III. MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬN BÀN VÀ VẬN BÀN

Vận bàn gồm nhiều tầng thứ , vì nó lưu chuyển theo thời vận cho nên rất phức tạp . Vận bàn bao gồm 6 loại là : bàn đại vận , bàn tiểu vận , bàn niên vận , bàn nguyệt vận , bàn nhật vận , và bàn thời vận . Về hình thức mà nói , bất kể loại vận bàn nào , hình thức của nó đều như nhau , chỉ khi vận dụng lấy thời gian làm chuẩn thì mới có sự khác nhau .

Bàn đại vận còn gọi là bàn nguyên vận , bao gồm bàn đại vận thượng nguyên , đại vận trung nguyên và đại vận hạ nguyên . Mỗi một nguyên là 60 năm , tức là một lục thập giáp tí . Tam nguyên là 3 giáp tí cộng thành 180 năm .

Bàn tiểu vận chia thành các bàn : vận 1 , vận 2 , vận 3 ... vận 9 . Mỗi tiểu vận là 20 năm , cửu vận cộng lại là 180 năm . Mỗi đại vận có 3 tiểu vận . Tam nguyên hợp lại thành 9 tiểu vận .

Bàn vận năm mỗi năm 1 bàn . Bàn vận tháng mỗi tháng 1 bàn , một năm 12 bàn Bàn vận tháng được phân theo tiết , khí âm lịch . Tháng giêng gồm lập xuân , vũ thuỷ ; tháng 2 gồm kinh trập , xuân phân ; tháng 3 gồm thanh minh , cốc vũ ; tháng 4 gồm lập hạ , tiểu mãn ; tháng 5 gồm mang chúng , hạ chí ; tháng 6 gồm tiểu thư , đại thử ; tháng 7 gồm lập thu , xử thử ; tháng 8 gồm bạch lộ , thu phân ; tháng 9 gồm | hàn lộ , sương giáng ; tháng10 gồm lập đông , tiểu tuyết ; tháng 11 gồm đại tuyết động chí ; tháng 12 gồm tiểu bàn , đại hàn .

Bàn nhật vận mỗi ngày một bàn .

Bàn thời vận mỗi một địa chỉ ( 2 giờ đồng hồ ) một bàn . Một ngày có 12 bàn là : Tý , Sửu , Dần , Mão , Thìn , Tý , Ngọ , Mùi , thân , Dậu , Tuất , Hợi.

Trong thực tế vận dụng phần nhiều dùng các bàn tiểu vận , niên vận , 4 loại bàn khác thường ít dùng . Dưới đây sẽ thảo luận mối quan hệ giữa các vận bàn .

Thứ nhất : quan hệ giữa đại vận và tiểu vận

Từ Hoàng đế nguyên niên ( tức từ năm 2697 trước Công nguyên ) bắt đầu hành đại vận Lục bạch . 60 năm sau hành đại vận Thất xích , 60 năm sau nữa hành đại vận Bát bạch . Về sau lần lượt theo số thứ tự , đến năm 1983 sau Công nguyên đã hành qua 78 đại vận . Bắt đầu từ năm 1984 hành đại vận Tam bích . Tiểu vận từ Hoàng đế nguyên niên bắt đầu là tiểu vận Thất xích , 20 năm sau hành tiểu vận Bát bạch . 20 năm sau nữa hành tiểu vận Cửu tử . Lần lượt theo thứ tự thuận , đến năm 1983 sau công nguyên đã hành tất cả 234 tiểu vận . Bắt đầu từ năm 1984 hành tiểu vận Thất xích . Dưới đây lấy đại vận Tam bích và tiểu vận Thất xích làm ví dụ để nói rõ mối quan hệ giữa đại vận và tiểu vận .

image

Tam bích là mộc , nguyên đóng ở phương Đông cung chấn , bây giờ nhập vào cung giữa hành vận đại vượng , chứng tỏ phương Đông trong khoảng thời gian 60 năm này sẽ hưng vượng phát đạt . Nhất bạch thủy nhập vào cung chấn , thủy trợ giúp sinh mộc , cho nên mộc đã vượng càng thêm vượng . Ngũ hoàng thể nhập cung đoài , bản thân là đại hung , lại bị Tam mộc khắc chứng tỏ phương Tây trong thời gian 60 năm này sẽ đi xuống suy giảm . Phương Nam và phương Đông bắc kiếp tài , phương Tây nam thì chiến loạn , phương Bắc được “ Tam và Bát là bạn ” nên nhờ đó mà hưng vượng . Phương Đông nam và phương Tây bắc đều rơi vào ngôi thoái khí , sinh khí , nên còn được xem là cát lọi .

image

Thất xích là kim , nguyên đóng ở cung đoài , nay nhập vào cung giữa hành vận tiểu vượng , chứng tỏ phương Tây trong 20 năm trước mắt vẫn còn hưng vượng phát đạt . Ngũ hoàng thổ nhập cung chấn nên phương Đông tai nạn dồn dập , nó sinh cho Thất Xích kim , khiến Thất xích kim khó tránh khỏi tai nạn , Cửu tử hoà nhập vào cung đoài khắc Thất Xích kim cũng khiến cho Thất Xích kim có nguy cơ mai phục bốn bề . Phương Nam được hoả tiên thiên của Nhị và Thất vì “ Nhị và Thất ” cùng đạo với nhau nên Thất vượng thì Nhị cũng vượng , do đó phương Nam sẽ hưng vượng phát đạt . Phương Bắc bị Thất kim khắc nên sa sút , suy giảm . Phương Đông bắc được Thất kim sinh , cho nên còn có thể phát triển , phương Tây nam bị Thất kim khắc nên khó tránh khỏi sa sút . Phương Đông nam tuy là thoái khí nhưng ngang hoà với Thất Xích kim , do đó tạm thời vẫn còn hưng vượng . Phương Tây bắc tuy là sinh khí , nhưng bị Thất Xích kim khắc ngược nên khó khăn trùng trùng .

Mối quan hệ giữa vận bàn Tam mộc và vận bàn Thất xích là mối quan hệ ngũ hành sinh , khắc giữa các cung đối ứng với nhau . Khi ứng dụng lấy bàn đại vận làm chính , bàn tiểu vận làm phụ .

Cung càn Tứ mộc khắc Bát thổ , mộc yếu thổ mạnh khắc không nổi , thổ cứng nên mộc bị gãy tức là đại vận bị thiệt còn tiểu vận được lợi .

Cung đoài Ngũ thổ được hoả sinh . Ngũ thổ vốn là đại hung được sinh nên lại càng hung hơn , phương Tây đại vận càng suy bại .

Cung khôn Cửu hoả được Tứ mộc sinh , nên phương Tây nam đại vận lửa chiến tranh ngùn ngụt .

Cung li Thất kim gặp được Nhị thổ . “ Nhị và Thất đống đạo với nhau ” hai cái hợp lại thành hỏa tiên thiên . Hỏa này không tưởng ( không sáng rõ ) nên phương Nam đại vẫn có nhiều kiếp sát .

Cung tốn Nhị thổ sinh cho Lục kim , chứng tỏ phương Đông nam tiểu vận được lợi nhưng có nhiều bệnh tật .

Cung chấn Nhất thuỷ bị Ngũ thổ khắc nên phương Đông đại vận ban đầu hưng vượng , giữa chừng có tai hoạ .

Cung cấp Lục kim sinh cho Nhất thuỷ , “ Nhất và Lục đồng cung với nhau " hai cái là thủy tiên thiên . Thủy này cát tường nên đại vận Đông bắc nhiều tài phú .

Cung khảm Bát thổ bị Tam mộc khắc , Tam và Bát là bạn hữu ” , | hai cái hợp thành mộc tiên thiên . Mộc này hư nhược nên phương Bắc đại vận ban đầu có nhiều tin vui , nhưng vẫn chưa đến mức trở nên hưng vượng .

Cung giữa , Tam mộc bị Thất kim khắc chứng tỏ trong 20 năm đầu của đại vận , phương Đông hứng khởi nhưng còn bị phương Tây khắc chế . Nhưng sự hưng vượng của phương Đông là tất yếu , sự khắc chế của phương Tây chỉ là tạm thời . Đến tiểu vận sau ( bát vận ) sự khắc chế này sẽ tiêu tan .

Thứ hai : quan hệ giữa tiểu vận và niên vận

Dưới đây lấy hạ nguyên vận 7 đối với năm 1994 Lục bạch nhập vào giữa ) làm ví dụ để giải thích . Bàn vận 7 là chính , bàn niên vẫn là di theo .

image
image

Cung càn , Bát thổ sinh cho Thất kim . Thất kim ở ngôi sinh khí lại được thái tuế trợ giúp nên rất sinh vượng . Thất kim là tặc tính nên năm 1994 phương còn có nhiều giặc cướp bóc .

Cung đoài , Cửu hoả sinh cho Bát thổ , nên năm 1994 phương đoài được đại lợi . Cung khôn , Tứ mộc Tam mộc tương hợp với nhau , nhưng mùa hạ và mùa thu là mùa mộc rơi vào hưu từ nên không thể được xem là vượng .

Cung li , Nhị thổ khắc Nhất thuỷ . Nhị là bệnh phù , nhất thủy vào mùa hạ nhập tù , cho nên năm 1994 phương Nam phần nhiều nam giới tuổi trung niên hay chết yểu .

Cung tốn , Lục kim được Ngũ hoàng sinh cho . Ngũ hoàng là khí tai nạn , nên Lục kim có nhiều tai nạn , không cát mà ngược lại là hung . Cung chấn , Ngũ hoàng bị Tứ mộc khắc . Nên năm đó phương chấn tuy có tai nạn nhưng không nặng .

Cung chấn , Nhất thủy khắc Cửu hoả . Năm đó phương cần tuy có nạn hạn hán , nhưng không đến nỗi nghiêm trọng , thời gian cũng không lâu .

Cung khảm , Tam mộc khắc Nhị thổ . Mùa đông mộc yếu , khó khắc được thổ bệnh phủ , cho nên phương khảm có nhiều bệnh tật .

Cung giữa , Thất xích và Lục bạch ngang hoà nhau . Thắt xích là kim khí sắc , lục bạch là đao kiếm , hai cái tương hợp với nhau , tức là đao kiếm gặp nhau , đó không phải là điều cát lợi mà là “ đao kiếm sát ” . Cho nên năm 1994 cung giữa có va chạm súng ống , tranh giành tự lợi rất nhiều .

Thứ ba : quan hệ giữa niên vận và nguyệt vận

Dưới đây lấy năm 1995 ( Ngũ nhập vào cung giữa ) đối với nông lịch là tháng giêng ( Nhị hắc nhập vào cung giữa ) làm ví dụ để nói rõ mối quan hệ giữa niên vận và nguyệt vận . Lấy bàn niên vận làm chính , bàn nguyệt vạn làm phụ .

image
image

Cung càn , Lục kim khắc Tam mộc . Lục được thái tuế trợ giúp cho nên Tam mộc bị khắc tử . Cung đoài , Thất kim khắc Tứ mộc . Tứ mộc bị khắc tử .

Cung khôn , Nhị thổ và Bát thổ ngang hoà , cả hai đều hưng vượng .

Cung ly , Cứu hoả khắc Thất kim . Thất kim ở mùa xuân rơi vào tù , lại bị hỏa khắc nên không được chút lợi nào . Cửu và Thất hợp với nhau là hỏa tiên thiên và hỏa hậu thiên cùng vượng , cho nên tháng giếng cung li gặp nhiều hoả hoạn .

Cung tốn , Tứ mộc được Nhất thuỷ sinh cho . Phương này khó tránh khỏi nhiều tệ nạn dâm đãng .

Cung chấn Tam mộc sinh cho Cửu hoả . Mùa xuân hỏa thuộc thứ vượng , lại được mộc sinh cho nên phương này dễ có hoả hoạn .

Cung cấn , Bát thổ và Ngũ thổ ngang hoà . Bát thổ được lợi , nhưng có nhiều bệnh tật . Cung khảm , Nhất thủy được Thất kim sinh cho . Phương này phát sinh tệ nạn tửu sắc .

Cung giữa Ngũ hoàng và Nhị hắc ngang hoà . Nhị và Ngũ tương hợp với nhau là nhiều bệnh tật . Trong nhà nhiều người mắc bệnh . đặc biệt là bệnh đường ruột và dạ dày . Người già phải đặc biệt chú ý .

Về mối quan hệ giữa các vận bàn với nhau nếu bàn luận rộng ra thì còn nhiều trường hợp , vì vậy ở đây không bàn tiếp . Thực ra mối quan hệ giữa các vận bàn chủ yếu là quan hệ ngũ hành sinh khắc , chẳng qua là ở những thời gian khác nhau thì sử dụng khác nhau mà thôi . Còn về sự phán đoán ngũ hành sinh khắc gây ra họa phúc , sinh tử đối với con người là vấn đề phương pháp , nhưng cũng là vấn đề kinh nghiệm . Điều này phải do người học tự mình nghiên cứu thể nghiệm .