IV. DỰ ĐOÁN KHÍ SỐ

Sau khi nhận thức được mệnh số , đại , tiểu vận và mối quan hệ giữa chúng với nhau , ta có thể tiến hành dự đoán khí số . Gọi là dự đoán tức là suy đoán , căn cứ vào mệnh số của con người , lợi dụng sự biến hoá của cửu tinh đại vận và tiểu vận để suy đoán ra cát hung , trong đó bao gồm cả suy đoán nguyệt vận , niên vận , tiểu vận , cả đời người . Kết quả suy đoán là cát hay hung đó chính là khí số , hay gọi là “ mệnh vận ” .

Dự đoán nguyệt vận

Dự đoán nguyệt vận lấy tiết , khí tạo thành tháng làm chuẩn .

Tháng giêng : Lập xuân - Vũ thuỷ ;

Tháng 2 : Kinh trập • Xuân phân ;

Tháng 3 : Thanh minh - Cốc sữ ;

Tháng 4 : Lập hạ - Tiểu mãn ;

Tháng 5 : Mang chủng Hạ chí ;

Tháng 6 : Tiểu thừ - Đại thử ;

Tháng 7 : Lập thu - Xừ thử ;

Tháng 8 : Bạch lộ - Thu phân ;

Tháng 9 : Hàn lộ - Sương giáng ;

Tháng 10 : Lập đông - Tiêu tuyết ;

Tháng 11 : Đại tuyết - Đông chí ;

Tháng 12 : Tiểu hàn - Đại hàn .

image

Sau khi đã xác định được tháng thì tìm tinh bàn cần thiết , tức là trong 9 tinh bàn , tinh bàn tháng đó ở đâu . Phương pháp tìm tinh bàn là căn cứ bảng các tháng sao nhập giữa trong mục II bàn về mệnh số với niên vận và nguyệt vận . Sau khi tra được sao nhập giữa ta có thể xác định được tinh bàn tháng đó .

Ví dụ . Tháng giêng 1995. Năm 1995 âm lịch là năm Ất hợi . Tra bảng Dần thân tị hợi " , tháng giêng , nam giới sao nhập giữa là Nhị ( tức Nhị hắc thổ tinh ) , nữ sao nhập giữa là Tứ ( Tứ lục mộc tinh ) . Sau khi biết được sao nhập giữa là có thể sắp xếp tinh bàn . Nhị là dương phải xếp thuận , Tứ là âm phải xếp ngược .

Có được tinh bàn rồi , tra " Bảng phối số âm dương " dưới đây .

Trong bảng chỉ có số của sao nhập giữa , không có số của tinh bàn . Điều đó không hề gì , vì tra bàn cửu tinh thì sẽ biết được . Đối chiếu hình vẽ trên đây với bảng sẽ biết được các kết quả sau .

Nam : tháng giêng 1995 , dương là Nhị , âm là Tứ , hợp hai số lại là dương Nhị Âm Tứ.

Nữ : tháng giêng 1995 , âm là Tứ , dương là Nhị , hợp lại thành âm Tứ dương Nhị .

Ta xác định được nam dùng “ Nhị , Tứ " , nữ dùng “ Tứ , Nhị " , lấy mệnh tinh của nam hoặc nữ tương ứng với “ Nhị Tứ ” hoặc “ Tử , Nhị ” để bàn về ngũ hành sinh khắc thì sẽ biết được tháng giêng 1995 người đó gặp cát , hung ra sao .

Ví dụ 1. Nữ sinh năm 1964 , muốn dự đoán vận số tháng giêng 1995. Năm 1964 mệnh nữ thuộc Lục bạch kim . Tháng giêng 1995 tương ứng với “ Tứ , Nhị ” . Âm kim khắc âm mộc và còn khắc ngược thổ , vì đồng âm tương khắc nên hung . Qua đó ta biết được người ấy có cuộc đời gian khó , bôn ba , vì thế mà dễ bị bệnh . Vì bôn ba mưa gió nên có thể bị các bệnh đau đầu , cảm mạo , viêm bụng , cơ bắp đau mỏi .

Ví dụ 2. Nam sinh năm 1938 , muốn tính vận tháng giêng 1995 . Nam sinh năm 1988 là mệnh Bát bạch thổ . Tháng giêng 1995 tương ứng với “ Nhị , Tứ . Bát thổ và Nhị thổ ngang hoà , Bát bạch thực chất là thiếu dương , tuy bị Thứ mộc khắc nhưng thổ mạnh mộc yếu , cho nên ta biết được người đó có sự việc phát sinh đột ngột , có nỗi vất vả vì sương gió , mẹ bị bệnh hoặc em gái , chị dâu bất hoà , nhưng cày cấy được mùa .

Dự đoán niên vận

Dự đoán niên vận đại thể giống như dự đoán nguyệt vận . Trước tiên phải tra “ Bảng cứu khí nam nữ ' để tìm ra mệnh tình của người đó và sao năm đó , cần phân biệt nam , nữ , ghi lên giấy , sau đó vẽ ra hình niên tinh của nam hoặc nữ . Đối với nam thì về tính bàn phí tỉnh cửu cung bay thuận , đối với nữ thì bay ngược ( tham khảo tinh bàn ở mục thiên tâm ) . Ở đây xin độc giả nhớ rõ tính bàn của nam nhất thiết là bay thuận của nữ là bay ngược . Tuyệt đối không được nhầm lẫn nam với nữ . Vì nhầm lẫn thì dự đoán sẽ không chính xác . Sau khi vẽ được hình sẽ tìm ra “ Bố phối của âm dương ” . Xác định tổ hợp 2 sao âm dương , bước cuối cùng là liên kết tổ hợp sao âm dương của mệnh tình với tinh bàn của người đó để dự đoán .

Ví dụ 1. Nam sinh năm 1967 , muốn đoán niên vận 1994 .

Năm 1994 dương Lục âm Cửu nhập giữa , dương bố trí thuận , âm bố trí ngược , hai sao giữa hợp thành “ Lục , Cửu ” , thuộc thiên phổi chính , có tượng tiểu hung nhẹ . Nam sinh năm 1967 thuộc mệnh Lục bạch kim , gặp dương Lục là phục ngâm , là hung , vừa bị âm hoả khắc nên là tiểu hung . Tổng hợp lại thì năm đó hành vận tiểu hung , ta biết được người ấy không có hy vọng thăng tiến mà ngược lại còn bị giáng cấp bất hoà với cấp trên , sự nghiệp gặp nhiều khó khăn , hoàn cảnh không thuận lợi . Sức khoẻ không tốt , thường bị chứng đau đầu.

Ví dụ 2. Nữ sinh năm 1964 , muốn đoán vận năm 1994 .

image

Năm 1994 âm Lục , dương Cửu nhập giữa , âm Lục bố trí ngược . dương Cửu bố trí thuận . Hai sao giữa hợp thành “ Lục , Cửu ” thuộc thiên phối đảo , là tượng tiểu hung . Nữ sinh năm 1964 thuộc mệnh Lục bạch kim , âm tính . Âm Lục gặp âm Lục là phục ngâm , là hung . Cứu hoả danh nghĩa là dương nhưng thực chất là âm hoả , thịnh dương mà thực âm . Mệnh nữ là âm , Lục kim thực là âm kim , âm hoà khắc âm kim là tượng đại hung . Tóm lại toàn năm hành vận đại hung . Qua đó ta biết được năm đó người này gặp nhiều việc kiện tụng có thể mất quyền mất chức hoặc sự nghiệp khó khăn , quan hệ với cấp trên căng thẳng , tình cảnh bất lợi . Sức khoẻ không tốt , thường có bệnh đau đầu , đau xương hoặc bệnh tim , thậm chí lạc huyết .

Dự đoán tiểu vận ( 20 năm )

Cách dự đoán tiểu vận giống như dự đoán niên vận , then chốt là phải biết được quỹ tích tương ứng của hai loại vận trình âm dương . Xin xem bảng dưới đây .

image
image

Thứ nhất , bảng này ghi rõ dù là đại vận , tiểu vận hay niên vận đều là âm dương tương ứng , có hành dương và có hành âm .

Thứ hai bảng ghi rõ âm dương có thuận , nghịch , dương thuận âm nghịch , âm thuận dương nghịch .

Thứ ba , hai loại chữ số âm dương là căn cứ vào các số tương ứng của bảng “ Phôi số âm dương .

Thứ tư , các đại vận trong bảng là tính từ Hoàng đế nguyên niên đến nay . Mỗi đại vận là 60 năm . Tiểu vận cũng như thế , nhưng một đại nguyên ( 180 năm ) đều sắp xếp theo thứ tự từ 1 đến 9 , chẳng qua thứ tự của âm dương khác nhau mà thôi . Ví dụ : từ năm 1984 đến 2003 trong 20 năm này dương hành theo đại vận 3 , tiểu vận 7 , năm bắt đầu là Thất nhập giữa , tiếp sau đó là đếm ngược theo thứ tự Lục , Ngũ , Tứ , Tam , Nhị ... mỗi tiểu vận 20 năm . Còn hành âm là đại vận 3 , tiểu vận 8 , năm bắt đầu là Bát nhập giữa , tiếp theo là đếm thuận Cửu , Nhất , Nhị . Tam , Tú ... từng tiểu vận 20 năm .

Sau khi biết được mối quan hệ của các số này ta có thể theo phương pháp dự đoán niên vận để đoán tiểu vận cho nam hoặc nữ .

Dự đoán hỗn hợp

Dự đoán hỗn hợp bao gồm hỗn hợp giữa đại vận và tiểu vận , giữa tiểu vận và niên vận , giữa niên vận và nguyệt vận , hoặc là hỗn hợp giữa đại vận , tiểu vận và niên vận , hỗn hợp giữa tiểu vận , niên vận và nguyệt vận . Sau khi chọn xong phương thức hỗn hợp thì lần lượt dự đoán từ lớn đến nhỏ , cuối cùng lập bảng .

Ví dụ . Muốn dự đoán vận trình 20 năm của hạ nguyên vận 7 thì trước hết phải đoán vận trình vận 7 để nói rõ 20 năm đó vận trình của người ấy là cát hay hung , sau đó lần lượt dự đoán từng năm , cuối cũng có thể sắp xếp thành bảng cát hung để biết được tình hình dao động lên xuống của vận trình 20 năm này . Nhưng khi dự đoán cho từng năm thì phải tính thêm yếu tố của tiểu vận vào . Yếu tố này chỉ đóng vai trò ảnh hưởng , không phải là điều kiện chủ yếu , nếu không sẽ ảnh hưởng đến độ chính xác của kết quả dự đoán niên vận .