III. BÀN VỀ PHẢN NGÂM, PHỤC NGÂM

Khi sắp xếp hai sao của sơn và hướng, có thể xuất hiện trường hợp đặc biệt là sơn tinh gặp Ngũ hoàng, hoặc hướng tinh gặp Ngũ hoàng. Hễ gặp Ngũ hoàng nhập cung giữa bay thuận thì sự phân bố của các tinh khác tất nhiên phải trùng với địa bàn, tức vận tinh trùng lặp với địa bàn : Lục trùng với càn, Thất trùng với đoài, Bát trùng với cấn, Cửu trùng với ly, Nhất trùng với khảm, Nhị trùng với khôn, Tam trùng với chấn, Tứ trùng với tốn, Ngũ trùng với mậu. Đây là hiện tượng trùng lặp của khí có tính chất như nhau, trong Tham dự học gọi là phục ngâm. Ngâm là ca xướng, là đọc ngâm nga. Phục ngâm có nghĩa là ngâm vịnh lặp đi lặp lại. Ngược lại khi Ngũ hoàng nhập vào cung giữa bay ngược thì sự phân bố của các sao sē trái ngược với địa bàn, tức vận tinh đứng sóng đôi với địa bàn : Lục sóng đôi với tốn (tức Lục vào vị trí tốn), Thất sóng đôi với chấn, Bát sóng đội với khôn, Cửu sóng đôi với khảm, Nhất sóng đôi với ly, Nhị sóng đôi với cấn, Tam sóng đôi với đoài. Tứ sóng đôi với càn. Đây là hiện tượng các khí có tính chất trái ngược nhau đứng sóng đôi trong cùng một cung, trong phong thủy học gọi là phản ngâm, tức là xướng ca ngược điệu.

Phàm sắp xếp sao để lập cục. Nhất Nhị Tam Tứ và Lục Thất Bát Cửu, mỗi vận tinh nhập vào cung giữa thì Ngũ hoàng tất phải chuyển đến một cung nào đó. Khi Nhất bạch vào cung giữa, Ngũ hoàng đến cung ly ; Nhị hắc vào cung giữa, Ngũ hoàng đến cung cấn ; Tam bích nhập cung giữa, Ngũ hoàng đến cung đoài ; Tứ lục nhập cung giữa, Ngũ hoàng đến cung càn : Lục bạch nhập cung giữa, Ngũ hoàng đến cung tốn ; Thất xích nhập cung giữa, Ngũ hoàng đến cung chấn : Bát bạch nhập cung giữa. Ngũ hoàng đến cung khôn ; Cửu tử nhập cung giữa, Ngũ hoàng đến cung khảm. Vị trí gốc của Ngũ hoàng vốn là ở cung giữa. nhưng do thời vận chuyển đổi nên các vận tinh lần lượt nhập vào cung giữa, khi đó vị trí của chúng ở 8 phương được Ngũ hoàng chuyển vào thay thế. Ví dụ khi Nhất vào cung giữa, vị trí cung ly bỏ trống. Ngũ hoàng thay vào đó. Khi Nhị nhập cung. giữa, vị trí của cấn bỏ trống. Ngũ hoàng thay vào đó. Các cung còn lại cứ thế suy ra. Bản thân Ngũ hoàng chẳng những là khí của mậu, kỉ thổ mà còn mang theo khí của sao nhập vào cung giữa. Khi Nhất uhập cung giữa thì Ngũ hoàng mang theo khí của Nhất bạch. Khi Nhị nhập cung giữa, Ngũ hoàng mang theo khí của Nhị thổ. Khi Tam nhập cung giữa, Ngũ hoàng mang theo khí của Tam mộc... Các cung còn lại cứ thế suy ra. Khí mà Ngũ hoàng mang theo vừa trái ngược với địa bàn mà nó bay vào, cho nên Ngũ hoàng đến bất cứ cung nào đều thuộc phản ngâm.

Tất cả 24 sơn, hướng xếp sao được 216 cục, trong đó có 12 sơn, hướng, 28 cục là cục phục ngâm hoặc phản ngâm. Cụ thể như sau:

Sơn nhám hướng binh :Vận 1 hướng tinh toàn bộ phản phục ngâm Vận 9 sơn tinh toàn bộ là phản phục ngâm.

Sơn binh hưởng nhâm : Vận 1 sơn tinh toàn bộ phản phục ngâm. Vận 9 hướng tinh toàn bộ là phản phục ngâm.

Sơn cấn hưởng khôn : Vận 2 sơn tinh toàn bộ là phản phục ngâm. Vận 5 sơn tinh của sơn và hướng tinh của hướng toàn bộ là phản ngâm. Vận 8 hướng tinh toàn bộ phản phục ngâm.

Sơn khôn hưtớng cấn : Vận 2 hướng tinh toàn bộ phản phục ngâm. Vận 5 hướng tinh của sơn và sơn tinh của hướng phản ngâm. Vận 8 sơn tinh toàn bộ phản phục ngâm.

Sơn dần hướng thân : Vận 2 sơn tinh toàn bộ là phản phục ngâm. Vận 5 sơn tinh của sơn và hướng tinh của hướng phản ngâm. Vận 8 hướng tinh toàn bộ phản phục ngâm.

Sơn thân hướng dần : Vận 2 hướng tinh toàn bộ phản phục ngâm. Vận 5 hướng tinh của sơn và sơn tinh của hướng phản ngâm. Vận 8 sơn tinh toàn bộ là phản phục ngâm.

Sơn giáp hướng canh : Vận 3 hướng tinh toàn bộ phản phục ngâm. Vận 7 sơn tinh toàn bộ là phản phục ngâm.

Sơn canh hướng giáp : Vận 3 sơn tinh toàn bộ là phản phục ngâm. Vận 7 hướng tinh toàn bộ là phản phục ngâm.

Sơn tốn hướng càn : Vận 4 hướng tinh toàn bộ là phản phục ngầm. Vận 6 sơn tinh toàn bộ là phản phục ngâm.

Sơn càn hướng tốn : Vận 4 sơn tinh toàn bộ là phản phục ngâm. Vận 6 hướng tinh toàn bộ là phản phục ngâm.

Sơn hợi hướng tị : Vận 4 sơn tinh toàn bộ là phản phục ngâm. Vận 6 hướng tinh toàn bộ là phản phục ngâm.

Sơn tị hướng hợi : Vận 4 hướng tinh toàn bộ là phản phục ngâm. Vận 6 sơn tinh toàn bộ là phản phục ngâm.

Ngoài phản phục ngâm và phản ngâm do Ngũ hoàng nhập cung giữa bay thuận và bay ngược gây ra, còn có phản phục ngâm và phản ngâm do phi tinh và các chữ của thiên bàn giống nhau gây ra nữa. Trường hợp này vừa phát sinh tại hai cung tọa và hướng, lại cũng phát sinh tại hai cung không phải là tọa và hướng. Ở đây không liệt kê ra cụ thể, độc giả khi sử dụng phải hết sức chú ý.

Ví dụ. Sơn cấn hướng khôn : vận 1, sơn tinh của phương cấn và vận tinh phục ngâm, phát sinh tại hai cung tọa sơn và lập hướng.

Sơn khôn hướng cấn : vận 1, hướng tinh của phương cấn và vận tinh phục ngâm, phát sinh tại hai cung tọa sơn và lập hướng.

Sơn tí hướng ngọ : vận 2, sơn tinh của cung chấn và vận tinh phục ngâm, phát sinh tại hai cung không phải tọa và hướng.

Sơn ngọ hướng tí : vận 2, hướng tinh của cung chấn và vận tinh phục ngâm, phát sinh tại hai cung không phải tọa và hướng.

Ngoài ra phục ngâm và phản ngâm còn phát sinh trên tinh bàn của "quẻ thay kiêm hướng" (về "quẻ thay kiêm hướng" sẽ bàn đến ở phần sau), đó chính là "tám quẻ thuần".

Ví dụ. Sơn càn hướng tốn, vận 5. Sơn tinh và hướng tinh của phi tinh bàn toàn bộ là phục ngâm.

image

Tám quẻ thuần chỉ phát sinh trên "quẻ thay kiêm hướng" của tọa sơn và lập hướng tại hai cung càn và tốn. Tất cả có sáu tinh bàn : tức là vận 5 sơn càn hướng tốn (kiêm tuất thìn, tị hợi) ; vận 5 sơn tốn hướng càn (kiêm thìn tuất, tị hợi) ; vận 5 sơn hợi hướng tị (kiêm càn tốn, nhâm bính); vận 5 sơn tị hướng hợi (kiêm tốn càn, bính nhâm); vận 5 sơn tuất hướng thìn (kiêm càn tốn, tân ất) ; vận 5 sơn thìn hướng tuất (kiêm tốn càn, ất tân).

Phần nhiều cục của phục ngâm và phản ngâm đều không hẹn mà hợp với 3 cách "thượng sơn", "hạ thủy" và "thượng sơn hạ thủy". Các cục phục ngâm và phản ngâm của mấy loại tọa hướng : cấn khôn, khôn cấn, dần thân, thân dần, giáp canh, canh giáp vừa nêu ở trên đều đồng thời vừa là cục "thượng sơn hạ thủy". Còn nhâm bính, bính nhâm, tốn càn, càn tốn, hợi tị, tị hợi và các cục phản ngâm, phục ngâm của 8 quẻ thuần đều thuộc cục "thượng sơn" hoặc "hạ thủy". Các tai họa phản ngâm hay phục ngâm thường phát sinh đồng thời với tai họa của "thượng sơn hạ thủy".

Phạm phản ngâm hoặc phạm phục ngâm thường cớ tác hại gì ?

Phạm phản ngâm hoặc phạm phục ngâm thực chất là phạm khí quẻ xung nhau hoặc khí quẻ trùng nhau, chủ yếu biểu hiện thành 3 tình huống :

Tình huống thứ nhất là hai phương tọa sơn và lập hướng đều phản ngâm hoặc phục ngâm. Phàm tọa sơn, lập hướng trong đó có một phương là Ngũ hoàng thì tất sẽ phạm phản ngâm hoặc phục ngâm. Một phương của Ngũ hoàng vốn đã phạm phản ngâm, cộng thêm phi tinh của nó nhập vào cung giữa lại phạm thêm phục ngâm, cho nên đã phạm phản ngâm, lại còn phạm phục ngâm. Phạm phản ngâm là phạm khí quẻ xung nhau, tai họa rất ác liệt. Vận 1 Ngũ hoàng thay Nhất thủy nhập vào cung ly xung với ly hỏa. Vận 2 Ngũ hoàng thay Nhị thổ nhập vào cung cấn xung nhau với cấn thổ (mậu, kỉ thổ âm dương xung nhau). Vận 3 Ngũ hoàng thay Tam mộc khí nhập vào cung đoài xung với đoài kim. Vận 4 Ngũ hoàng thay Tứ mộc khí nhập vào cung càn xung với càn kim. Vận 6 Ngũ hoàng thay lục kim khí nhập vào cung tốn xung với tốn mộc. Vận 7 Ngũ hoàng thay Thất kim khí nhập vào cung chấn xung với chấn mộc. Vận 8 Ngũ hoàng thay Bát thổ khí nhập vào cung khôn xung với khôn. Những khí xung nhau đó khắc sát lẫn nhau, tức hai loại khí trái ngược nhau, cùng chung một cung khắc nhau tạo nên tai sát. Do đó Ngũ hoàng nếu đến cung Bát ắt sẽ là tai sát lớn. Còn về phi tinh của tọa sơn, lập hướng phạm phục ngâm thì thường thường lại như không hẹn mà gặp với "thượng sơn hạ thủy", tức vì long thẩn nhầm vị trí mà đưa đến tai họa hao đỉnh phá tài. Cái gọi là đại tai họa của phản ngâm hay phục ngâm thực tế là do tai họa khí quẻ xung nhau cộng thêm tai họa do long thần nhầm vị trí. Hai tai họa này hợp lại mà tạo nên. Cho nên phạm phản ngâm, phục ngâm là hiểm hoạ rất lớn. Đặc biệt là phương để lập hướng thì càng dễ gặp tai họa.

Tình huống thứ hai là sáu cung còn lại phạm phản ngâm, phục ngâm. Sáu cung còn lại xuất hiện khí quẻ trùng nhau, tức có phục ngâm, không có phản ngâm. Nếu sao thuộc đương vận phạm phục ngâm không thể có hại, trái lại có thể là có phúc. Nếu sao thuộc sinh khí phạm phục ngâm cũng không thể có hại, ngược lại sẽ có lợi. Nếu các sao thoái khí, suy khí, tử khí phạm phục ngâm thì sẽ đẩy nhanh thoái khí, làm tăng suy khí, tăng thêm nhiều lần tử khí cho nên đã hung càng thêm hung, tai họa triền miền chổng chất.

Tình huống thứ ba là Ngũ hoàng nhập cung giữa bay ngược tạo nên một số cung không phải là hai cung tọa sơn lập hướng phạm phản ngâm. Khi Ngũ hoàng nhập cung giữa bay ngược, cung vị mà nó tồn tại ắt sẽ là nơi vượng tinh đến, tất nhiên có thể phát phúc, nhưng phi tinh của các cung khác có khả năng xuất hiện hiện tượng phản ngâm. Ngoài ra, bai cung tọa, hướng cấn khôn, khôn cấn, dần thân, thân dần thuộc vận 5 cũng phạm phản ngâm. Đã là phản ngâm tất nhiên sẽ xuất hiện khí quẻ xung nhau gây nên tai họa.

Làm thế nào để tránh phạm phải phản ngâm, phục ngâm ?

Biện pháp căn bản nhất là chọn chỗ ở khác, chọn chỗ đất "vượng sơn vượng hướng" để xây nhà ở và dđời đến đó. Ngoài ra phạm phản ngâm, phục ngâm nếu gặp quẻ Tam ban thì sẽ không gặp tại họa nữa.

Ví dụ. Sơn cấn hướng khôn, vận 2 là cục "thượng sơn hạ thủy".

image

Tọa sơn lập hướng này, Ngũ đáo sơn phạm phản ngâm, Bát Nhị phạm phản ngâm. Bát đáo hướng phạm phản ngâm, sơn tinh Nhị phạm phục ngâm, tất cả sơn tinh của sáu cung khác trên phi bàn đều phạm phục ngâm. Thêm vào đó còn là cục "Thượng sơn hạ thủy", nên cục này không có gì tốt, dễ gặp tai nạn.

Nhưng xem xét lại một cách tỉ mỉ hơn thì toàn bàn hợp thành quẻ Tam ban. Ba cung tốn khảm đoài mỗi cung đều là Nhất Tứ Thất, ba cung ly chấn càn mỗi cung đều có Tam Lục Cửu, hai cung cấn và khôn cùng với cung giữa đều có Nhị Bát Ngũ. Hơn nữa ba cung chấn ly càn hợp thành quẻ Tam ban phụ mẫu. Có được quẻ Tam ban đó thì không những không gặp tai họa mà còn được phúc pnữa (về quẻ Tam ban ở phần sau sẽ bàn đến). Ngoài phương pháp trên còn có thể dùng phép quẻ thay để giải quyết. Nhưng hai cung tọa sơn lập hướng, nếu gặp Ngũ hoàng thì thường không thể tìm được quẻ thay, nên khó có dịp may.