II. MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬN BÀN VÀ ĐỊA BÀN

Vận bàn còn gọi là bàn sắp xếp sao hoặc gọi là thiên bàn . Khi sắp xếp sao theo huyền không học phần nhiều gọi là vận bàn , trong đó có 6 loại là : đại vận , tiểu vậu , niên vận , nguyệt vận , nhật vận và thời vận . Cho dù là loại vận bàn nào cũng đều có 9 kiểu khác nhau , tức là cửu tinh lần lượt nhập vào cung giữa để sắp xếp thành “ Bàn phi tỉnh cứu cung ” .

Địa bàn còn gọi là bàn Hậu thiên bát quái , hoặc là bàn Nguyên đán . Nó chỉ có một kiểu là 4 phương chính và 4 phương phụ . Dông là chấn , tây - đoài , nam - li , bắc - khảm , đông bắc - cấn , đông nam

image

Thiên bàn bắt đầu từ Lục bạch kim nhập vào cung giữa , mỗi một sao vận hành 9 bước ( theo thứ tự vận hành của cửa cung ) . Chín sao cộng lại tất cả vận hành 81 bước , cuối cùng lại trở về vị trí ban đầu . Dưới đây là hình thể hiện quan hệ giữa thiên bàn và địa bàn từ Lục bạch kim nhập vào cung giữa đến Ngũ hoàng thể nhập vào cung giữa .

Thiên bàn là bàn động biểu thị sự vận chuyển của khí trường trên mặt đất . Địa bàn là bàn tỉnh biểu thị phương vị cố định của khí nguyên thủy trên mặt đất . Cho dù là thiên bàn hay địa bàn , khi hai bàn kết hợp với nhau đều vì các mùa và ngày đêm liên tiếp thay đổi mà xuất hiện trạng thái “ vượng , tướng , hưu , tù , tử . Còn vì thái tuế luân phiên trực và tam sát lưu chuyển mà xuất hiện mức độ mạnh , yếu và cát hung khác nhau . Thái tuế là một loại “ lực tăng cường ” . không phải là vị thần được nhân cách hoá . Nó gặp cát thì càng cát , gặp hung thì càng hung . Tam sát là một loại khí tương xung , cũng không phải là “ thần sát ” , nó chỉ có trạng thái hung , không có trạng thái cát . Gặp cát cũng biến thành hung , gặp hung thì càng hung hơn . Cho nên khi trường trên mặt đất chịu ảnh hưởng vô cùng phức tạp .

Mối quan hệ giữa thiên bàn và địa bàn về cơ bản là quan hệ ngủ hành sinh khắc , biểu hiện thành 3 dạng : tương sinh , tương khắc và ngang hòa .

Thứ nhất là quan hệ tương sinh

Khi Lục nhập giữa , Bát tương sinh Đoài , Cửu tương sinh Cấn . Khi Thất nhập giữa , Bát và Càn , Nhị và Ly . Tam và Khảm tương sinh .

Khi Bát nhập giữa , Nhất và Đoài , Tứ và Khảm , Thất và Tốn tương sinh . Khi Cửu nhập giữa , Nhất và Càn , Nhị và Đoài , Lục và Khôn , Tứ và Li tương sinh .

image

Khi Nhất nhập giữa , Lục và Khảm , Nhị và Can , Thất và Khốn , Ngũ và Li , Cửu và Tốp tương sinh . Khi Nhị nhập giữa , Thất và Khảm , Nhất và Tốn , Cửu và Chấn tương sinh .

Khi Tam nhập giữa , Ngũ và Đoài , Cửu và Khôn , Nhất và Chấn , Lục và Cấn tượng sinh . Khi Tứ nhập giữa , Ngũ và Càn , Bát và Li , Thất và ấn tượng sinh .

Quan hệ tương sinh còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố như : mùa tiết , giờ , thần sát , vv .. Người ta còn phân ra : tương sinh thực và tương sinh không thực . Ví dụ khi Lục nhập vào giữa thì Bát và Đoài tương sinh . Đoài là tây , là kim , là mùa thu , Bát đến ngôi Đoài là gặp đúng mùa nên là tương sinh thực . Lại ví dụ Nhị nhập giữa thì Thất và Khảm tương sinh . Nhưng Thất kim ở mùa đông là rơi vào “ hưu ” , không có tác dụng , cho nên gọi là tương sinh nhưng không phải là tương sinh thực . Lại ví dụ Cửu nhập giữa thì Lục và Khôn tương sinh . Năm 1991 Thái tuế đến cung Khôn , Khôn là khí toàn âm , là khi bệnh tật , được Thái tuế trợ giúp nên dịch bệnh càng hoành hành . Lục kim được nó sinh cho , không cát mà ngược lại là hung . Lại ví dụ Nhất nhập giữa , Nga và Li tương sinh . Năm 1990 Thái tuế đến cung Li , làm tăng thêm Li hoả nên hoả khí đặc biệt thịnh vượng . Mà Ngũ hoàng là khí tai nạn , được hoả vượng sinh cho càng khiến cho tai hoạ nhiều hơn , do đó khó tránh khỏi bệnh nặng .

Địa bàn có phương vị cố định , vậy tại sao nó lại có quan hệ ngũ hành tinh , khắc với thiên bàn ? Địa bàn nguyên là bàn Hậu thiên bát quái , nó có khí quẻ ban đầu . Dưới tiên để địa bàn không chịu ảnh hưởng của khí trường vận chuyển thì khí quả của nó mới giữ nguyên như cũ , phương vị không biến đổi . Nhưng trong thực tế nó chịu ảnh hưởng của khí trường vận chuyển , do đó khí quả của nó phải biến đổi theo . Chỉ khi tạo nên một môi trường cố định ( ví dụ như căn nhà ) , có phương vị cố định thì khí quẻ ban đầu của nó mới tồn tại một cách bình thường.

Thứ hai là quan hệ tương khắc

Khỉ Lục nhập giữa , Tam và Khôn , Nhất và Li , Ngũ và Tốn , Nhị - Khảm , tương khắc . Khi Thất nhập giữa , Cửu - Đoài , Tứ - Khôn , Lục - Tốn , Ngủ - Chấn , Nhất - Cấn tương khắc . Khi Bát nhập giữa , Cửu - Càn , Thất - Tốn , Lục - Chấn tương khắc .

Khi Cửu nhập giữa , Bát - Tốn , Thất - Chấn , Tam - Cấn , Ngũ - Khảm tương khắc .

Khi Nhất nhập giữa , Tam - Đoài , Bát - Chấn , Tứ - Cấn tương khắc Khi Nhị nhập giữa , Tam - Càn , Tứ - Đoài , Lục - Ly tương khắc .

Khi Tam nhập giữa , Tứ - Càn , Thất - Ly . Nhị - Tốn , Bát - Khảm tương khắc.

Khi Tứ nhập giữa thì Nhất - Không Nhị - Chấn , Cửu - Khảm tương khắc.

Quan hệ tương khắc cũng chịu ảnh hưởng của các nhân tố như : mùa , giờ , thần sát . Tương tự cũng có tên gọi tương khắc thực và tương khắc không thực . Ví dụ khi Lục nhập giữa thì Ngũ và Tốn tương khắc . Tốn là đông nam , là Tứ mộc , Ngũ đến ngôi Tốn bị Tứ mộc khắc , là tương khắc thực . Ví dụ Bát nhập giữa , Cửu và Càn tương khắc , Càn là kim , là mùa thu , mùa đông , vượng biến thành hưu , còn Cửu hoả ở mùa thu , mùa đông đã nhập tù , nhập tử , không thể khắc kim cho nên tên là tương khắc mà thực ra không khắc được .

Thứ 3 là quan hệ ngang hoà

Khi Lục nhập giữa , Thất - Càn , Tứ - Chấn ngang hoà .

Khi Bát nhập giữa , Ngũ - Khôn , Nhị - Cấn ngang hoà .

Khi Nhị nhập giữa , Bát - Khôn , Ngũ - Cấn ngang hoà .

Khi Tứ nhập giữa , Lục - Đoài , Tam - Tốn ngang hoà .

Khi Ngủ nhập giữa , thiên địa bàn trùng nhau , các phi tinh trở về vị trí cũ .

Gọi là ngang hoà tức là hoà hợp , tức có sự hoà hợp giữa các thuộc tính giống nhau tuy có độ chênh lệch . Lục kim và Thất kim , Tam mộc và Tứ mộc , Nhị thổ và Ngũ thổ , Bát thổ và Nhị thổ , Bát thổ và Ngũ thổ , mấy loại quan hệ này đều là quan hệ ngang hoà . Ở đây xin độc giả lưu ý , sự trùng lặp các thuộc tính giống nhau , ví dụ như Nhất thủy và Nhất thủy , Nhị thổ và Nhị thổ , Tam mộc và Tam mộc , Tứ mộc và Tứ mộc , Ngũ thổ và Ngũ thổ , Lục kim và Lục kim , Thất kim và Thất kim , Bát thổ và Bát thổ , Cửu hoả và Cửu hoả , không gọi là ngang hoà mà gọi phục ngâm . Ngũ hoàng nhập giữa thì các phi tinh trở về bản cung , trùng với bản cung , đó là phục ngâm . Phục ngâm là hung tưởng , còn ngang hoà là tương trợ , là vượng . Hai trường hợp hoàn toàn khác nhau . Về phục ngâm ở đây không thảo luận thêm mà sẽ được nói rõ ở một mục khác ở phần sau .