III. LẬP QUẺ THEO THỨ TỰ SAO

Sau khi đã hiểu được âm dương của 24 sơn và hướng cũng như Dịch lý của chúng , bây giờ chúng ta bắt đầu nghiên cứu phương pháp sắp xếp theo thứ tự sao .

Gọi là sắp xếp thứ tự sao tức là dùng phi tinh cửu cung phối quẻ theo vận và theo Bản , hướng , căn cứ theo âm dương thuận nghịch để phối với các sao . Cách làm có thể theo 4 bước dưới đây .

Bước 1 : dùng phi tinh cửu cung phối quẻ theo vận

Dịch lý của phi tinh cửu cung trong mục “ Quỹ tích của phi tinh cửu cung đã nói ở phần trên , độc giả có thể xem lại mục đó . Bảng các phi tinh cửu cung thể hiện : mỗi tinh bàn một sao nhập vào cung giữa , 8 sao còn lại phân phối theo 8 phương . Phương pháp cho một sao nhập vào giữa rồi phân phối phương vị của 9 sao này gọi là phối quẻ . Vi 1 Bao Nhất nhập vào giữa , tức là vận 1. Lúc đó Nhất bạch thuỷ tinh nắm vận , tiếp theo là Nhị hắc thổ tinh phối với quẻ Càn , Tam bích mộc tinh ở quẻ Đoài , Tứ lục mộc tỉnh ở quẻ Cấn , Ngũ hoàng thổ tinh ở quẻ Ly , Lục bạch kim tinh ở quẻ Khảm , Thất xích kim tinh ở quẻ Khôn , Bát bạch thổ tinh ở quẻ Chấn , Cửu tử hoả tinh quẻ Tốn . Dưới đây giới thiệu các bảng phối quẻ lần lượt từ Nhất - Cửu nhập vào giữa .

image
image

Trong các bảng sao nhập vào giữa , ngoài biểu hiện bản thân - vượng và nắm lệnh , còn biểu thị thời vận . Nhất nhập giữa biểu thị vận 1 , Nhị nhập giữa biểu thị vận 2 , ... cứ thế tiếp tục cho đến Cửu nhập giữa . Dưới đây là thời hạn các vận của thời gian gần đây .

Vận 1 : từ năm 1864 đến 1883 .

Vận 2 : từ năm 1884 đến 1903 .

Vân 3 : từ năm 1904 đến 1923 .

Vận 4 : từ năm 1924 đến 1943 .

Vận 5 : từ năm 1944 đến 1963 .

Vận 6 : từ năm 1964 đến 1983 .

Vận 7 : từ năm 1984 đến 2003 .

Vận 8 : từ năm 2004 đến 2023 .

Vận 9 : từ năm 2024 đến 2043 .

Tra các thời vận trên đây sẽ biết được hiện nay đang thuộc hạ nguyên vận 7. Muốn xây dựng nhà , toạ sơn lập hướng phải dùng bảng phối quẻ Thất xích kim tinh nhập vào giữa .

Bước 2 : xác định hơn và hướng .

Ví dụ muốn xây nhà theo sơn nhâm hướng bính , tức toạ là nhâm . hướng nhà là bính . Nếu xây dựng nhà vào thời kỳ vận 7 thì nhâm là Tam , bính là Nhị . Nếu xây dựng nhà vào thời kỳ vận 6 thì nhâm là Nhị , bính là Nhất . Nếu xây dựng nhà vào thời kỳ vận 8 thì nhâm là Tứ , bính là Tam . Các vận khác được suy ra theo cách tương tự .

Bước 3 : căn cứ theo âm dương để xác định bay thuận hay bay ngược .

Trong 24 sơn , có 12 sơn thuộc dương , 12 sơn thuộc âm . Những Sơn thuộc dương đều bay thuận , những Sơn thuộc âm bay ngược .

Quẻ càn : Hai sơn : càn , hợi thuộc dương , bay thuận .

Sơn tuất thuộc âm , bay ngược .

Quẻ đoài : Hai sơn : dậu , tân thuộc âm , bay ngược .

Sơn canh thuộc dương , bay thuận .

Quẻ khôn : Hai sơn : khôn , thân thuộc dương bay thuận .

Sơn mùi thuộc âm , bay ngược .

Quẻ ly : Hai sơn : ngọ , đinh thuộc

Âm , bay ngược .

Sơn bính thuộc dương , bay thuận .

Quẻ tốn : Hai sơn : tốn , tị thuộc dương , bay thuận .

Sơn thìn thuộc âm , bay ngược .

Que chấn : Hai sơn : mão , ất thuộc âm , bay ngược .

Sơn giáp thuộc dương , bay thuận .

Quẻ cấn : Hai sơn : cấn , dần thuộc dương , bay thuận .

Sơn sửu thuộc âm , bay ngược .

Quẻ khảm : Hai tý , quý thuộc âm , bay ngược .

Sơn nhâm thuộc dương , bay thuận .

Phương pháp bay thuận và bay ngược được thực hiện như thế nào độc giả có thể xem mục “ Bay thuận và bay ngược ” để biết . Dưới đây lấy mối quan hệ quẻ càn và quẻ tốn của vận 7 để giải thích .

Vi dụ 1. Sơn tuất , hướng thìn , quẻ địa nguyên , bát là sơn , lục là hướng Địa nguyên của bát là âm bay ngược .

Địa nguyên của Lục là âm , bay ngược . Địa nguyên có lục là âm, bay ngược.

image
image

Bảng tổng hợp là ba bảng trên hợp nhất , chữ số hàng dưới trong mỗi ô là số “ phối quả của vận 7. Chữ số bên trái góc trên của mỗi là số sơn tuất khi Bát nhập giữa bay ngược , chữ số bên phải là số hướng thìn , khi Lục nhập giữa bay ngược . Độc giả có thể nhớ là “ Trái sơn , phải hướng ” .

Ví dụ 2. Sơn cần hướng tốn , quả thiên nguyên , Bát là sơn , Lục là hướng .

Thiên nguyên của Bát dương , bay thuận . Thiên nguyên của Luc là dương , bay thuận .

image
image

Trong bảng tổng hợp , chữ số phía dưới của mỗi ô là số “ Phối quẻ của vận 7. Số bên trái góc trên của mỗi ô là số Sơn càn , Bát nhập giữa , bay thuận Số bên phải là số hướng tốn , Lục nhập giữa , bay thuận . Có thể nhớ là “ Trái sơn , phải hướng ” .

Ví dụ 3. Sơn hợi , hướng tị , quẻ nhân nguyên , bát là sơn , lục là hướng .

Nhân nguyên của Bác là dương , bay thuận , nhân nguyên của Lục là dương , bay thuận .

image

image

Chữ số và phương vị trong bảng tổng hợp sơ hơi hướng tị . hoàn toàn giống với số và phương vị của sơn cần hướng tốn là vì tính chất của 4 sơn này giống với cần tốn , đều là dương tính , bay thuận . Độc giả hãy đối chiếu ba bảng tổng hợp trên thì sẽ rõ được phương pháp dùng bay thuận và bay ngược .

Hai sao sơn và hướng của ba ví dụ trên là âm dương bay thuận và bay ngược được quyết định bởi hai điều kiện .

Thứ nhất là do toạ và hướng của tam nguyên đã chọn quyết định . Sơn tuất hướng thìn thuộc địa nguyên long , Sơn cần hướng tốn thuộc thiên nguyên long , sơn hợp hướng tị thuộc nhân nguyên long .

Thứ hai là vì phương vị hậu thiên bát quái vốn do hai sao Sơn và hướng quyết định . Sơn tuất hướng thìn đóng ở Bát , hướng Lục . Bát thuộc quẻ cấn , địa nguyên long của quả cấn là sửu . Sửu là âm cho nên Bát là âm , bay ngược ; Lục thuộc quẻ càn , địa nguyên long của quả càn là tuất , tuất là âm , cho nên Lục là âm , bay ngược . Sơn càn hướng tốn , toạ Bát hướng Lục . Bát thuộc thiên nguyên long quẻ cấn . Cần là dương nên lấy Bát là dương bay thuận . Lục thuộc thiên nguyên long quẻ càn . Càn là dương , nên Lục là dương bay thuận . Sơn hơi hướng tị , toạ Bát hướng Lục . Bát thuộc dẫn của nhân nguyên long quẻ cấn , dần là dương nên Bát là dương , bay thuận . Lục thuộc hại của nhân nguyên long quẻ càn . Họi là dương , nên Lục là dương bay thuận .

Ba ví dụ trên được giải thích như thế , âm dương của các bạn và hướng được sắp xếp theo sao bay thuận bay bay ngược cũng được hiểu tương tự . Độc giả luyện tập mấy lần chắc sẽ dần dần nắm vững .

Bước bốn : nhận thức đối với việc lập quẻ theo sao .

Lập quẻ là một bộ phận cơ bản của thuật sắp xếp theo sao . Sơn và hướng dùng phép lập quẻ theo sao để xác định gọi là phương chính . Dùng la bàn đo độ tức là dùng kim la bàn đặt trùng với đường của sơn và hướng . Sau khi xác định được hướng chính thì lập bảng tổng hợp về sơn và hướng , căn cứ bảng đó mà nhận thức Dịch lý của vấn đề . Nhận thức chủ yếu nhất có 3 điểm .

Thứ nhất phải nắm vững tinh bàn . Bàn hậu thiên bát quái vốn gọi là địa bàn , nó ghi rõ 8 phương vị cố định là Càn , Khôn , Chấn , đoài , Khảm , Ly . Cấn , Tốn . cũng tức là 8 quẻ cố định . Bàn bố trí theo các nguyên vận khác nhau gọi là thiên bàn , cũng gọi là vận bàn . Từ Nhất đến Cửu nhập và Thứ nhất , phải nắm giữa , cộng tất cả có 9 vận bàn . Cho dù lập được sơn và hướng gì đều phải phối hợp với thiên bàn , căn cứ theo sao của thiên bàn để lập nên Sơn và hướng . Tinh bàn phân bố thuận nghịch theo âm dương gọi là phi tinh bàn , trong đó bên trái là phi tỉnh bàn toạ sơn hoặc gọi là sơn bàn ; bên phải là phi tinh bàn của hướng , gọi là hướng bàn . Các sản tỉnh ( bên trái ) và các hướng tinh ( bên phải ) của toạ sơn hợp chung lại gọi là quẻ sơn ; các sơn tinh ( bên trái ) và hướng tinh ( bên phải ) của hướng sơn gọi chung là quẻ hướng . Cần phân biệt rõ tên gọi của các loại tinh bàn , nếu không sẽ rất khó diễn tả ý nghĩa các bước sắp xếp theo sao.

Thứ hai là phải phân rõ “ vượng sơn , vượng hướng ” và “ Thượng sơn , hạ thủy . Sau khi sắp xếp theo sao , xác định được sơn và hướng để lập ra bàn tổng hợp thì cần phải phân biệt “ vượng Sơn , vượng hướng " và " thượng sơn , hạ thủy " . " Vượng sơn , vượng tướng " còn gọi là " đáo sơn đáo hướng " , tức là vượng tinh ( chỉ sao nhập vào giữa ) vừa đáo toạ phương , vừa đáo hướng . Trong ví dụ 1 , “ Sơn tuất hướng thìn ” chính là vượng tinh vừa đáo toạ sơn , vừa đáo hướng . Quẻ sơn của toạ phương là Thất , Ngũ . Thất ở bên trái là sơn tinh , tức sơn tinh đáo phương sơn , Ngũ ở bên phải là hướng tinh , là suy tinh . Quẻ hướng là Cửu , Thất Thất ở bên trái là hướng tinh đáo hướng , Cửu ở bên phải là sơn tinh , tức là suy tinh . Điều đó chứng tỏ " sơn tuất hướng thần " là vượng Sơn vượng hướng . Trong ví dụ 2 “ sơn cần hướng tốn ” , vượng tinh Thất cũng đảo Sơn và đáo hướng , nhưng vì ngôi quẻ khác nhau nên hướng của quả sơn là Cửu Thất , Cứu bên trái là sơn tinh , Thất bên phải là hướng tinh , tức là hướng tinh chạy sang phía toạ sơn . Còn hướng của quẻ hướng là Thất Ngũ , Thất ở bên trái là sơn tinh , Ngũ ở bên phải là hướng tinh , tức là sơn tinh chạy sang bên hướng . Điều đó chứng tỏ ở vận 7 lập " sơn cần hướng tốn " là cục “ thượng Sơn , hạ thủy " . Theo Dịch lý thì long thần ở thượng sơn không hạ thuỷ . long thần ở hạ thủy không thượng sơn . Nếu long thần trên sơn thượng đã hạ thuỷ sẽ xuất hiện hiện tượng tổn thất đinh ; nếu long thần ở hạ thuỷ đã thượng sơn sẽ xuất hiện hiện tượng phá tài Cho nên " sơn cần hướng tốn " thuộc cục tốn định , phá tài . Tương tự , ở ví dụ 3 “ Sơn hợi hướng tỵ " cũng là " thượng Sơn , hạ thủy " , thuộc cục tổn định phá tài . Cho nên phân biệt “ vượng Sơn vượng hướng với

“ thượng Sơn , hạ thuỷ là rất quan trọng , nhưng cũng rất dễ lẫn lộn . Độc giả nhất định phải xem xét cẩn thận .

Thứ ba là phải nhận thức rõ cục song tinh đáo hướng hoặc song tinh đáo sơn , tức là tinh của vượng sản và tinh của vương hướng đi tụ ở hướng hay ở Sơn . Nếu cùng tụ ở Sơn thì vượng đinh và phá tài vì long thần ở hạ thuỷ thượng sơn , nếu cùng tụ ở hướng thì vượng tài mà tổn đinh vì long thần ở thượng sơn hạ thuỷ . Điều này phải xem cụ thể điều kiện môi trường sông núi . Nếu song tinh tụ ở hướng thi phía hướng phải có thuỷ( Loan đầu) . Nếu ngoài thuỷ còn có sơn nữa thì long thần thượng sơn không phạm vào hạ thuỷ . Cách lập hướng như thế là được . Nếu song tinh tụ ở Sơn thì cũng tương tự , tức phía sơn phải có sơn . Nhận thức về cách lập quẻ theo sao không chỉ lấy 3 điểm trên mà còn cần có nhận thức về các mặt khác . Để đáp ứng độc giả từng bước đi sâu , sau đây xin giới thiệu một số nhận thức khác .