III. LUẬN THU SƠN THOÁT KHÍ VÀ LONG VẬN SINH KHẮC

Toạ sơn lập hướng theo nguyên vận phải tìm được môi trường cư trú mà về dịch lý là vượng sơn vượng hướng, tức là nói một môi trường cư trú lý tưởng cần phải có đủ hai điều kiện cơ bản, một là phải sơn thuỷ (sông núi) đẹp, hai là phải vượng sơn, vượng hướng. Cái trước là hoàn cảnh thực địa, cái sau là chỉ nguyên lý Dịch học. Hai cái thiếu một đều là sai lầm.

Cái gọi là hoàn cảnh thực địa, theo cách nói ngày nay là môi trường sinh thái. Trong đó yêu cầu cơ bản nhất, chính là có núi, có đất rộng, có sông nước. Hàng ngàn năm nay, loài người đã sinh tồn và phát triển ở trên đó, một phút một giây cũng không thể tách rời hai điều kiện cơ bản này.

Cái gọi là nguyên lý Dịch học, chính là dựa theo lý thuyết Hà đồ và Lạc thư để tìm vượng sơn vượng hướng của nguyên vận đương thời, khiến cho người cư trú có thể đạt được hưng vượng phát đạt, xã hội an ninh. Lý thuyết Hà Đổ và Lạc Thư là sự tổng kết kinh nghiệm của những người ở xã hội Trung Quốc cổ đại trải qua thực tiễn hàng ngàn năm mà có. Nó không phải là cái gì do một số văn nhân thuật sĩ nào đó bịa đặt ra, cũng không phải là mê tín.

"Thanh long tự nói “Sơn thượng thần long bất hạ thuỷ, thuỷ lý thần long bất thượng sơn" (Thần long trên núi không xuống nước, thần long trong nước không lên núi). Ý nói vừa là hoàn cảnh, cũng vừa là Dịch lý. Từ hoàn cảnh mà nói, sơn chủ quản nhân đinh (nhân khẩu), thuỷ chủ quản tài nguyên. Có sơn (núi), có địa (đất đai), con người mới có chỗ dựa, có chỗ ở và sinh tồn ; có sông có nước, con người mới có thực phẩm, có của cải. Nếu quả đất chỉ có đại dương không có lục địa thì loài người không thể sinh tồn. Nếu “Thần long trên núi" chìm ngập trong nước, thì con người (nhân đinh) ở vào đâu

đ

ầu ? Nếu "thần long trong nước" tất cả đều chạy cả lên núi (khô cạn) thì của cải sao đến được. Đây là lý lẽ cả đến đứa trẻ lên ba cũng đều rõ. Từ Dịch lý để nói, toạ sơn quản về nhân định, sơn vượng thì nhân định vượng ; hướng thuỷ quản về tiền tài, hướng vượng thì tiền tài vượng. Dưới đây sẽ nêu 3 ví dụ để thuyết minh ý nghĩa môi trường và Dịch lý phải phối hợp với nhau.

image
image

Từ xếp sắp sao để xét sơn ất hướng tân. Vận 7 là vượng sơn vượng hướng (tức đáo sơn đáo hướng), vượng tinh vừa đáo phương sơn của toạ sơn, vừa đáo phương hướng của hướng thuỷ ; Thất Nhị của quẻ sơn là sinh nhập thuộc cát (tốt) ; Tam Thất của quẻ hướng là khắc xuất, thuộc hung (xấu). Lập sơn hướng này của vận 7 vừa có thể vượng đinh, cũng có thể vượng tài, nhất là vượng đỉnh tốt nhất, là một loại toạ hướng rất tốt. Dịch lý phải cùng phối hợp với hoàn cảnh thực địa, mới có thể phát huy tác dụng. Trước tiên, khảo sát môi trường của toạ sơn. Căn cứ hình vẽ của toạ sơn, vị trí Thất của sơn tinh phải có sơn (núi) mới tốt, núi phải đẹp, không thể là đá lô nhô hay vách đá khủng khiếp ; Thất là kim, hình tròn mà lớn, cho nên phải có núi đẹp hình tròn mới giúp cho nhân đỉnh hưng vượng. Sơn tinh Bát ở phương Thân, Bát là sao sinh khí lại là thổ tinh đòi hỏi phương này phải có núi hình thổ mới tốt. Sơn tinh Cửu ở phương Quý, Cửu cũng là sao sinh khí, lại là Hoả tinh đòi hỏi phương này phải có núi hình hỏa mới tốt. Sơn tinh Lục ở phương Tị, là sao thoái khí, phương này không nên có núi, có núi thì xấu. Sơn tinh Nhất tại phương Đinh, là sao sát khí, phương này không nên có núi, có núi thì xấu. Sơn tinh Nhị tại phương Dần, là sao tử khí, phương này không nên có núi, có núi thì xấu. Sơn tinh Tam tại phương Tân là sao tử khí, phương này không nên có núi, có núi là xấu. Sơn tinh Tứ tại phương Hợi, là sao tử khí, phương này không nên có núi, có núi thì xấu. Thứ đến khảo sát môi trường hướng thuỷ (nước). Theo hình vẽ của hướng thuỷ, vị trí của hướng tinh Thất phải có thuỷ (sông nước) mới tốt, sông phải lớn mà quanh co, nước chảy từ từ mà trong vắt, tế nhị hữu tình, không thể là sông chạy thẳng, nước chảy xiết, thác đổ ẩm ẩm hoặc nước tù bẩn ; Thất là đầm (trạch), nơi địa hình thấp bằng phẳng rộng rãi và có đầm ao là tốt, mới có lợi cho việc tích tụ tiền tài. Hướng tinh Bát ở phương Hợi, phương này có sông nước là tốt. Hướng tinh Lục ở phương Dần, Lục là sao thoái khí, không nên có nước. Hướng tinh Ngũ là sao sát khí, không nên có nước, có nước thì xấu. Hướng tinh Tứ là sao tử khí, không nên có nước, có nước thì xấu. Hướng tinh Nhị là tử khí, không nên có nước, có nước thì xấu. Hướng tinh Tam là tử khí, không nên có nước, có nước thì xấu. Hướng tinh Nhất, là sát khí, không nên có nước, có nước thì xấu. Cuối cùng, tổng hợp sự phân bố của sơn thuỷ, để định thu sơn thoát khí. Thất Nhị của phương Ất, cần sơn (núi) không cần thuỷ (sông nước), sơn là tốt, thuỷ là sát, phương này có sơn tức có thể thoát sát của thuỷ. Tam thất ở phương Tân cần thuỷ không cần sơn, thuỷ là tốt, sơn là suy, phương này có nước tức có thể thu suy của sơn. Bát Tam ở phương Thân, cần sơn không cần thuỷ, sơn là tốt, thuỷ là sát, phương này có sơn tức có thể thoát sát. Tứ Bát ở phương Hợi, cần thuỷ không cần sơn, thuỷ là tốt, sơn là suy, phương này có thuỷ tức có thể thu sơn. Cửu Tứ ở phương Quý, cần sơn không cần thuỷ, Sơn là tốt, thuỷ là sát, phương này có sơn tức có thể thoát sát. Ngoài ra ở phương Tị, phương Đinh, phương Dần, ba phương này vừa không cần sơn, cũng không cần thuỷ, chỉ cần có bãi bằng là được.

Vi dụ 2. Vận 7, sơn Đinh hướng Quý.

image
image

Từ trên hình sắp xếp sao ta thấy, sơn Đinh hướng Quí thuộc vận 7 là song tinh đáo hướng, thuộc cục "hạ thuỷ" nên tổn định. Nhưng do vượng tinh đáo hướng, cho nên có thể vượng tiền tài. Lục Bát quẻ sơn là sinh nhập, thuộc cát (tốt) ; quẻ hướng ngang hoà thuộc cát (tốt). Loại toạ hướng này, nếu môi trường sơn thuỷ phối hợp, các nhà phong thuỷ học cũng áp dụng nhiều. Trước tiên, khảo sát môi trường của toạ sơn. Theo hình vẽ của toạ sơn, sơn tinh Lục là thoái khí, phương này không nên có sơn (núi). Sơn tinh Thất đáo phương Quý, phương này nên có núi hình tròn mới là tốt. Sơn tinh Bát đáo phương Thân, phương này là sinh khí, có núi là tốt. Sơn tinh Cửu đáo phương Ất, phương này là sinh khí, có núi là tốt. Các phương còn lại nếu không phải là sát khí thì là tử khí, không có núi là tốt, có núi là xấu. Thứ đến khảo sát môi trường của phương thuỷ. Theo hình vẽ của hướng thuỷ, phương Quý của hướng tinh Thất cần phải có thuỷ (sông nước) có thuỷ là tốt. Phương Đinh của hướng tinh Bát là phương sinh khí, có thuỷ là tốt. Phương Dần của hướng tinh Cửu cũng là phương sinh khí, có nước là tốt. Phương Dần vẫn là thành môn phụ của hướng Quý, sinh khí thêm vượng khí càng thêm tốt hơn. Các phương còn lại không là sát khí cũng là tử khí, không có thuỷ là tốt, có thuỷ thì xấu. Cuối cùng tổng hợp sự phân bố của sơn và thuỷ, để định thu sơn thoát sát. Phương Đinh cần thuỷ không cần sơn, có thuỷ là tốt, có sơn là xấu, phương này có thuỷ (sông nước) thì có thể thu sơn. Phương này nếu không có thuỷ, cũng phải bằng phẳng không có chướng ngại, phải là toạ không, tìm cục “toạ không triều mãn". Phương Quý vừa cẩn thuỷ cũng cần sơn. Vì hướng tinh vượng là Thất bên cạnh thuỷ (nước), 'sơn tinh vượng là hướng Thất hướng về sơn, sơn thuỷ cùng tụ về phương của hướng, nên là triều mãn, tìm cục “toạ không triều mãn". Bát lục ở phương Thân, cần sơn không cần thuỷ, sơn là tốt, thuỷ là sát. Phương này có sơn tức có thể thoát sát của thuỷ. Cửu Ngũ ở phương Ất, cần sơn không cần thuỷ, sơn là tốt, thuỷ là sát, phương này có sơn tức có thể thoát sát của thuỷ. Ngũ Cửu ở phương Dần, cần thuỷ không cần sơn, thuỷ là tốt, sơn là suy, phương này có thuỷ, tức có thể thu suy của sơn. Các phương còn lại như phương Tị, phương Tuất, phương Tân, vừa không cần sơn, cũng không cần thuỷ, chỉ có khoảng đất bằng phẳng là được. Cục này có hai chỗ đặc biệt : phương Tị là Nhất Tứ, phương Tân là Tứ Nhất, vùa đúng nhận được cái hay của Nhất Tứ cùng nhóm. Nếu như hai phương này đều có núi to và cao, đẹp chắc chắn sẽ xuất hiện người có học được làm quan, bất kể là sơn thaỷ hung sát ra sao đều cho là tốt.

Ví dụ 3. Vận 7, sơn Càn hướng Tốn.

image

Nhìn từ hình sắp xếp sao ta thấy, sơn càn hướng tốn của vận 7 là cục “Thượng sơn hạ thuỷ" phá tài tổn đình. Cửu Thất ở quẻ sơn là khắc xuất, xấu, Thất Ngũ ở quẻ hướng là sinh xuất, tốt. Là cục mà toàn bộ đều không thể chọn. Nhưng nếu môi trường phối hợp thích đáng, đảo ngược sơn thuỷ thì không phải là không thể chọn dùng.

Trước tiên khảo sát môi trường toạ sơn. Theo hình của toạ sơn, Cửu của sơn tinh ở phương Càn, là sinh khí, có núi là tốt, nhứng Thất của hướng tinh lại yêu cầu có thuỷ, cho nên ở phương này cần phải có nước ở chỗ gần, chỗ xa có núi mới có thể dùng. Thất của sơn tinh phương Tốn là vượng khí, có núi là tốt. Các phương còn lại, không nên có núi, có núi là xấu. Sau đó, khảo sát môi trường của hướng thuỷ. Căn cứ hình vẽ của hướng thuỷ, hướng tinh Ngũ ở phương Tốn là sao suy bại, phương này không nên có sông nước mà nên có núi. Thất là sơn tinh ở phương Tốn, cần có núi. Hướng tinh ở phương Dậu là Bát, hướng tinh ở phương Cấn là Cửu, hai phương này cần có nước mà không cần núi. Các phương còn lại không nên có thuỷ, có thuỷ là xấu. Cuối cùng, tổng hợp sự phân bố của sơn và thủy để định thu sơn thoát sát. Ở phương sơn Càn là Cửu Thất, đòi hỏi vừa có sơn lại có thuỷ, sơn thuỷ tương khắc, tài vượng, đinh không vượng. Ở phương hướng Tốn là Thất Ngũ cần có sơn không có thuỷ, sơn là tốt, thuỷ là sát, có sơn tức có thể thoát sát của thuỷ. Phương Cấn cần thuỷ không cần sơn, thuỷ tốt có thể thu cái xấu của sơn. Phương Dậu cần thuỷ không cần sơn, thuỷ tốt có thể thu cái xấu của sơn. Từ đó ta thấy, sơn Càn hướng Tốn của vận 7 là cục đảo ngược sơn thuỷ. Nếu môi trường sơn thuỷ phối hợp cũng có thể chọn dùng. Nhưng, việc này chỉ là trường hợp bất đắc dĩ mới dùng nó. Nếu hoàn cảnh cho phép thì không nên chọn cục “thượng sơn hạ thuỷ' này. Mặc dù có thể đảo ngược sơn thủy, nhưng sao đầu của hướng là mấu chốt của nạp khí, là quyền hành của hoạ phúc. Nay đem nạp khí và quyền thao túng đổi lại giao cho sao của toạ sơn, xét đến cùng là trái với lẽ thường nên dù có phúc cũng giảm.

Phàm là toạ sơn lập hướng, ngoài việc bảo đảm Dịch lý phối hợp với hoàn cảnh, thu sơn thoát sát ra, còn phải xem xét đến quan hệ Ngũ hành sinh khắc của thế đến của dãy núi (tức phương của lai long) với thời vận. Trong đó vận khắc long, chủ quản tổn đỉnh ; long khắc vận, chủ quản phân tán đỉnh ; vận sinh long, chủ quản vượng đinh ; long sinh vận chủ quản phân tán định ; long vận ngang hoà chủ quản vượng đinh.

Ví dụ . Vận 9, sơn Ngọ hướng Tí

image

Từ hình vẽ sắp xếp sao ta thấy, vận 9 lập sơn Ngọ hướng Tí, vượng tinh đáo hướng, nên là cục tốt, nhưng lai long của dải núi đến từ phương Đoài. Tức hướng đi từ Đoài đến Chấn. Sơn tinh của phương Đoài là Lục. Lục là Càn kim, tức lai long là kim long. Vận Chín là vận hoả. Đang phạm hoả vận khắc kim long, mộ táng ở đó thì tổn đình, nhà ở nơi đó thì khắc đình. Nếu lai long của dải núi là từ phương Ngọ đến, sơn tinh của phương Ngọ là Bát, Bát là Cấn thổ, tức lai vận sinh Thổ long, mộ táng ở đó thì vượng, nhà ở đó thì thêm đinh. Nếu dải núi là từ phương Khôn đến, Sơn của phương Khôn là Nhất, Nhất là Khảm thuỷ, tức lai long là Thuỷ long. Vận chín là vận hoả, chính là phạm thuỷ long khắc hoả vận, tức long bị phát tiết xì hơi, nhân đỉnh suy nhược. Cho nên toạ sơn lập hướng cũng phải chú ý quan hệ này của long và vận.