạo nên mà việc hợp tác rất tốt. Khi nó suy của cải bị mất mát, chức quyền bị giảm sút. Trong nhà có người bị thương nhẹ ở tay chân hoặc có bệnh về gan, về dạ dày.

Bát Tứ khắc nhập. Khi nó vượng là vợ nắm quyền, giàu về ruộng vườn và nhà đất. Khi nó suy là có tổn thương nhỏ, vợ lấn quyền chồng, ia đình bất hòa. Đi ra ngoài dễ gặp nạn tàu xe, thuyền bè, hoặc là ẩn sĩ ở chốn rừng núi.

Bát Ngũ ngang hòa. Khi nó vượng tài lộc phát đạt, vận thế rất tốt. Khi nó suy, hao tài tốn sức, dễ bị bệnh nhẹ, vận thế bị tổn hại. Dễ mắc bệnh dạ dày, đường ruột hoặc ngộ độc thức ăn.

Bát Lục sinh xuất. Khi nó vượng, dễ trở thành quan văn, thế lực tăng cao, phú quý và phúc đức. Khi nó suy hai mặt giàu sang đều tốt nhưng cha con bất hòa, dễ có bệnh đau đầu hoặc nhức xương.

Bát Thất sinh xuất. Khi nó vượng có cả văn chức võ quyền, tài lộc đều có, vợ chồng hoà thuận, con cái an khang. Khi nó suy tài sản dễ tiêu tan, vợ chồng mâu thuẫn nhau, tổn thất con cái.

Bát Bát ngang hòa. Khi nó vượng có lợi cho văn chương, đường học hành, phát tài về ruộng vườn, nhà đất, phú quý đều có, sự nghiệp hưng vượng. Khi nó suy thì sự nghiệp suy tàn, của cải thất tán. Thường mắc bệnh nhức xương bả vai.

Bát Cửu sinh nhập. Tin vui đến đồn dập, giàu có không ai sánh kịp, có địa vị trong triều chính. Khi nó suy như bị lửa nóng đốt khô, mắt mũi lắm tật bệnh, bụng nhiệt đi ngoài ra máu, bị hỏa hoạn.

Cửu tử hỏa tinh

Cửu tử hỏa là sao Hữu bật. Khi nó vượng, văn chương lừng lẫy, đột nhiên dẫn tới vinh hiển, con cháu ngành giữa được hưởng phú quý. Khi nó suy thì bị hoả tai, hoặc tai họa về quan trường, bị thổ huyết, hoặc điên loạn, bị bệnh về mắt, hoặc sinh đẻ khó.

Cửu Nhất khắc nhập. Khi nó vượng, trong nhà có nhiều việc vui mừng, âm dương chính phối, thủy hỏa có đủ, vợ sinh nhiều con trai, giàu đột nhiên mà sang cũng đột nhiên. Khi nó suy, con cháu ngành giữa lụn bại, có bệnh ở mắt và ù tai. Nếu gặp Thất đến, e rằng có hỏa tai.

Cửu Nhị sinh xuất. Khi nó vượng, giàu về ruộng vườn và nhà đất, mẹ quản lý gia sản. Khi nó suy, vợ chồng sinh con đần độn, bị hỏa hoạn trang viên, dạ dày nóng nên đại tiện có huyết, có bệnh dạ dày, đường ruột, có bệnh về mắt.

Cửu Tam sinh nhập. Khi nó vượng, ánh đèn luôn rực sáng sảnh đường, quyền cao chức trọng, uy vọng bốn phương, con cái thông minh đắc chí. Khi nó suy, e rằng có kiếp dâm loạn, có hỏa hoạn. Đàn ông hung ác, bại hoại thanh danh. Người nhà dễ bị bệnh về mắt, hoặc bị thương ở chân.

Cửu Tứ sinh nhập. Khi nó vượng, sảnh đường sáng sủa, chồng vẻ vang vợ sang trọng, con cái thông minh, tài văn chương nổi trội, của cải tích tụ đột nhiên, việc vui đến dồn dập. Khi nó suy, nam nữ dâm loạn, thân bại danh tàn, sự nghiệp tan vỡ, thường có các bệnh về mắt và lưng. Con cái sống bừa bãi.

Cửu Ngũ sinh xuất. Khi nó vượng giàu có về nhà đất. Khi nó suy vợ sinh con đần độn, sinh con có tổn thương về mắt. Bêu ngoài có ngọn núi bị tàn phá, con cái thi cử đều khó đậu, trong nhà có người bị tật về mắt, bị mù lòa, hoặc có người vì tình sắc mà bị bệnh giang mai, mụn độc.

Cửu Lục khắc xuất. Khi nó vượng, văn chương hiển đạt, Thất Bát Cửu nối liền nhau, ứng nghiệm tám đời có tài văn chương. Chủ nhà khỏe mạnh sống lâu, an khang, có tài sản về vũ khí. Khi nó suy, lửa thiêu thiên môn, bị quỷ thần quở trách, trong nhà sinh nghịch tử, hoặc quay lưng lại với bố bỏ nhà đi. Hỏa khắc kim (phổi) nên dễ bị thổ huyết, hoặc bệnh lao.

Cửu Thất khắc xuất. Khi nó vượng, nam nữ thông minh lanh lợi, tiền của bất nghĩa đến tay. Khi nó suy, nam nữ nghiện ngập, đam mê tửu sắc, nhà mắc hoả hoạn. Tài sản tiêu tan, có người mắc bệnh lao. Cửu Thất là hỏa của tiên thiên và hậu thiên bát quái, cuối cùng có hỏa hoạn, cũng là ngày của quan tai.

Cửu Bát sinh xuất. Khi nó vượng, giàu về điền trang (trang trại) và nhà đất, chức quan văn thăng tiến, trong nhà việc tốt đến dồn dập. Khi nó suy, hỏa viêm thổ táo, vợ sinh con ngu đần. Nhà có người bị tật về mắt hoặc bệnh dạ dày.

Cửu Cửu ngang hòa. Khi nó vượng, tài văn chương hiển đạt, nổi tiếng khắp nơi, gia cảnh rực rõ, đột nhiên phát định phát tài. Khi nó suy, vợ sinh nhiều con gái, nam nữ hiếu sắc. Trong nhà có người mắt có tật, hoặc mù lòa. Trong nhà dễ có nạn bị bệnh máu trắng cấp tính.