III. MỆNH SỐ VỚI KHÍ ÂM, DƯƠNG

Những điều bạn trên đây là mối quan hệ giữa mệnh số với số của đại vận , số tiểu vậu , số nhìn , số tháng và số ngày , giờ đều lấy nam giới làm chính , Cửu khí vận hành mà người xưa bàn đến cho dù là hành thuận hay hành ngược đều lấy nam giới làm chuẩn để thiết lập nên . Nam là dương , thiết lập ra vận hành cửu khí vận hành theo chiều dương . Tuy trong cửu khí có khí dương , có cả khí âm , nhưng quỹ tích vận hành thì toàn là quỹ tích dương . Như vậy có phải là còn tồn tại một quỹ tích âm không ? Câu trả lời là có . Vì trong bảng cửu khí ghi rõ cửu khí nam giới và cứu khí nữ giới khác nhau . Nam có cửu khí nam , nữ có cửu khí nữ . Cái gọi là đại vận , tiểu vận , vận năm , tháng , ngày , giờ toàn bộ đều là dựa theo quỹ tích cửu khí nam giới , bỏ qua cửu khí nữ giới . Độc giả sẽ phát hiện rằng : nữ giới ngoài mệnh số ra thì sự dự đoán các thời vận khác đều tiến hành theo quỹ tích của nam giới , như thể là sai . Nữ giới đáng lẽ phải vận hành theo quỹ tích nữ giới , tức là vận hành theo quỹ tích âm tính , như thế mới phù hợp với Dịch lý .

Cửu khí hậu thiên bát quái vận hành theo quỹ tích 81 bước là quỹ tích dương . Hành ngược là theo số đếm ngược 6 , 5 , 4 , 3 , 2 , 1 , 9 , 8 , 7 , hành thuận là 4 , 5 , 6 , 7 , 8 , 9 , 1 , 2 , 3. Còn quỹ tích âm thì ngược lại , hành thuận của nó là 9 , 1 , 2 , 3 , 4 , 5 , 6 , 7 , 8 , hành ngược của nó là 2 , 1 , 9 , 8 , 7 , 6 , 5 , 4 , 3. Hợp 2 quỹ tích lại , dương hành thuận thì âm hành ngược ; dương hành ngược thì âm hành thuận . Giao điểm của chiều thuận và chiều ngược là số 3 , tức chung giao nhau ở “ 3 ” .

Dương ngược : 6,5,4,3,2,1,9 , 8,1 .

Âm thuận : 9 , 1 , 2 , 3 , 4 , 5 , 6 , 7 , 8 .

Dương thuận : 4 , 5 , 6 , 7 , 8 , 9 , 1 , 2 , 3

Âm ngược : 2 , 1 , 9 , 8 , 7 , 6 , 5 , 4 , 3 ,

Điều này cho ta biết : mối quan hệ của mệnh số với đại , tiểu vận tỉnh là hai khí âm dương . Ví dụ năm 1984 quỹ tích dương ghi rõ là hạ nguyên vận 7 , Thất Xích kim tình nhập giữa , tức là Thất xích kim chi phối tinh bàn . Còn quỹ tích âm ghi rõ là hạ nguyên vận 8 , Bát bạch thổ tinh nhập giữa , tức là Bát bạch thổ khí chi phối tinh bàn . Cùng là tinh bàn năm 1984 nhưng dương là 7 , âm là 8 , sự kết hợp của hai khí âm dương thành một bàn thống nhất . Như vậy mệnh số của mỗi người sẽ phát sinh quan hệ với bàn khí âm dương . Từ đó căn cử vào ngũ hành sinh , khắc để phán đoán cát hung .

Dưới đây lấy vận 5 làm ví dụ để phân tích mối quan hệ giữa hai quỹ tích khí và ngũ hành sinh, khắc.

image
image

Hai khí âm dương cân bằng Dương có 9 số thì âm cũng có 9 số .

Ngũ hành sinh khắc cân bằng . Thất - Bát và Bát - Thất là âm dương tương sinh ; Lục – Cửu và Cửu - Lục là âm dương tương khắc ; Ngũ - Nhất và Nhất - Ngủ là âm dương tương khắc ; Tú - Nhị và Nhị Tít là âm dương tương khắc ; Tam - Tam là âm dương ngang hoà .

Trong quỹ đạo dương vừa có khí dương , vừa có khí âm . Trong quỹ đạo ấm cũng thế . Trong đó bao gồm dương khí đối với âm khí , âm khí đối với dương khí , dương khí đối với dương khí và âm khí đối với âm khí .

Trong hai loại khí có 4 loại quan hệ phối hợp : chính phối , thiên phối ( tức là phối lệch ) , đảo phối và hư phối . Dương 8 âm 7 là chính phối ( 8 là thiếu nam , 7 là thiếu nữ ) ; dương 7 âm 8 là đảo phối ( 7 danh nghĩa là dương nhưng thực chất là âm , 8 danh nghĩa là âm nhưng thực chất là dương ) . Dương 6 âm 9 và dương 9 âm 6 là thiên phối ( 6 là ông già , 9 là trung nữ ) ; dương 4 âm 2 , dương 2 âm dương 3 âm 3 là hư phối ( 2 là lão nữ , 3 là trưởng nam 3 là trường nữ ) . Còn dương 5 âm 1 , dương 1 âm 5 tính bất - định có thể quy về hai loại thiên phổi hoặc hư phối ( 1 là trung là thiếu nam ) . Phối khác nhau gây ra cát , hung khác nhau . Chính phối là cát , đảo phối là thứ cát , thiên phối là tiểu hung , hư phối là bất định là bình thường hoặc tiểu đại hung .Phối dương 1 ấm 8 hoặc Dương 8 âm 1 , cả 2 là các tinh , bất định có hung . Trong phối vừa là anh em nên không làm hại nhau , do đó mà nói là ngang hoà . Cũng có thể là dương 1 âm 2 hoặc dương 2 âm 1 đều là thiên phối nên gọi là tiểu hung . Trong thiên phối có thiên phối chính và thiên phối đảo . Dương 6 âm 9 là thiên phối chính , nhẹ hơn tiểu hung ; dương 9 âm 6 là thiên phối đảo , hơi nặng hơn tiểu hung .

Dưới đây lần lượt phân tích các mối quan hệ giữa chính phôi , đảo phối , thiên phối , hư phối với các loại mệnh số khác nhau .

Chính phối . Chính phổi chỉ có cặp dương 8 âm 7. 8 là dương . là thiếu nam , lại nằm trên quỹ tích dương ; 7 là âm , là thiếu nữ , lại nằm trên quỹ tích âm , cả hai phối với nhau là đại cát , đại bỉ Theo quan hệ ngũ hành thì Bát thổ sinh ra Thất kim hoặc Thất kim tước đoạt Bát thổ , Thất kim mạnh nhất , thuộc âm thịnh dương hư .

Người mệnh số thuộc Thất kim gặp phải , thì danh lợi đều được . đại cát đại lợi .

Người mệnh số thuộc Bát thể gặp phải thì hưng vượng phát đạt nhưng có một ít tổn thất

Người mệnh số Cửu hoả gặp phải vừa phải sinh thổ lại vừa phải khắc kim . Sinh thổ thì bị tổn thất , khắc kim thì được lợi , so sánh với nhau là lợi nhiều hơn thiệt .

Người mệnh số Nhất thuỷ gặp phải , vừa bị thổ khắc nhưng lại được kim sinh , so sánh với nhau thì lợi nhiều hơn thiệt .

Người mệnh số Tam mộc , Tứ mộc gặp phải vừa phải khắc thổ lại bị kim khắc , khắc thổ thì được lợi , bị kim khắc thì hao tổn nhiều , so sánh lại là thiệt nhiều lợi ít , trong đó Tứ mộc bị nặng hơn .

Người mệnh số Nhị thổ , Ngũ thể gặp phải vừa ngang hoà với Bát bạch lại vừa bị tổn thất do sinh kim , gộp lại là lợi nhiều hại ít .

Người số Lục kim gặp phải vừa được thổ sinh cho , lại ngang hoà với Thất xích cho nên có thể hưng vượng , nhưng vì có nhiều sát khí , nên cũng gặp nhiều phiền phức .

Đảo phối . Đảo phối chỉ có cặp dương 7 âm 8. Âm 7 ở trên quỹ tích dương , còn dương 8 ở trên quỹ tích âm , âm dương đảo ngược nên gọi là đảo phối . Cách phối này thuộc về cát lợi , nó đối với các loại mệnh số đại thể tương tự chính phối .

Thiên phối ( thiên nghĩa là lệch ) . Thiên phối có hai cặp . Cặp thứ nhất là dương 9 âm 6 , cặp thứ 2 là đương 6 âm 9. Sở dĩ nó là thiên phối vì đó là “ lão nam phối với trung nữ , là sự chênh lệch về tuổi tác . Dạng phôi này không hợp luân lý nhưng vẫn thuộc sự tương phối của âm dương nên là dạng tiểu hung . Theo ngũ hành sinh khắc thì Cửu hoả khắc Lục kim , dượng hoả và âm hoi rất mạnh . Người mệnh số thuộc hoả gặp phải sẽ tăng thêm hoả tính , đột nhiên gặp phải tai hoạ .

Người mệnh số Lục kim gặp phải dễ gặp tai hoạ hoặc mắc bệnh thổ huyết , viêm khí quản hoặc đau đầu . Người mệnh số Bát bạch thủ gặp phải nhờ được học sinh cho , tự mình lại sinh kim , một được một mất là ngang hoà . Nhưng vì cường hoả khắc nhược kim , cái giá phải trả quá nhiều nên là vận tiểu hung . số thuộc tho .

Người mệnh số thuộc Tam mộc , Tứ mộc vừa phải sinh hoả , vừa bị kim khắc nên 1 gọi là hung kiếp . Người mệnh số Nhất thuỷ gặp phải vừa có thể khắc hoả , vừa được kim sinh nên gặp được cát vận , tài phú tăng nhanh .

Người mệnh số thuộc Thất kim gặp phải tuy có thể cùng vượng như Lục kim nhưng bị cường hoả khắc chế nên hung nhiều cát ít . 4. Hư phối . Hư phổi có 3 cặp 3 dương 4 âm 2 , dương 2 âm dương 3 âm 3 đều là phối cùng tính . Cách phối này là hư không , giả tạo , không hợp lý , phản lại lẽ thường cho nên là tướng đại hung . Trong đó cặp phối dương 3 âm 3 là hung nhất . Theo ngũ hành sinh khắc , Tứ mộc khắc Nhị thổ , Tam Tam là phục ngâm .

Người mệnh Tứ mộc , Tam mộc gặp phải sẽ tăng thêm tính ngộ ngược , hay mạng người , được lợi trong khi làm hại người khác , nhưng tự mình lại cho là tốt đẹp . Nhất là người mệnh số Tam Lộc hay lừa gạt người khác , thích tranh đấu , tính ngạo mạn , chưa đè bẹp người khác là chưa vừa lòng , tự cho mình là tốt nhất .

Người mệnh số Nhị thể gặp phải thì nhu nhược , rủi ro , không những luôn bị lừa gạt , dối trá mà còn thường mắc bệnh dạ dày , gọi là hung tướng . Người Bát thổ , Ngũ thể gặp phải cũng thuộc loại hung tướng , nhất là gặp năm " tam tam " thì tai hoạ trùng trùng .

Người mệnh số Lục kim , Thất kim gặp phải vừa được Nhị thổ sinh cho , lại vừa có thể khắc mộc nên có cát vận , danh lợi đều được .

Người mệnh số Cửu hỏa gặp được thi sinh vượng , tốt lành , gặp năm “ tử nhị " là tiểu cát , còn nằm “ tam tam " là đại cát .

Người mệnh số Nhất thuỷ gặp phải vừa bị mộc khắc ngược , lại còn bị thổ khắc nên là tướng đại hung , cho nên vừa phá tài vừa chuốc lấy tai họa .

Bốn cách phối trên đây đối với các mệnh số khác nhau đều có những cảnh ngộ khác nhau . Nếu dự đoán tỉ mỉ hơn thì còn phân chia thành nam và nữ khác nhau . Nếu là dị tính tương sinh thì đương nhiên là đại cát ; nếu là dị tính tương khắc là tiểu hung vì âm dương là thể còn ngũ hành sinh khắc là dụng . Nếu đồng tính tương sinh thì chỉ là tiểu cát ; nếu đồng tính tương khắc là đại hung vì đồng âm hoặc đồng dương tức là đồng tính thì lực bài trừ rất mạnh . Đó là nói chung , trong thực tế ứng dụng còn phải phân tích cụ thể để phân biệt rõ lợi và hại nhiều hay ít .