II. CĂN CỨ DỊCH LÝ CỦA HUYỀN KHÔNG PHI TINH HỌC-(PHONG THỦY CƠ BẢN CHO DƯƠNG TRẠCH) (P8)

PHẦN 1 )

Từ trong sự phân chia của quá trình phát triển Dịch học đã hình thành Dịch tượng số học . Bản thân Dịch tượng số cũng gồm nhiều chi phái , trong đó Tham dự học là một phân nhánh của Dịch tượng số .

Hình hà đồ và lạc thư
Hình hà đồ và lạc thư

Tham dự học là môn học nghiên cứu cát , hung của các phương vị khác nhau ở các thời vận khác nhau trong một môi trường nhất định . Nội dung chính của nó là khí và sự vận hành của khí . Hình thức biểu hiện của nó là sự thống nhất của phương vị không gian với sự dịch chuyển của thời gian . Mục đích nghiên cứu của nó là nhằm đạt được sự yên ổn và thịnh vượng của xã tắc .

Căn cứ lý luận của Tham dự học là kinh Dịch , đặc biệt là “ Hệ từ ' và “ Thuyết quái ” trong kinh Dịch.Vạn vật trong vũ trụ đều hình thành từ khi

Kinh Dịch viết : “ Tinh khí là vật ” , “ Thiên địa yên ấm , vạn vật nảy sinh ” . Tức là nói nguyên tố cơ bản của vũ trụ là khí . Khi khí ở 8 trạng thái hỗn độn thì trời đất chưa phân . Khi khí trong , nhẹ nổi lên trên thì thành trời ; khí nặng , đục chìm xuống dưới thì thành đất . Trời đất bắt đầu phân thành dương trên , âm dưới . Khi dương khí ở trên giao hòa với âm khí ở dưới thí sinh thành vạn vật .

Linh khí giao nhau sinh ra con người và sinh vật . Cho nên khí tồn tại mọi lúc , khắp mọi nơi , tạo thành tất cả vật chất trong vũ trụ . Tham dự học chính là lấy mệnh đề “ khí tồn tại mọi lúc , khắp mọi nơi , tạo thành vạn vật ” này làm nội dung cơ bản của nó . Mở rộng ra mà nói , thái cực là khí , âm dương là khí , thiên địa là khí , linh vật là khí , tám phương có khí , khí chuyển động cùng với thời gian . Tóm lại tất cả vạn vật từ to đến nhỏ , sinh sinh diệt diệt đều bắt nguồn từ khí.

PHẦN 2:

  1. Âm dương đối lập và thống nhất là trạng thái tồn tại cơ bản của khí

Một vật là một thái cực , thái cực chia thành âm dương , cho nên tất cả mọi sự vật đều do hai khí âm dương cấu thành . Sự đối lập và thống nhất của khí biểu hiện thành trạng thái của vật , tức là “ tôn , bì ” ( cao cả , thấp kém ) , “ quý , tiện ” ( sang , hèn ) , “ động , tĩnh ” , “ cương , nhu ” , “ tụ , tán ” , “ tượng , hình ” , “ cát , hung ” , “ nóng , lạnh ” .

Âm dương đối lập thống nhất là “ cái lý của trời đất ” . Nhưng giữa âm khí và dương khí không phải lúc nào cũng cân bằng , ngang nhau . Chúng có thể biểu hiện thành nhiều hơn hoặc ít hơn , cũng có thể biểu hiện thành bao dung nhau . “ Quẻ dương nhiều hào âm , quẻ âm nhiều hào dương . Quẻ càn là cha , là thuần dương ; quả khôn là mẹ , là thuần âm ; hai âm một dương là con trai ; hai dương một âm là con gái . Đạo của con trai , con gái là trong âm có dương , trong dương có âm , bao hàm lẫn nhau.

Sự đối lập thống nhất của khí biểu hiện thành số . “ Thiên 1 địa 2 ; thiên 3 địa 4 ; thiên 5 địa 6 ; thiên 7 địa 8 ; thiên 9 địa 10. Thiên số 5 , địa số 6 ” . Dương số lẻ , âm số chẵn .

image
image

Sự đối lập thống nhất của khí biểu hiện thành hình và tượng “ Nhìn thấy ( hiện ) gọi là tượng , hình gọi là đồ vật ” . Âm dương chuyển hoá gọi là “ biến ” , âm dương vận hành gọi là “ thông ” . Âm dương không biến không thông thì trời đất không tồn tại được . Sự biến hoá của âm dương “ hình ở trên được gọi là đạo , hình ở dưới gọi là khi Nói về lý của vạn vật là nói về “ đạo ” , nói về hình của vạn vật là nói về “ khí ” .

image

Đối lập thống nhất của khí là quy luật tồn tại và biến hoá phát triển của vạn vật . “ Một âm , một dương gọi là đạo ” . Sự đối lập và thống nhất của âm dương là “ Đạo lập thiên ” ; sự đối lập và thống nhất của cương và nhu là “ Đạo lập địa ” ; sự đối lập và thống nhất của nhân và nghĩa là “ Đạo lập nhân ” . Mong muốn cho mọi người trong thế gian và vạn vật thuận theo lẽ đó là mục đích cao nhất của các thánh nhân cổ đại làm Dịch . Cái đạo này dùng để quan sát sự vật trong quá khứ gọi là thuận theo thời gian , dùng để quan sát sự vật trong tương lai gọi là ngược thời gian . Đó chính là phương pháp vận dụng quy luật .

Tham dự học về mặt không gian và thời gian , lấy âm dương đối lập và thống nhất làm rường cột cho toàn bộ hệ thống . Trước hết trạch được phân thành âm dương . Phần mộ gọi là âm trạch , nhà ở gọi là dương trạch . Đó chính là những điều nói trong “ Hệ từ . “ Dịch lấy thiên địa làm chuẩn , cho nên gọi là thuyết về sinh tử " . Tham dự học lấy âm trạch và dương trạch làm đối tượng nghiên cứu .

Thứ hai là các phương vị trong không gian đểu là âm dương đối lập thống nhất . Thượng là càn , là dương , hạ là khôn , là âm ; đông là chấn , là dương trưởng âm tiêu ; tây là đoài , là âm trưởng dương tiêu ; bắc là khảm , là âm cuối , dương bắt đầu ; nam là ly , là dương cuối âm bắt đầu . Hậu thiên bát quái chia thành 24 sơn và hướng ( sơn còn gọi là toạ sơn , hoặc lưng nhà , hướng là hướng trước của nhà ) . Sơn và hướng mỗi cái lại được chia thành âm và dương , giới hạn của chúng rất rõ ràng , không thể lẫn lộn . Thứ ba là sự vận hành của khí cũng chia thành âm dương . Âm vận hành ngược , dương vận hành thuận . Toạ Sơn và lập hướng đều phải căn cứ theo sự vượng suy của hai khí âm dương này .

Sự biến đổi của khí là vĩnh hằng không ngừng . Vạn vật sinh sinh , diệt diệt trong sự biến đổi không ngừng đó . Mục đích của sự biến đổi là nhằm tạo dựng sự nghiệp cho xã hội loài người . “ Dịch cùng tắc biến , biến tắc thông , thông tắc cửu ” . Trăm nghìn điều viết trong kinh Dịch đều là bàn về sự biến đổi vận động của vạn vật . Chỉ có biến hoá vạn vật mới tồn tại , tức là “ sinh sinh ” gọi là dịch . Biến cần phải thông , thông sẽ đạt được sự sinh tồn , sinh tồn thì đạo chính trị mới có và mới ổn định được thiên hạ .

Huyền không học là môn học vấn cao nhất , ảo diệu nhất trong Tham dự học . Chỗ ảo diệu của nó là ở sự biến hoá của thất sắc của khí . Thất sắc cửu khí biến đổi tuần hoàn trong sự dịch chuyển của thời gian , biến đổi tuần hoàn trong sự chuyển đổi của các mùa , biến đổi tuần hoàn trong sự thuận nghịch của âm dương . Mục đích của nó là tìm cách làm cho xả tắc yên ổn và thịnh vượng . Sự biến đổi về cửu khí theo một trình tự nhất định , cuối cùng sẽ tìm thấy vị trí nhà ở thích hợp , gặp được điều tốt , tránh được điều xấu .

Hệ lý luận Huyền không kham dự học bắt nguồn từ “ thuyết quái ”

II)Biến đổi là sự tồn tại của sinh mệnh vạn vật

Dịch biến theo một phương vị nhất định và có tượng vật tương ứng . Các phương vị của nó do câu nói dưới đây quy định . Để xuất hổ chấn , tề hồ tốn , tương kiến hồ ly , chí dịch hồ không thuyết ngôn hổ đoài , chiến hồ càn , lao hồ khảm , thành ngôn hổ cấn . Vạn vật xuất ở chấn , chấn là phương đông vậy . Tề hồ tốn , tốn là đông nam . Tề tức là nói vạn vật đã hiện ra đầy đủ . Ly là quẻ ở phương nam ... Khôn là địa ... Đoài là mùa thu ... Cần là quẻ ở phía Tây bắc ... Khảm là thuỷ , là quẻ ở phương chính bắc . Cấn là quẻ ở phương đông bắc ” . Người Tống căn cứ câu nói này đã làm ra hậu thiên bát quái Văn Vương .

“ Thuyết quái " quy định quan hệ giữa các phương vị hậu thiên bát quái như sau .Thiên địa định vị Thiên là càn địa là khôn . Càn , khôn xác định vị trí của 6 loại sự vật khác ( Lôi , phong , hoả , thủy , sơn , trạch ) . Càn Khôn mở rộng vô biên , nhưng luôn ở trạng thái động tĩnh biến hoá . Tất cả mọi sự biến hoá động tĩnh đó đều xảy ra trong trời đất .

Lôi phong bàng bạc . Tức là nói sấm và gió rất gần gũi và đi kèm theo nhau . Thuỷ hoả bất tương xạ , tức là nói thủy và họa tương phản với nhau nhưng thường cùng đi bên nhau .Sơn trạch thông khí . Cấn là sơn , đoài là trạch , khí thông thương với nhau , một cái là biểu , một cái là lý .

Như vậy mối quan hệ của 8 phương vị cũng là mối quan hệ của 8 loại yếu tố của môi trường sơn thủy . Song “ Thuyết quái ” vẫn chưa chỉ rõ mối quan hệ ngũ hành sinh khắc giữa 8 phương vị với 8 yếu tố của môi trường . Về điều này các nhà ngũ hành đời sau đã căn cứ vào nguyên tắc của “ Thuyết quái ” để sáng lập lên thuyết ngũ hành .

PHẦN 4

Tham dự học lấy bát quái Văn Vương làm cơ sở , lấy mối quan hệ phương vị của bát quái Văn Vương , mối quan hệ của các yếu tố môi trường và thuyết ngũ hành để xây dựng nên toàn bộ khung và hệ thống lý luận . Sự phát minh của la bàn và việc sử dụng nó chính là biểu hiện tập trung của hệ thống này . La bàn có rất nhiều loại , nhưng về cơ bản chia thành hai loại là la bàn tổng hợp và la bàn chuyên dụng . Hình thức nguyên thủy nhất của nó chính là hậu thiên bát quái của Văn Vương . La bàn này là loại la bàn chuyên dụng đơn giản nhất thường được các nhà Huyển không tham dự học sử dụng .

Sự phán đoán cát hung của Huyền không tham dự học là lấy “ tương loại vạn vật trong ' Thuyết quái " làm cơ sở

Càn là trời , còn gọi là cha . Khôn là đất , còn gọi là mẹ . Chấn là nan , gọi là trường nam Tốn là nữ , gọi là trường nữ . Khảm là nam , gọi là trung nam , ly là nữ , gọi là trung nữ . Cấn là nam , gọi là thiếu nam . Đoài là nữ , gọi là thiếu nữ .

Càn là mạnh mẽ . Khôn là thuận theo . Chấn là động . Tốn là nhập . Khảm là rơi vào . Ly là đẹp đẽ . Cấn là đình chỉ , ngừng lại . Đoài là vui vẻ . Cần là ngựa . khôn là trâu , chấn là rồng , tốn là gà , khảm là lợn , ly là chim trĩ , cấn là chó , đoài là dễ .

image

Càn là đầu , khôn là bụng , chấn là chân , tốn là bắp đùi , khảm là tai , ly là mắt , cấn là tay , đoài là miệng .Càn là trời , là tròn , là quân tử , là cha , là vua , là vàng , là hàn lạnh , là băng tuyết , là màu đỏ , là mã tốt , ngựa già , là lưng ngựa , là hoa quả .Khôn là đất , là mẹ , là vải , là rìu búa , là luyến tiếc , là quân bình , là trâu cái , là xe lớn , là văn chương , là người bình thường , là cán , can có thể là màu đen .Chấn là sấm , là rồng , là màu huyền hoàng , là chuyển , là tiến độ rộng lớn , là trưởng nam , là quả đoán , là cây trúc , là cây lau . Ngoài ra còn có thể là ngựa , là hót hay ...

Tôn là cây . là gió , là trưởng nữ , là dây thừng , là thợ , là trắng , là dài , là cao , là tiến thoái , là không kết thành quả , là thối . Ngoài ra có thể là người , là phân chia , là mắt nhiều lông trắng ...

Khảm là thủy , là mương rảnh , là ẩn phục , là uốn nắn , là hình cung . Cũng có thể là người , là lo âu , là bệnh tim , là đau tai , là máu . là màu đỏ . Ngoài ra có thể là ngựa , là sống lưng đẹp , là đầu dưới , là đế chân mỏng . Ngoài ra có thể là xe , là thông , là trắng , là giặc cướp .

Ly là lửa , là mặt trời , là điện , là trung nữ , là giáp trụ , là binh khí . Ngoài ra có thể là người , là bụng , là con ba ba , con cua , con ong , Con rùa .Cấn là núi , là đường tắt , hòn đá nhỏ , là then cửa , là quả dưa , là chùa , là ngón tay , là chó , là chuột , là chỗ ở tối tăm .Đoài là đầm ao , là thiếu nữ , là cãi vã , là gãy gập , ...Các nhà tham dự học dùng những tượng vật trên để phán đoán cát hung cho âm trạch và dương trạch . Cho dù là căn cứ vào tượng quẻ hay ngũ hành để chọn ra các tượng vật dùng để phán đoán đều phải gắn chặt với những nội dung mà “ Thuyết quái ” bao hàm , hoặc lấy những nội dung đó làm cơ bản để mở rộng suy luận .

PHẦN 5

III . SỰ KẾT HỢP GIỮA LẠC THƯ VỚI HẬU THIÊN BÁT QUÁI VÀ HÀM NGHĨA CỦA NÓ

Kinh Dịch dùng phương thức thần thoại để nói lên của Hà đổ và Lạc thư . Hà đồ xuất hiện vào thời đại Bao Hy Thị , do long , mã đội trên lưng xuất hiện ở Hoàng Hà mà được . Lạc Thư xuất hiện ở thời đại Đại Vũ trị thuỷ , do rùa thần xuất hiện ở Lạc Thủy mà thành . Ngoài thời đại mỗi cái xuất hiện cách nhau rất xa ra ,như mỗi cái còn có nguồn gốc rất riêng biệt , không có mối liên hệ tất yếu nào . Người đời sau tuy có so sánh và phân tích nhưng đều rất khiên cưỡng .

Cái mà Hà đồ phản ánh là kết cấu không gian của vũ trụ lấy quả đất làm trung tâm . Hình vẽ của Hà đồ là mặt phẳng , chia làm 4 hướng , nhưng không phân biệt trên dưới .

1 dương 6 âm , ở phía bắc vũ trụ ,2 âm 7 dương , ở phía nam vũ trụ ;3 dương 8 âm , ở phía đông vũ trụ ;4 âm 9 dương , ở phía tây vũ trụ ;5 dương 10 âm , ở trung tâm vũ trụ , tức là quả đất .

Trong hình vẽ không có trên dưới , nhưng có ẩn chứa trên dưới . “ 5 dương 10 âm ” là địa , tức là dưới , phía trên nó tất nhiên là thiên . Địa là khốn , thiên là càn , trên càn dưới khôn . Cho nền kinh Dịch nói “ Thiên địa định vị ” . “ Dịch lấy thiên địa làn chuẩn . Vạn vật theo chuẩn đó để phát sinh biến đổi " .

Căn cứ hình dạng của Hà đổ thì quả đất là 5 âm 10 dương , có hình như trên đây .Hình vuông này biểu thị quả đất hình vuông . Nếu chuyển đổi thành hình vuông chữ số thì sự sắp xếp như sau .Số 5 ở trung tâm hình là dương 5. Số 5 ở 8 phương chung quanh là âm 5. Bất kỳ hai số âm nào đối xứng nhau đều hợp thành âm 10 . Quả đất lấy số 10 làm số hoàn chỉnh , biểu thị quả đất nhu thuận hài hoà , yên tĩnh hoàn thiện , âm dương thống nhất , là mục tiêu cuối cùng mà con người đeo đuổi .

Nhưng bản chất của Dịch lý lại là biến đổi , nhu thuận là từ cương trực biến ra , hài hoà là từ mâu thuẫn biến ra , yên tĩnh là từ vận động biến ra , hoàn mĩ là từ lồi lõm biến ra , thống nhất là từ đối lập biến ra . Quả đất đúng là như thế . Từ không biến thành có , từ chết biến thành sống , từ suy biến thành vượng , từ nhược biến thành mạnh , từ ít biến thành nhiều , từ đơn giản biến thành phức tạp . Vĩnh viễn sinh sinh diệt diệt , phi nhu thuận , phi hài hoà , phi hoàn mĩ , phi yên tĩnh mới tìm được sự hài hòa và hoàn mĩ . Theo số mà nói thì số 10 là hoàn mĩ . Nhưng số 10 là từ các số 1 , 2 , 3 , 4 , 5 , 6 , 7 , 8 , 9 mà biến ra . Vì vậy kinh Dịch nói : “ Thiên 1 địa 2 , thiên 3 địa 4 , thiên 5 địa 6 , thiên 7 địa 8 , thiên 9 địa 10. Thiên số 5 , địa cũng số 5 ” . Hợp số lớn nhất là 10. Cho nên :

1 cộng 9 là 10 ,2 cộng 8 là 10 .3 công 7 là 10 .4 cộng 6 là 10 .5 cộng 5 là 10 .

Như vậy là trừ trung tâm “ 5 cộng 5 ” ra thì 4 phương còn lại số tương ứng của chúng nên là : 1 đối với 9 ; 2 đối với 8.5 đôi với 7 : 4 đôi với 6. Vì vậy nếu dùng số để biểu thị quả đất thì sẽ có 4 trạng thái như sau :

Các số trong 4 hình này , mỗi hình dù đếm theo chiều ngang , chiều dọc hay đường chéo đều cộng thành 10 , ba số liên tục là 15 .

Trong 4 trạng thái này thì trạng thái nào là trạng thái chính thức phản ánh trạng thái yên tĩnh tương đối ? Điều này phải lấy Hà đồ phản ánh kết cấu của vũ trụ làm căn cứ để xác định . Hà đổ là các số dương 1 , 3 , 9 , 7 , trong đó hai số 1 và 3 là số sinh , hai số 7 và 9 là số thành .

Thiên 1 hợp địa 5 sinh thành 6. 1 và 6 ở phía bắc .

Thiên 3 hợp địa 5 sinh thành 8 . 3 và 8 ở phía đông .

Địa 2 hợp thiên 5 sinh thành 7. 2 và 7 ở phía nam .

Địa 4 hợp thiên 5 sinh thành 9. 4 và 9 ở phía tây .

image

Hai số 1 , 3 đã đành là số sinh thì phải lấy vị trí của hai số này để quyết định các phương vị khác .

1 ở chính bắc thì 9 ở chính nam ; hai số hợp thành 10 .

3 ở chính đông thì 7 ở chính tây ; hai số hợp thành 10 .

Như vậy vị trí của 4 số chính là : đông , tây , nam , bắc đã được xác định . Vậy vị trí của 4 số chẵn là : 2 , 4 , 6 , 8 được xác định như thế nào ? 2 , 4 , 6 , 8 đều là số chẵn , là âm , là địa , còn 1 , 3 , 9 , 7 , đều là số lẻ , là dương , là thiên . Sự vận hành của thiên , địa theo phương hướng ngược lại với nhau , thiên quay sang trái , địa quay sang phải . Số liên tiếp của thiên là hướng quay sang trái do đó số liên tiếp của địa phải quay sang phải . Tức là :

HẬU THIÊN BÁT QUÁI
HẬU THIÊN BÁT QUÁI

6 ở bên phải của chính bắc , 4 ở bên phải của chính nam ; hai số hợp lại bằng 10 .

8 ở bên phải của chính đông , 2 ở bên phải của chính tây ; hai hợp lại bằng 10 .

Như vậy phương vị của 8 số đã hoàn toàn được xác định là chính bắc , 2 ở tây nam , 3 ở chính đông , 4 ở đông nam , 6 ở tây bắc , là chính tây , 8 ở đông bắc , 9 ở chính nam . Hình vẽ như dưới đây .

Độc giả xem hình này sẽ biết được nó hoàn toàn ăn khớp với hình Lạc thư . Điều đó chứng tỏ Lạc thư là do Hà đồ biến hoá thành . Nếu nói Hà đổ là do Bao Hy Thị vẽ nên thì Lạc thư là do Đại Vũ vẽ nên . Từ Hà đồ diễn biến thành Lạc thư tối thiểu phải trải qua 2000 năm . Nếu nói Hà đổ là hình ảnh kết cấu vũ trụ thu nhỏ thì Lạc thư là hình ảnh quả đất thu nhỏ .

Đối chiếu hậu thiên bát quái của Văn Vương với số 8 phương của Lạc thư phối thành một hình vẽ thống nhất thì sẽ được “ hình bát quái Lạc thư ' hoặc gọi là hình “ Lạc thư cửu cung . Nếu phối thêm vào " Lạc thư cửu cung " khái niệm “ tinh ” ( sao ) thì gọi là “ hình phương vị Lạc thư cửu tinh " .

PHẦN 6

image

Số của 8 phương trong hình này ( bao gồm cả trung tâm là 9 phương ) đại biểu cho nhiều ý nghĩa: Nhất là Đại biểu quả khảm , cung khảm , phương chính bắc , sao Tham lang , thủy khí , ngũ hành là thúy , trung nam , tượng vật của khảm . Thông thường gọi là Nhất bạch thuỷ tinh .

Nhị . Đại biểu quả khôn , cung khôn , phương tây nam , sao Cự môn , thổ khí , ngũ hành là thổ , bà già , tượng vật của khôn . Thông thường gọi là Nhị hắc thổ tinh .

Tam . Đại biểu quẻ chấn , cung chấn , phương chính đông , Bao Lộc tồn , mộc khí , ngũ hành là mộc , trường nam , tượng vật của chấn . Thông thường gọi là Tam bích mộc tinh .

Tứ . Đại biểu quẻ tốn , cung tốn , phương đông nam , sao Văn khúc : mộc khí , ngũ hành là mộc , trưởng nữ , tượng vật của tốn , gọi là Tứ lục mộc tỉnh .

Ngũ. Đại biểu thiên tâm , mậu , ki , quẻ vô định , còn gọi là cung giữa , phương vị ở trung tâm , sao Liêm trinh , thổ khí , ngũ hành là thổ , hoàng cực , đục thân bất định ) . Còn gọi là Ngũ hoàng thổ tinh .

Lục . Đại biểu quẻ càn , cung càn , phương tây bắc , sao Vũ khúc , kim khí , ngũ hành là kim , cha già , vật tượng của càn , thông thường gọi Lục bạch kim tinh .

Thất . Dại biểu quẻ đoài , cung đoài , phương chính tây , sao Phá quân , kim khí , ngũ hành là kim , thiếu nữ , tượng vật của loài . Thông thường gọi Thất xích kim tinh .

Bát . Đại biểu quẻ cấn , cung cấn , phương đông bắc , sao Tả bổ , thổ khí , ngũ hành là thổ , thiếu nam , vật tượng của cấn . Thông thường gọi là Bát bạch thổ tinh .

Cửu . Đại biểu quẻ ly , cung ly , phương chính nam , sao Hữu bật , hoả khí , ngũ hành là hoả , trung nữ , tượng vật của ly . Thông thường gọi là Cửu tử hoả tinh.

PHẦN 7

image

II . CĂN CỨ DỊCH LÝ CỦA HUYỀN KHÔNG HỌC

Từ trong sự phân chia của quá trình phát triển Dịch học đã hình thành Dịch tướng số học . Bản thân Dịch tượng số cũng gồm nhiều chi phái , trong đó Tham dự học là một phân nhánh của Dịch tượng số .

Tham dự học là môn học nghiên cứu cát , hung của các phương vị khác nhau ở các thời vận khác nhau trong một môi trường nhất định . Nội dung chính của nó là khí và sự vận hành của khí . Hình thức biểu hiện của nó là sự thống nhất của phương vị không gian với sự dịch chuyển của thời gian . Mục đích nghiên cứu của nó là nhằm đạt được sự yên ổn và thịnh vượng của xã tắc .

Căn cứ lý luận của Tham dự học là kinh Dịch , đặc biệt là “ Hệ tử ' và “ Thuyết quái ” trong kinh Dịch.

Vạn vật trong vũ trụ đều hình thành từ khi

Kinh Dịch viết : “ Tinh khí là vật ” , “ Thiên địa yên ấm , vạn vật nảy sinh ” . Tức là nói nguyên tố cơ bản của vũ trụ là khí . Khi khí ở 8

trạng thái hỗn độn thì trời đất chưa phân . Khi khí trong , nhẹ nổi lên trên thì thành trời ; khí nặng , đục chìm xuống dưới thì thành đất . Trời đất bắt đầu phân thành dương trên , âm dưới . Khi dương khí ở trên giao hòa với âm khí ở dưới thí sinh thành vạn vật . Linh khí giao nhau sinh ra con người và sinh vật . Cho nên khí tồn tại mọi lúc , khắp mọi nơi , tạo thành tất cả vật chất trong vũ trụ . Tham dự học chính là lấy mệnh đề “ khí tồn tại mọi lúc , khắp mọi nơi , tạo thành vạn vật ” này làm nội dung cơ bản của nó . Mở rộng ra mà nói , thái cực là khí , âm dương là khí , thiên địa là khí , linh vật là khí , tám phương có khí , khí chuyển động cùng với thời gian . Tóm lại tất cả vạn vật từ to đến nhỏ , sinh sinh diệt diệt đều bắt nguồn từ khí.

Âm dương đối lập và thống nhất là trạng thái tồn tại cơ bản của khí

Một vật là một thái cực , thái cực chia thành âm dương , cho nên tất cả mọi sự vật đều do hai khí âm dương cấu thành . Sự đối lập và thống nhất của khí biểu hiện thành trạng thái của vật , tức là “ tôn , bì ” ( cao cả , thấp kém ) , “ quý , tiện ” ( sang , hèn ) , “ động , tĩnh ” , “ cương , nhu ” , “ tụ , tán ” , “ tượng , hình ” , “ cát , hung ” , “ nóng , lạnh ” . Âm dương đối lập thống nhất là “ cái lý của trời đất ” . Nhưng giữa âm khí và dương khí không phải lúc nào cũng cân bằng , ngang nhau . Chúng có thể biểu hiện thành nhiều hơn hoặc ít hơn , cũng có thể biểu hiện thành bao dung nhau . “ Quẻ dương nhiều hào âm , quẻ âm nhiều hào dương . Quẻ càn là cha , là thuần dương ; quả khôn là mẹ , là thuần âm ; hai âm một dương là con trai ; hai dương một âm là con gái . Đạo của con trai , con gái là trong âm có dương , trong dương có âm , bao hàm lẫn nhau.

image

PHẦN 8

Sự đối lập thống nhất của khí biểu hiện thành số . “ Thiên 1 địa 2 ; thiên 3 địa 4 ; thiên 5 địa 6 ; thiên 7 địa 8 ; thiên 9 địa 10. Thiên số 5 , địa số 6 ” . Dương số lẻ , âm số chẵn .

Sự đối lập thống nhất của khí biểu hiện thành hình và tượng “ Nhìn thấy ( hiện ) gọi là tượng , hình gọi là đồ vật ” . Âm dương chuyển hoá gọi là “ biến ” , âm dương vận hành gọi là “ thông ” . Âm dương không biến không thông thì trời đất không tồn tại được . Sự biến hoá của âm dương “ hình ở trên được gọi là đạo , hình ở dưới gọi là khi Nói về lý của vạn vật là nói về “ đạo ” , nói về hình của vạn vật là nói về “ khí ” .

Đối lập thống nhất của khí là quy luật tồn tại và biến hoá phát triển của vạn vật . “ Một âm , một dương gọi là đạo ” . Sự đối lập và thống nhất của âm dương là “ Dạo lập thiên ” ; sự đối lập và thống nhất của cương và nhu là “ Đạo lập địa ” ; sự đối lập và thống nhất của nhân và nghĩa là “ Đạo lập nhân ” . Mong muốn cho mọi người trong thế gian và vạn vật thuận theo lẽ đó là mục đích cao nhất của các thánh nhân cổ đại làm Dịch . Cái đạo này dùng để quan sát sự vật trong quá khứ gọi là thuận theo thời gian ; dùng để quan sát sự vật trong tương lai gọi là ngược thời gian . Đó chính là phương pháp vận dụng quy luật .

Tham dự học về mặt không gian và thời gian , lấy âm dương đối lập và thống nhất làm rường cột cho toàn bộ hệ thống . Trước hết trạch được phân thành âm dương . Phần mộ gọi là âm trạch , nhà ở gọi là dương trạch . Đó chính là những điều nói trong “ Hệ tử . “ Dịch lấy thiên địa làm chuẩn , cho nên gọi là thuyết về sinh tử " . Tham dự học lấy âm trạch và dương trạch làm đối tượng nghiên cứu . Thứ hai là các phương vị trong không gian đểu là âm dương đối lập thống nhất . Thượng là càn , là dương , hạ là khôn , là âm ; đông là chấn , là dương trưởng âm tiêu ; tây là đoài , là âm trưởng dương tiêu ; bắc là khảm , là âm cuối , dương bắt đầu ; nam là ly , là dương cuối âm bắt đầu . Hậu thiên bát quái chia thành 24 sơn và hướng ( sơn còn gọi là toạ sơn , hoặc lưng nhà , hướng là hướng trước của nhà ) . Sơn và hướng mỗi cái lại được chia thành âm và dương , giới hạn của chúng rất rõ ràng , không thể lẫn lộn . Thứ ba là sự vận hành của khí cũng chia thành âm dương . Âm vận hành ngược , dương vận hành thuận . Toạ Sơn và lập hướng đều phải căn cứ theo sự vượng suy của hai khí âm dương này .

Biến đổi là sự tồn tại của sinh mệnh vạn vật

Sự biến đổi của khí là vĩnh hằng không ngừng . Vạn vật sinh sinh , diệt diệt trong sự biến đổi không ngừng đó . Mục đích của sự biến đổi là nhằm tạo dựng sự nghiệp cho xã hội loài người . “ Dịch cùng tắc biến , biến tắc thông , thông tắc cửu ” . Trăm nghìn điều viết trong kinh Dịch đều là bàn về sự biến đổi vận động của vạn vật . Chỉ có biển hoá vạn vật mới tồn tại , tức là “ sinh sinh ” gọi là dịch . Biến cần phải thông , thông sẽ đạt được sự sinh tồn , sinh tồn thì đạo chính trị mới có và mới ổn định được thiên hạ .

Huyền không học là môn học vấn cao nhất , ảo diệu nhất trong Tham dự học . Chỗ ảo diệu của nó là ở sự biến hoá của thất sắc của khí . Thất sắc cửu khí biến đổi tuần hoàn trong sự dịch chuyển của thời gian , biến đổi tuần hoàn trong sự chuyển đổi của các mùa , biến đổi tuần hoàn trong sự thuận nghịch của âm dương . Mục đích của nó là tìm cách làm cho xả tắc yên ổn và thịnh vượng . Sự biến đổi về cửu khí theo một trình tự nhất định , cuối cùng sẽ tìm thấy vị trí nhà ở thích hợp , gặp được điều tốt , tránh được điều xấu .

Hệ lý luận Huyền không kham dự học bắt nguồn từ “ thuyết quái ”

image

Dịch biến theo một phương vị nhất định và có tượng vật tương ứng . Các phương vị của nó do câu nói dưới đây quy định . Để xuất hổ chấn , tề hồ tốn , tương kiến hồ ly , chí dịch hồ không thuyết ngôn hổ đoài , chiến hồ càn , lao hồ khảm , thành ngôn hổ cấn . Vạn vật xuất ở chấn , chấn là phương đông vậy . Tề hồ tốn , tốn là đông nam . Tề tức là nói vạn vật đã hiện ra đầy đủ . Ly là quẻ ở phương nam ... Khôn là địa ... Đoài là mùa thu ... Cần là quẻ ở phía Tây bắc ... Khảm là thuỷ , là quẻ ở phương chính bắc . Cấn là quẻ ở phương đông bắc ” . Người Tống căn cứ câu nói này đã làm ra hậu thiên bát quái Văn Vương .

“ Thuyết quái " quy định quan hệ giữa các phương vị hậu thiên bát quái như sau :

Thiên địa định vị Thiên là càng địa là khôn . Càn , khôn xác định vị trí của 6 loại sự vật khác ( Lôi , phong , hoả , thủy , sơn , trạch ) . Càn Khôn mở rộng vô biên , nhưng luôn ở trạng thái động tĩnh biến hoá . Tất cả mọi sự biến hoá động tĩnh đó đều xảy ra trong trời đất .

Lôi phong bàng bạc . Tức là nói sấm và gió rất gần gũi và đi kèm theo nhau . Thuỷ hoả bất tương xạ , tức là nói thủy và họa tương phản với nhau nhưng thường cùng đi bên nhau .

Sơn trạch thông khí . Cấn là sơn , đoài là trạch , khí thông thương với nhau , một cái là biểu , một cái là lý .

Như vậy mối quan hệ của 8 phương vị cũng là mối quan hệ của 8 loại yếu tố của môi trường sơn thủy . Song “ Thuyết quái ” vẫn chưa chỉ rõ mối quan hệ ngũ hành sinh khắc giữa 8 phương vị với 8 yếu tố của môi trường . Về điều này các nhà ngũ hành đời sau đã căn cứ vào nguyên tắc của “ Thuyết quái ” để sáng lập lên thuyết ngũ hành .

Tham dự học lấy bát quái Văn Vương làm cơ sở , lấy mối quan hệ phương vị của bát quái Văn Vương , mối quan hệ của các yếu tố môi trường và thuyết ngũ hành để xây dựng nên toàn bộ khung và hệ thống lý luận . Sự phát minh của la bàn và việc sử dụng nó chính là biểu hiện tập trung của hệ thống này . La bàn có rất nhiều loại , nhưng về cơ bản chia thành hai loại là la bàn tổng hợp và la bàn chuyên dụng . Hình thức nguyên thủy nhất của nó chính là hậu thiên bát quái của Văn Vương . La bàn này là loại la bàn chuyên dụng đơn giản nhất thường được các nhà Huyển không tham dự học sử dụng .

Sự phán đoán cát hung của Huyền không tham dự học là lấy “ tương loại vạn vật trong ' Thuyết quái " làm cơ sở

Càn là trời , còn gọi là cha . Khôn là đất , còn gọi là mẹ . Chấn là nan , gọi là trường nam Tốn là nữ , gọi là trường nữ . Khảm là nam , gọi là trung nam , ly là nữ , gọi là trung nữ . Cấn là nam , gọi là thiếu nam . Đoài là nữ , gọi là thiếu nữ .

Càn là mạnh mẽ . Khôn là thuận theo . Chấn là động . Tốn là nhập . Khảm là rơi vào . Ly là đẹp đẽ . Cấn là đình chỉ , ngừng lại . Đoài là vui vẻ . Cần là ngựa . khôn là trâu , chấn là rồng , tốn là gà , khảm là lợn , ly là chim trĩ , cấn là chó , đoài là dễ .

Càn là đầu , khôn là bụng , chấn là chân , tốn là bắp đùi , khảm là tai , ly là mắt , cần là tay , đoài là miệng .

Càn là trời , là tròn , là quân tử , là cha , là vua , là vàng , là hàn lạnh , là băng tuyết , là màu đỏ , là mã tốt , ngựa già , là lưng ngựa , là hoa quả .

Khôn là đất , là mẹ , là vải , là rìu búa , là luyến tiếc , là quân bình , là trâu cái , là xe lớn , là văn chương , là người bình thường , là cán , can có thể là màu đen .

Chấn là sấm , là rồng , là màu huyền hoàng , là chuyển , là tiến độ rộng lớn , là trường nam , là quả đoán , là cây trúc , là cây lau . Ngoài ra còn có thể là ngựa , là hót hay ...

Tốn là cây . là gió , là trưởng nữ , là dây thừng , là thợ , là trắng , là dài , là cao , là tiến thoái , là không kết thành quả , là thối . Ngoài ra có thể là người , là phân chia , là mắt nhiều lông trắng ...

Khảm là thủy , là mương rảnh , là ẩn phục , là uốn nắn , là hình cung . Cũng có thể là người , là lo âu , là bệnh tim , là đau tai , là máu . là màu đỏ . Ngoài ra có thể là ngựa , là sống lưng đẹp , là đầu dưới , là đế chân mỏng . Ngoài ra có thể là xe , là thông , là trắng , là giặc cướp .

Ly là lửa , là mặt trời , là điện , là trung nữ , là giáp trụ , là binh khí . Ngoài ra có thể là người , là bụng , là con ba ba , con cua , con ong , Con rùa .

Cấn là núi , là đường tắt , hòn đá nhỏ , là then cửa , là quả dưa , là chùa , là ngón tay , là chó , là chuột , là chỗ ở tối tăm .

Đoài là đầm ao , là thiếu nữ , là cãi vã , là gãy gập , ...

PHẦN 9

Các nhà tham dự học dùng những tượng vật trên để phán đoán cát hung cho âm trạch và dương trạch . Cho dù là căn cứ vào tượng que hay ngũ hành để chọn ra các tượng vật dùng để phán đoán đều phải gắn chặt với những nội dung mà “ Thuyết quái ” bao hàm , hoặc lấy những nội dung đó làm cơ bản để mở rộng suy luận .

III . SỰ KẾT HỢP GIỮA LẠC THƯ VỚI HẬU THIÊN BÁT QUÁI VÀ HÀM NGHĨA CỦA NÓ

Kinh Dịch dùng phương thức thần thoại để nói lên của Hà đổ và Lạc thư . Hà đồ xuất hiện vào thời đại Bao Hy Thị , do long , mã đội trên lưng xuất hiện ở Hoàng Hà mà được . Lạc thư xuất hiện ở thời đại Đại Vũ trị thuỷ , do rùa thần xuất hiện ở Lạc Thủy mà thành . Ngoài thời đại mỗi cái xuất hiện cách nhau rất xa ra ,như mỗi cái còn có nguồn gốc rất riêng biệt , không có mối liên hệ tất yếu nào . Người đời sau tuy có so sánh và phân tích nhưng đều rất khiên cưỡng .

Cái mà Hà đồ phản ánh là kết cấu không gian của vũ trụ lấy quả đất làm trung tâm . Hình vẽ của Hà đồ là mặt phẳng , chia làm 4 hướng , nhưng không phân biệt trên dưới .

1 dương 6 âm , ở phía bắc vũ trụ

2 âm 7 dương , ở phía nam vũ trụ ;

3 dương 8 âm , ở phía đông vũ trụ ;

4 âm 9 dương , ở phía tây vũ trụ ;

5 dương 10 âm , ở trung tâm vũ trụ , tức là quả đất .

Trong hình vẽ không có trên dưới , nhưng có ẩn chứa trên dưới . “ 5 dương 10 âm ” là địa , tức là dưới , phía trên nó tất nhiên là thiên . Địa là khốn , thiên là càn , trên càn dưới khôn . Cho nền kinh Dịch nói “ Thiên địa định vị ” . “ Dịch lấy thiên địa làn chuẩn . Vạn vật theo chuẩn đó để phát sinh biến đổi " .

Căn cứ hình dạng của Hà đổ thì quả đất là 5 âm 10 dương , có hình như trên đây .

Hình vuông này biểu thị quả đất hình vuông . Nếu chuyển đổi thành hình vuông chữ số thì sự sắp xếp như sau .

Số 5 ở trung tâm hình là dương 5. Số 5 ở 8 phương chung quanh là âm 5. Bất kỳ hai số âm 5 nào đối xứng nhau đều hợp thành âm 10 . Quả đất lấy số 10 làm sổ hoàn chỉnh , biểu thị quả đất nhu thuận hài hoà , yên tĩnh hoàn thiện , âm dương thống nhất , là mục tiêu cuối cùng mà con người đeo đuổi .

Nhưng bản chất của Dịch lý lại là biến đổi , nhu thuận là từ cương trực biến ra , hài hoà là từ mâu thuẫn biến ra , yên tĩnh là từ vận động biến ra , hoàn mĩ là từ lồi lõm biến ra , thống nhất là từ đối lập biến ra . Quả đất đúng là như thế . Từ không biến thành có , từ chết biến thành sống , từ suy biến thành vượng , từ nhược biến thành mạnh , từ ít biến thành nhiều , từ đơn giản biến thành phức tạp . Vinh viễn sinh sinh diệt diệt , chi phi nhu thuận , phi hài hoà , phi hoàn mĩ , phi yên tĩnh mới tìm được sự hài hòa và hoàn mĩ . Theo số mà nói thì số 10 là hoàn mĩ . Nhưng số 10 là từ các số 1 , 2 , 3 , 4 , 5 , 6 , 7 , 8 , 9 mà biến ra . Vì vậy kinh Dịch nói : “ Thiên 1 địa 2 , thiên 3 địa 4 , thiên 5 địa 6 , thiên 7 địa 8 , thiên 9 địa 10. Thiên số 5 , địa cũng số 5 ” . Hợp số lớn nhất là 10. Cho nên :

1 cộng 9 là 10 ,

2 cộng 8 là 10 .

3 công 7 là 10 .

4 cộng 6 là 10 .

5 cộng 5 là 10 .

Như vậy là trừ trung tâm “ 5 cộng 5 ” ra thì 4 phương còn lại số tương ứng của chúng nên là : 1 đối với 9 ; 2 đối với 8.5 đôi với 7 : 4 đôi với 6. Vì vậy nếu dùng số để biểu thị quả đất thì sẽ có 4 trạng thái như sau :

image

Các số trong 4 hình này , mỗi hình dù đếm theo chiều ngang , chiều dọc hay đường chéo đều cộng thành 10 , ba số liên tục là 15 .

Trong 4 trạng thái này thì trạng thái nào là trạng thái chính thức phản ánh trạng thái yên tĩnh tương đối ? Điều này phải lấy Hà đồ phản ánh kết cấu của vũ trụ làm căn cứ để xác định . Hà đổ là các số dương 1 , 3 , 9 , 7 , trong đó hai số 1 và 3 là số sinh , hai số 7 và 9 là số thành .

Thiên 1 hợp địa 5 sinh thành 6. 1 và 6 ở phía bắc .

Thiên 3 hợp địa 5 sinh thành 8 . 3 và 8 ở phía đông .

Địa 2 hợp thiên 5 sinh thành 7. 2 và 7 ở phía nam .

Địa 4 hợp thiên 5 sinh thành 9. 4 và 9 ở phía tây .

Hai số 1 , 3 đã đành là số sinh thì phải lấy vị trí của hai số này để quyết định các phương vị khác .

1 ở chính bắc thì 9 ở chính nam ; hai số hợp thành 10 .

3 ở chính đông thì 7 ở chính tay ; hai số hợp thành 10 .

Như vậy vị trí của 4 số chính là : đông , tây , nam , bắc đã được xác định . Vậy vị trí của 4 số chẵn là : 2 , 4 , 6 , 8 được xác định như thế nào ? 2 , 4 , 6 , 8 đều là số chẵn , là âm , là địa , còn 1 , 3 , 9 , 7 , đều là số lẻ , là dương , là thiên . Sự vận hành của thiên , địa theo phương hướng ngược lại với nhau , thiên quay sang trái , địa quay sang phải . Số liên tiếp của thiên là hướng quay sang trái do đó số liên tiếp của địa phải quay sang phải . Tức là :

6 ở bên phải của chính bắc , 4 ở bên phải của chính nam ; hai số hợp lại bằng 10 .

8 ở bên phải của chính đông , 2 ở bên phải của chính tây ; hai hợp lại bằng 10 .

Như vậy phương vị của 8 số đã hoàn toàn được xác định là chính bắc , 2 ở tây nam , 3 ở chính đông , 4 ở đông nam , 6 ở tây bắc , là chính tây , 8 ở đông bắc , 9 ở chính nam . Hình vẽ như dưới đây .

Độc giả xem hình này sẽ biết được nó hoàn toàn ăn khớp với hình Lạc thư . Điều đó chứng tỏ Lạc thư là do Hà đồ biến hoá thành . Nếu nói Hà đổ là do Bao Hy Thị vẽ nên thì Lạc thư là do Đại Vũ vẽ nên . Từ Hà đồ diễn biến thành Lạc thư tối thiểu phải trải qua 2000 năm . Nếu nói Hà đổ là hình ảnh kết cấu vũ trụ thu nhỏ thì Lạc thư là hình ảnh quả đất thu nhỏ .

image

Đối chiếu hậu thiên bát quái của Văn Vương với số 8 phương của Lạc thư phối thành một hình vẽ thống nhất thì sẽ được “ hình bát quái Lạc thư ' hoặc gọi là hình “ Lạc thư cửu cung . Nếu phối thêm vào " Lạc thư cửu cung " khái niệm “ tinh ” ( sao ) thì gọi là “ hình phương vị Lạc thư cửu tinh " .

Số của 8 phương trong hình này ( bao gồm cả trung tâm là 9 phương ) đại biểu cho nhiều ý nghĩa . Nhất . Đại biểu quả khảm , cung khảm , phương chính bắc , sao Tham lang , thủy khí , ngũ hành là thúy , trung nam , tượng vật của khảm . Thông thường gọi là Nhất bạch thuỷ tinh .

Nhị . Đại biểu quả khôn , cung khôn , phương tây nam , sao Cự môn , thổ khí , ngũ hành là thổ , bà già , tượng vật của khôn . Thông thường gọi là Nhị hắc thổ tinh .

Tam . Đại biểu quẻ chấn , cung chấn , phương chính đông , Bao Lộc tồn , mộc khí , ngũ hành là mộc , trường nam , tượng vật của chấn . Thông thường gọi là Tam bích mộc tinh .

Tứ . Đại biểu quẻ tốn , cung tốn , phương đông nam , sao Văn khúc : mộc khí , ngũ hành là mộc , trưởng nữ , tượng vật của tốn , gọi là Tứ lục mộc tỉnh .

Ngũ. Đại biểu thiên tâm , mậu , ki , quẻ vô định , còn gọi là cung giữa , phương vị ở trung tâm , sao Liêm trinh , thổ khí , ngũ hành là thổ , hoàng cực , đục thân bất định ) . Còn gọi là Ngũ hoàng thổ tinh .

Lục . Đại biểu quẻ càn , cung càn , phương tây bắc , sao Vũ khúc , kim khí , ngũ hành là kim , cha già , vật tượng của càn , thông thường gọi Lục bạch kim tinh .

Thất . Dại biểu quẻ đoài , cung đoài , phương chính tây , sao Phá quân , kim khí , ngũ hành là kim , thiếu nữ , tượng vật của loài . Thông thường gọi Thất xích kim tinh .

Bát . Đại biểu quẻ cấn , cung cấn , phương đông bắc , sao Tả bổ , thổ khí , ngũ hành là thổ , thiếu nam , vật tượng của cấn . Thông thường gọi là Bát bạch thổ tinh .

Cửu . Đại biểu quẻ ly , cung ly , phương chính nam , sao Hữu bật , hoả khí , ngũ hành là hoả , trung nữ , tượng vật của ly . Thông thường gọi là Cửu tử hoả tinh.

image