II. TAM TÀI CỦA 1 QUẺ VÀ LINH CHÍNH ÂM DƯƠNG

24 sơn và hướng thuộc 8 quẻ gọi là 1 quả quản tam tài . Tam tài là : thiên , địa , nhân . Sơn của mỗi quả được gọi là “ Thiên nguyên long ; bên trái của nó gọi là “ Địa nguyên long bên phải của nó gọi là “ Nhân nguyên long ” . Long tức là sơn mạch , cho nên thiên nguyên long còn gọi là thiên nguyên sơn , địa nguyên long gọi là địa nguyên sơn , nhân nguyên long gọi là nhân nguyên sơn . Tên gọi của tam tài chỉ là để phân biệt 3 sơn chứ không có ý nghĩa đặc biệt gì khác .

image
image
image

Trong 8 quẻ : Càn , Khôn , Khảm , Li , Chấn , Tốn , Đoài , Cấn thì phép sắp xếp tam tài : thiên , địa , nhân có một đặc điểm rõ rệt , đó là tính chất của thiên nguyên long và nhân nguyên long giống nhau : nếu thiên nguyên long thuộc dương nhân nguyên long cũng thuộc dương ; nếu thiên nguyên long thuộc âm , nhân nguyên long cũng thuộc âm . Còn địa nguyên long thì ngược lại , nếu thiên nguyên long thuộc dương , địa nguyên long nhất định thuộc âm ; nếu thiên nguyên long thuộc ân , địa nguyên long nhất định thuộc dương . Huyền không phong thuỷ học thường lấy quan hệ lục thân để gọi : thiên nguyên long là quẻ phụ mẫu , địa nguyên long là quẻ nghịch tử ; nhân nguyên long là quẻ thuận tử .

Thuận tức là âm dương vận hành thuận theo cha mẹ ( tiền nguyên long ) của nó . Phụ mẫu là dương thì nhân nguyên long cũng thuận theo dương ; phụ mẫu là âm . hành ngược thì nó cũng là ân , hành ngược . Nghịch tức là âm dương vận hành ngược lại bố mẹ của nó . Phụ mẫu là dương , hành thuận , thì nó là âm hành ngược : phụ mẫu là âm hành ngược thì nó là dương hành thuận.

Vì chia thành thuận tử và nghịch tử , nên giữa con cái và bố mẹ có mối quan hệ kiêm và không kiêm . Tý ngọ , mão dậu , cấn tốn , cấn khôn là thiên nguyên long , còn gọi là quẻ phụ mẫu có thể kiêm quẻ nhân nguyên , tức là có thể kiến quý , đinh , ất , tân , tị , hợi , dần , thân . Ngược lại quẻ nhân nguyên long không thể kiềm quẻ thiên nguyên long . Còn về địa nguyên long vì âm dương ngược với quẻ phụ mẫu nên nói chúng không thể kiêm dùng . Nhưng trong thiên nguyên long , càn , tốn , cấn , khôn là quẻ 4 chiều , vì bao hàm khá rộng , còn bao hàm tuất hợi , tốn bao thìn tị , cấn bao sửu dần , khôn bao mùi thân , cho nên quẻ chiều này có thể kiêm nhân nguyên long , cũng có thể kiên địa nguyên long . Còn tí ngo mão dậu , 4 quẻ thiên nguyên long này vì bao hàm hẹp nên chỉ có thể kiếm : quý , đinh , ất , tân chứ không thể kiếm các địa nguyên long : nhâm , bính , giáp , canh . Hiện tượng quả kiêm này thường phát sinh , đó là do sự biến đổi của môi trường tạo nên . Về vấn đề này trong các phần sau sẽ được nói rõ .

Khi lập sơn và hướng , cái quý là được quẻ thuần nhất , thanh khiết , tức không kiên thì tốt , không những địa nguyên long phải thuần nhất , thanh khiết , lập theo chính hướng , không kiểm , mà ngay cả thiên nguyên long , nhân nguyên long cũng phải thuần nhất , thanh khiết , lập theo chính hướng , không kiêm . Chỉ khi gặp phải địa thể quả thực không thể lập theo chính hướng mới phải lập quẻ kiêm . Để đề phòng sai sót , nói chung quẻ phụ mẫu không kiêm quẻ nghịch tử , nếu không sẽ dễ xuất hiện hiện tượng âm dương sai lệch .

Khi lập Sơn và hướng mong tìm được vượng , tức là vượng sơn , vượng hướng ( còn gọi là đáo sơn , đáo hướng ) . Nếu muốn được vượng thì tất phải căn cứ theo vận mà lập để tìm được sao nắm vận . Ví dụ , từ năm 1984 đến năm 2003 là vận 7 , do Thất Xích kim tinh chủ vận nắm lệnh , khí Thất Xích kim tinh vượng nhất . Xây dựng nhà cửa tọa Sơn lập hướng phải được vượng khí này mới là tốt nhất . Toạ sơn độc vượng khí nắm lệnh , huyện không phong thuỷ học gọi là chính . thần , lập hướng được suy khí nắm lệnh , gọi là “ linh thần . Chính , thần lấy vượng khí làm vượng , linh thần lấy suy khí làm vượng.

Về chính thần và linh thần có ba trường hợp sau cần phải nói nói rõ:

Trường hợp thứ nhất: đó là chính thần, linh thần cố định. Bàn hậu thiên bát quái là bàn phương vị cố định , Huyền không học gọi là Ngũ vận bàn hoặc Nguyên đán bàn Khảm 1 , khôn 2 , chấn 3 , tổng trung 5 , càn 6 , đoài 7 , cấn 8 , ly 9 là cố định , cho nên chính thần và linh thần cũng cố định .

Vận 1 : Khảm 1 là chính thần , Li 9 là linh thần .

Vận 2 : Khôn 2 là chính thản , Cấn 8 là linh thần .

Vận 3 : Chấn 3 là chính thần , Đoài 7 là linh thần .

Vận 4 : Tốn 4 là chính thản , Càn là linh thần .

Vận 5 : Trung 5 là chính thần , 10 năm đầu lấy Cấn 8 làm linh thần , 10 năm sau lấy Khôn 2 làm linh thần . Sở dĩ phân thành 10 năm trước và 10 năm sau là vì Ngũ hoàng không định vị , nó đóng cung giữa nên chính thân và linh thần rất khó xác định , chỉ có thể căn cứ theo cung nó đóng để phán đoán . 10 năm đầu đóng ở Khôn cho nên lấy Khôn 2 làm chính thần , Cấn 8 làm linh thần . 10 năm sau ở Cấn nên lấy Cấn . 8 làm chính thần , Khôn 2 làm linh thần .

Vận 6 : Càn 6 là chính thần , Tốn 4 là linh thần

Vận 7 : Đoài 7 là chính thần , Chấn 3 là linh thần .

Vận 8 : Cấn 8 là chính thần , Khôn 2 là linh thần

Vận 9 : Ly 9 là chính thần , Khảm 1 là linh thần .

Vì vậy dựng nhà phải căn cứ theo vận để chọn chính thần và linh thần , dùng chính thần và linh thần để lập toạ và hướng . Vận 1 lập Sơn khảm hướng ly ; vận 2 lập Sơn khôn hướng cấn ; vận 3 lập sơn chấn hướng đoài ; vận 4 lập sơn tốn hướng càn vận 5 , 10 năm đầu lập sơn khôn hướng cấn , 10 năm sau lập sơn cấn hướng khôn ; vận 6 lập sơn cấn hướng tốn ; vận 7 lập sơn đoài hướng chấn ; vận 8 lập càn cấn hưởng khôn ; vận 9 lập sơn ly hướng khảm . Cách toạ sơn lập hướng như thế nhất định được toạ sơn vượng , còn hướng nhất định là là vượng khí thì phương chấn là 3 , Tam bích mộc khí là suy khí suy . Ví dụ lập sơn đoài hướng chấn , phương đoài là 7 , Thất xích kim là vượng khí thì vượng chấn là 3, Tam bích mộc khí là suy khí.

Đương nhiên nếu cửa chính làm theo phương đã lập thì nó sẽ thu nạp suy khí , tức là suy , vậy thì còn ai dám chọn nữa ? Trong thực tế thực ra không phải như thế . Cái gọi là chính , linh , vượng , suy là để chỉ âm dương đối nghịch nhau . Hậu thiên bát quái , bất kỳ hai phương nào đối nhau đều là âm dương ngược nhau , đều có hợp số là 10. Ví dụ lấy sơn đoài hướng chấn mà nói , đoài là âm , là thiếu nữ , chấn là dương , là trường nam , tức âm dương đối nhau , hơn nữa đoài 7 , chấn 3 hai số hợp lại thành 10 , như vợ chồng âm dương hợp lại là đồng thanh tương ứng , đồng khí tương cầu , là nguồn gốc sinh ra vạn vật , là thượng cát , chẳng có gì là hung . Hướng tuy là suy khí , nhưng lấy suy làm vượng . Cửa chính có thể thu nạp khí , cũng có thể nhả khí . Nếu phối hợp với môi trường , toạ sơn được chỗ cao , hướng được chỗ thấp ( chỗ thấp có nước là tốt nhất ) thì sẽ hút được vượng khí , nhả suy khí .

Trường hợp thứ 2 , chính thần và linh thần sẽ cố định hay chuyển đổi theo thời vận . Trên bàn hậu thiên bát quái , chính thần và linh thần cố định , nếu theo đó mà xác định phương vị để dựng nhà thì mỗi vận chi chọn được 1 toạ và hướng tốt , các toạ và hướng còn lại đều không tốt . Điều đó không phù hợp với Dịch lý . Đạo của Dịch học là ở chỗ âm dương biến hoá . Động và biến là vĩnh hằng , tĩnh là cố định , là tạm thời , là đặc biệt , cho nên căn cứ theo bàn bát quái cố định để lập toạ và hướng thì chỉ là một trường hợp đặt biệt . Hiện tượng bình thường nên là mỗi một vận phải có vài toạ và hướng có thể chọn được , tức là phải có vài toạ và hướng là vượng sản , vượng hướng .

Phi tinh cửu cung theo thời vận mà chuyển đổi . Khi vận 1 nhập giữa , Nhị đáo càn , Tam đáo đoài , Tứ đáo cấn , Ngũ đáo ly . Lục đáo khảm , Thất đạo khôn , bát đảo chấn , cứu đáo tốn . Khi vận 2 nhập giữa , tam đảo càn , tứ đáo đoài , Ngũ đáo cấn , Lục đáo ly , Thất đáo khảm , Bát đáo khôn , Cửu đáo chấn , Nhất đáo tốn . Vận 3 , vận 4 , vận 5 , 6 , 7 , 8 , 9 cứ thế suy ra . Như vậy mỗi một vận không chỉ có một toạ và hướng là vượng sơn , vượng hướng mà là có vài ba vượng Sơn vượng hướng . Dược liệt kê ra như sau :

Vận 2 : tốn , Sơn , càn , hướng ; mùi , sơn , Bửu , hướng ; bọi , sơn , tị , hướng ; càn sơn tốn hướng .

Vận 3 : mão sơn dầu hướng ; dậu sơn mão hướng ; thìn sơn tuất hướng ; tuất sơn thìn hướng sắt sơn tân hướng ; tân sơn ất hướng .

Vận 4 : cấn sơn khôn hướng ; khôn sơn cấn hướng ; giáp sơn canh hướng canh sơn giáp hướng dẫn Bản thân hướng ; thân thi dẫn hướng .

Vận 5 : Lý Sơn ngọ hướng ngọ sơn tý hướng , mão sơn dậu hướng : dậu sơn mão hướng ; thìn sơn tuất hướng ; tuất sơn thìn hướng sửu sơn mùi hướng ; mùi sơn sửu hướng : ất sơn tân hướng ; tân Ban ất hướng ; đinh sơn quý hướng ; quý sơn đinh hướng .

Vận 6 : cấn sơn khôn hướng ; khôn sơn cấn hướng ; giáp sơn canh hướng ; canh sơn giáp hướng ; dần sơn thân hướng ; thân sơn dần hướng .

Vận 7 : mão sơn dầu hướng ; dậu sơn mão hướng ; thìn sơn tuất hướng ; tuất sơn thìn hướng ; ất sơn tân hướng ; tân sơn ất hướng .

Vận 8 : càn sơn tốn hướng ; tốn sơn cần hướng ; sửu Sơn mài hướng ; mùi sơn sửu hướng ; tị sơn hơi hướng ; hại sơn tị hưởng .

Vậy chính thần , linh thần uyển đổi theo thời vận và chính thần , linh thần cố định phương vị có mâu thuẫn nhau không ? Có một số chỗ mâu thuẫn , còn một số chỗ không mâu thuẫn . Có một số chỗ phương vị cố định không có chính thản , linh thần , có một số phương vị cố định là chính thần , linh thần thì phương vị không cố định lại không phải là chính thần , linh thần Điều đó chứng tỏ chính thần và linh thần của phương vị cố định và phương vị không cố định là khác nhau nhưng có thể dùng chung cho nhau . Nếu chính thần và linh thần của phương vị cố định trùng với chính thần và linh thần phương vị không cố định thì tức là đã tốt càng thêm tốt . Nếu chính thần và linh thần của phương vị cố định không phải là chính thần và linh thần của phương vị không cố định thì mức độ tốt bị giảm thấp . Nếu chính thần và linh thần của phương vị không cố định không phải là chính thần và linh thần của phương vị cố định thì vượng Sơn , vượng hướng chắc chắn cũng giảm bớt giá trị Vì sao lại xuất hiện tình trạng đó ? Về vấn đề này ở nội dung các phần sau sẽ bàn đến .

Trường hợp thứ ba , đó là Dịch lý phải cùng phối hợp với môi trường thực tế . Theo yêu cầu của Dịch lý về chính thần và linh thần thì phương chính thần , tức là phương dương vậm , đường vượng phải có núi , hoặc có đất cao để lưng nhà dựa vào mới gọi là đúng . Cái gọi 1 chính thán phải đúng vào chính - Phong là thân phải là chỗ thấp , có nước , có sông , có ao hồ hoặc ngã ba sông , rộng rãi , sáng sủa sạch sẽ mới là tốt , mới gọi là “ bạt thu nhập linh đường . Nếu môi trường không phù hợp , cần phải có núi , nhưng không có núi , cần có nước nhưng không có nước , hoặc là cần núi thì lại có nước , cần nước thì lại có núi , đó là không đúng , Dịch lý và môi trường phản lại nhau tất nhiên là hung .