II. CÁC BƯỚC CỦA TỌA SƠN LẬP HƯỚNG

Thông thường khi toạ sơn lập hưởng. trước bết phải xem xét sơn thuỷ có hoàn mỹ hay không, tức là chỗ "long đến" sơn không làm phát tán khí, mà sơn có hình dạng chận lại làm tụ khí, có sơn có thuỷ, sơn quản về nhân đinh (nhân khẩu), thuỷ quản về tài phú (giàu có). Phúc dấy hoặc mỏng (tức nhiều hay ít) là do "Đường cục" (cục của nhà ở) hoàn mỹ nhiều hay ít quyết định Chỗ vụn vật đất hẹp thì phúc mỏng, chỗ hoàn mỹ, thênh thang phúc sẽ dấy hơn. Loan đầu quyết định thành tựu của người đời sau, hưởng thuỷ (sông nước) quyết định sự giàu có của người đời sau.

Cái gọi là "đường cục", dựa theo sự tiến bộ của xã hội, phân thành ba dạng cơ bản là : đô thị, đồng bằng và sơn địa. Đô thị hiện đại, ít thì có 8-10 vạn hộ, nhiều thì có 1 triệu hộ trở lên, đại để là miền duyên hải, nơi đầu mối giao thông quan trọng, thương nghiệp phồn vinh. "Đường cục" ở đô thị, nói chung địa hình rộng rãi bao la, núi xa, nước gần, nơi sông biển gặp nhau, khí thế bao la, bàng bạc Vừa có quá trinh lịch sử phát triển và biến đổi lâu dài, vừa có khả năng mồ rộng, phát triển hiện đại với tốc độ cao. Một "đường cục" như thế, có thể trải qua biển đổi lịch sử hàng ngàn năm, lại có thể tiếp nhận nhịp sống của thời đại mới, cùng thời đại tiến lên. Điều đó không có gì khác ngoài do thế "long đến" lớn, thế "thuỷ đến" cuốn cuộn, tùy theo thời vận thay đổi, tuy có khi vượng khi suy, nhưng không bao giờ nhập tà. Cư dân sống trong đô thị có khác nhau, mặc dù sống chung cùng một vùng, nhưng có người đời đời phồn vinh, khoa bằng liên tiếp. Có người lại chỉ thịnh một thời, vận qua thì suy, có người suốt đời lao lực vẫn không ngóc đầu lên được, có người tựu lạc nơi đầu đường cuối phố. Lên lên, xuống xuống, thịnh thịnh, suy suy. .. tất cả đều do vận khí của "đường cục" quyết định. Nói chung con người ta cốt là ở chỗ vận khí, tuyệt đối không có ai mãi mãi phồn vinh, một mình độc chiếm thiên hạ, cũng không có ai đời đời suy bại. chịu khổ hết đời

ài này sang đời khác. Cái đó gọi là thời vận luân lưu chuyển dời, mỗi người được hưởng một thời. Trong đó có người được quyền quý phong lưu một thời nhờ có sự trợ giúp của phong thuỷ thi cũng không thoát được đời sau sẽ suy bại. Cũng có người tuy nghèo khó phiêu bạt nhưng không hề cáu trời trợ giúp mà

a vẫn phất lên giàu có. Tốt không phải là tốt mãi, mà xấu cũng không phải xấu mãi, quý không phải quý mãi, mà bèn cũng không hên mãi. Vùng đồng bằng duyên hải, "long" ở phương xa, dừng lại nơi sông biển gáp nhau, vì vậy người ta chọn ở bên sông nước. Nơi đó đất bằng hàng ngàn dậm, nhận dược sự che chồ của "tiếm long", tận hưởng được cái đức của "vượng thuỷ". Người ta ở dọc theo hướng thuỷ (sông nước), thôn trang liền một dải, con cháu đông đúc đời này sang đời khác. Cũng vì thời vận lưu chuyển, chỗ này vượng chỗ kia suy, con cháu nhà này đông, nhà kia tàn lụi. Đúng như người ta thường nói : mấy nhà vui vẻ mấy nhà buồn hiu, giống nước sông mùa xuân chảy mãi về đông. "Đường cục" vùng đồng bằng duyên hải, nói chung dựa vào thuỷ (sông nước) để tìm long. núi ở phía sau xa ngàn dặm. phía trước là ngã ba hội lưu của các dòng nông chính, được thế nước chảy vòng quanh, khi gặp được thời vận nắm lệnh sẽ khiến cho gia đình hưng vượng. Nếu thời vận thay đổi sẽ khó tránh được suy tàn, cửa nhà sa sút, hoặc lưu lạc nơi đất khách quê người. Làng bản vùng sơn địa, tuy long ngay sát vách, sông nước vòng quanh trước cửa, nhưng phẩn nhiều là những khoảnh đất nhỏ liền nhau, hình thể chặt hẹp. Vì vậy phần nhiều người ta chọn những khoảnh đất có núi vây quanh để ở. Vì địa hình nhỏ hẹp, nên sự chi phối của thời vận càng rõ ràng. Gập đúng thời vận thì phơi phới vươn lên, nói biếc nước xanh, khắp nơi hiện ra cảnh quan tốt đẹp. Thời vận thay đổi, dản dần tàn lụi. núi xác xơ sông khô bản. khắp nơi tường đổ nhà xiêu, cảnh hoang tàn xơ xác. Từ đó ta thấy việc chọn nơi ở, trước tiên phải tìm chỗ "đường cục" hoàn mỹ, sau đó phải hợp với "lai long khứ thuỷ", hợp thời vận mới có thể ở đó dài lâu được.  Sau khi chọn được "đường cục" vừa ý là có thể xem xét đến "toạ sơn lập hưởng" xây dựng nhà cửa để ở lâu dài. Dưới đây bàn về các bước khi toạ sơn lập hướng.

Bước 1. Phải căn cứ vào địa thế của tự nhiên, lấy sơn và hướng của "lai long nhập thủ" làm qui tắc lập hướng Cái gọi là "lai long" tức là thế của các rặng núi đi tôi. Nếu dảy

â

y núi xa ở phía tây bắc, dãy núi gần ở phía đông nam, thế nái như thế là chạy theo hưởng càn tốn, nếu núi xa ở phía đông bắc, núi gần ở phía tây nam, thế núi này chạy theo hướng càn khôn. nếu núi xa ở phía tây. núi gần ở phía đông. thế núi này chạy theo hướng đoài chấn, nếu núi xa là phía bắc, múi gán ở phía nam, thế núi này chạy theo hưởng khảm ly. Đông tây nam bắc, bốn mặt tám phương, tất cả gồm có 24 hướng chạy của thế núi. Hướng chạy của thế núi, nguyên tắc là lấy liền một dải, ở giữa không nên có sông ngồi phân cách. Nếu ở giữa có sông ngồi phân cách, đó chính là nhận nhấm thế núi. Nơi gọi là "lai long nhập thủ" chính là nơi tận cùng của thế núi. Nói chung nơi này là điểm sông ngồi giao hội. "Lai long" lấy nước làm giới hạn, gặp nước (sông ngồi) thi dừng lại. Nơi này phần nhiều có đất bằng phẳng bối đắp lên, hình thành "đường cục" núi vây quanh. sông ngời bao bọc, khí tụ tại đây. vừa đúng là ndi tụ cư Thế rặng múi chạy đến, tuy có 24 phương hướng, nhưng thực tế chỉ có ba nguyên, tức là thiên nguyên, địa nguyên, nhân nguyên. Phàm các hướng : tý, ngọ, mão, dậu, càn, tốn. cấn. khôn là 8 hướng thuộc thiên nguyên long Các hướng : thin, tuất, sửu, mùi, nhâm, bính, giáp, canh là 8 hưởng thuộc địa nguyên long. Phàm các hướng : quí, đinh, át, tân, đán. thân, tị. hợi là 8 hướng thuộc : nhân nguyên long Toạ sơn lập hưởng sẽ phải dùng một loại khí cùng nguyên làm nguyên tắc. Nơi "thế sơn nhập thủ" là thiên nguyên long. lập hướng cũng phải là thiên nguyên long. Nơi "thế sơn nhập thủ" là địa nguyên long thì lập hương cũng phải là địa nguyên long. Nơi "thế sơn nhập thủ" là nhân nguyên long, thì lập hướng công phải là nhân nguyên leng Chỉ có một loại khí cùng nguyên, mới

ê có thể bảo đản được thuần một quê. Ví dụ, nơi "thế sơn nhập thủ" là thương tổn, tổn là thiên nguyên long, thì có thể chọn hướng tổn, hưng ngọ, hướng khôn, hướng mão, hướng dậu. Hướng chạy của thế núi, nói chung là quanh co khúc khuỷu, chọn một đoạn vào đấu tiên làm nguyên tắc. Có một số địa phương, mạch núi xa vời không thể quan sát nổi, đành phải dùng biện pháp lấy thuỷ (sông nước) để chứng minh long (dải núi) để phán đoán.

Ví dụ chỗ sông ngôi giao nhau, chọn một đoạn ở hai bên trái và phải nơi giao nhau, hình thành một góc kẹp. Đường phân giới trung tâm tức đường phân giác của góc kep của nó là hướng đi của thế núi "lai long". Xem hình dưới đây :

image

Hướng đi của thế núi, kiêng kị nhất là đường "kị tuyến", đường toạ hưởng lập được nếu để lên trên đường phân giới của hai quẻ, nó là đường đại không vong, dùng nó thi đại hung (xấu nhất). Nếu đề lên trên đường phân giới của thiên nguyên long với địa nguyên long là đường tiểu không vong, dùng nó thì hung sát (xấu). Nếu đề lên đường ranh giới của thiên nguyên long với nhân nguyên long, tuy không phải là âm dương lẫn lộn nhưng cũng không nên dùng. Dù là đè lên trên đường phân giới phân kim năm ô, đường phân giới 64 quẻ, đường phân giới mùa tiết cũng không thích hợp. Tóm lại cứ hễ đè lên đường phân giới đều là sai. Có một số vùng. "đường cục" tuy đẹp nhưng thuộc kị tuyến xuất quái (vượt khỏi quẻ). hoặc âm dương lẫn lộn đều không nên dùng, thà bỏ không dùng, đi tìm nơi khác để tránh sai lầm còn tốt hơn.

Lập hướng cũng phải xem "thuỷ" của hướng Chọn "thuỷ" cung phải bảo đảm khí cũng một nguyên. Tọa sơn là thiên nguyên long. thuỷ của hưởng cũng phải là thiên nguyên long ; toạ sơn là địa nguyên long, thuỷ của hưởng cũng phải là địa nguyên long : toạ sơn là nhân nguyên long thì thủy của hường cũng phải là nhân nguyên long. Nếu không cùng một nguyên thì dù có được thuỷ tốt nhất cũng vẫn chỉ là sát thuỷ. Như thế gọi là "sơn càn hưởng càn, thuỷ cũng hướng về càn, đạt được đỉnh càn sẽ xuất trạng nguyên" (lài trong sách "Thiên ngọc kinh"). Thuỷ đến phải trực điện và uốn lượn, thủy đi phải tách ra hai bên, thuỷ đến và thuỷ đi phải cùng một nguyên, mới là "hợp tuyến pháp". Cho dù là thuỷ của thành môn cũng thế. Ví dụ lập sơn tí hướng ngọ, thuỷ phải đến từ phươmg khôn, đi theo phương cấn, hoặc đến từ cấn, đi theo khôn, đến từ tấm, đi theo càn. hoặc đến từ càn, đi theo tốn. Thuỷ đến, thuỷ đã kị nhất là chạy thắng đến hoặc chảy xiết như thác ghềnh, mà phải chạy quanh co uốn lượn mới có tình, hoặc chảy chẩm chậm lay động như mặt hồ mới tốt

Chỗ "sơn long nhập thủ" sẽ xuất hiện hiện tượng xoắn phải kết huyệt và xoắn trái kết huyệt. Ví dụ thế long nhập thủ từ phương tý (tý là thiên nguyên long) đột nhiên xoắn phải kết huyệt thì phải lập sơn càn hướng tốn (càn tổn cũng là thiên nguyên long), mà không thể lập sơn tý hướng ngọ. Đây là nguyên nhân của cái gọi là vượt bốn ngôi để dựng quẻ phụ mẫu. Sơn tý nhập thủ, thuỷ tất phải ở phương ngọ. Muốn tìm được thuỷ ở phương ngo thì phải chọn hướng là tốn để phương ngọ là thành môn. Như thế gọi là long âm lập hướng dương. Điều đó mách bảo người ta rằng : nếu gặp long bối thì phải chọn long dương lập hướng âm, hoặc long âm lập hưởng dương. như thế mới hợp tuyến pháp. Nếu không làm thế thì sẽ xuất hiện hiện tiượng toạ sơn bất chính. Ví đụ sơn tí xoắn phải. lập sơn tí hướng ngọ, phương toạ sẽ không vuông góc với sơn thành, như vậy có hiện tượng toạ bị xiên.

Bước 2. Lập tuyến chọn hướng. Dùng la bàn chọn toạ độ sơn vài hướng

tớng. Buớc này rất công phu, đã được giới thiệu trong tiết "lập tuyến và phân kim", bạn đọc có thể tham khảo. Việc quan trọng nhất của lập hướng là tìm điểm trung tâm. Bất cử loại địa hình nào cũng đều có thể xem là hình phẳng. Tìm điểm trung tâm trên hình phẳng này là phương pháp về hình thuộc hành học phẳng Chỉ cần có kiến thức hình học trung học cơ sở là có thể làm được. Địa hình thông thường như hình tròn. hình vuông. hình tam giác, hình da giác đều tương đối dễ tìm diểm trung tâm. Nhưng với nhữhng hình bất thường thì tương đối khó, điểm trung tâm của nó có thể không nằm trong hình phẳng đó, mà nằm ngoài hình đó. Dưới đây đưa ra mấy trường hợp làm ví dụ.

Sau khi tìm được điểm trung tâm, sẽ theo nguyên tắc cùng một loại khí nguyên để lập tuyến chọn hướng. Nếu hướng đi long mạch của "đường cục" là thiên nguyên long, thì theo thiên nguyên long lập tuyến chọn hướng. Nếu hướng đi long mạch của "đường cục" là địa nguyên long thì theo địa nguyên long lập tuyến chọn hướng. Nếu hướng đi long mạch của "đường cục" là nhân nguyên long thì theo nhân nguyên long lập tuyến cho hướng. Sau khi làm như thế sẽ có thể tìm được tuyến vị (vị trí tuyến) của toạ sơn lập hướng trên la bàn.

image

image
image

Nếu gặp tuyến không thể lập được (tuyến bất khả lập), ví dụ gặp đại không vong, tiểu không vong thì địa hình này nên bỏ đừng dùng. Nếu gặp chính hướng hoặc kiêm hướng thì có thể theo chính hướng dựng quẻ hoặc theo kiêm hướng dựng quẻ.

Bước 3. Dựng quẻ, tức "lập quẻ" hoặc "quẻ thay". Cái gọi là "lập quẻ" chính là dựng quẻ theo chính hướng, xem quẻ dựng được thuộc bảng nào trong 216 bảng "khởi tinh", sau đó dựa theo thuyết minh của bảng để đưa ra phán đoán tốt xấu. Bất kể dựng được loại quẻ nào đều nằm trong ba loại kết quả như sau :

Một là "đáo sơn đáo hướng" tức vượng sơn, vượng hướng, đó là khi vận tinh nắm lệnh bay đến vị trí của sơn toạ, lại bay đến vị trí của hướng. Ở đây cần nhắc bạn đọc chú ý, nếu dùng "quẻ thay" có thể xuất hiện hiện tượng "thế mà không thế", tức nhìn bề ngoài như là "đáo sơn đáo hướng", nhưng thực tế lại không phải là "vượng sơn vượng hướng". Ví dụ sơn giáp hướng canh (kiêm mão dậu và dần thân) của vận 4 và sơn canh hướng giáp (kiêm dậu mão và thân dần) của vận 4, nhìn bề ngoài là "đáo sơn đáo hướng", nhưng trên thực tế là phạm sai lầm "quẻ xuất hướng" (hướng vượt ra ngoài quẻ). Bởi vì giáp canh và canh giáp thuộc hai quẻ chấn đoài, còn dần thân và thân dần thì thuộc hai quẻ cấn khôn. Quẻ khác nhau thì khí cũng khác nhau. Đồng thời còn phạm lầm lẫn âm dương lẫn lộn. Bởi vì giáp canh và canh giáp tuy cùng quẻ với mão dậu và dậu

đ

ậu mão, nhưng âm dương khác nhau, cái trước thuộc dương mà cái sau thuộc âm, âm dương cùng kiêm thì khí quẻ hỗn tạp. Vì sao lại xuất hiện lầm lẫn này ? Nguyên nhân là do dùng phương pháp "thế mà không thế" tạo nên. Vốn là có kiêm ắt sẽ dùng thế, nhưng hai sao sơn và hưởng đang dùng phương pháp sắp xếp sao không "thề", sao thay thế với sao sơn và hướng ban đầu giống nhau, không cần dùng thế, vẫn dùng sao ban đầu bay vào trong cung giữa. Tượng quẻ xuất hiện hoàn toàn giống chính hướng, tạo nên chính hướng phạm sai lầm của "hướng vượt khỏi quẻ" và "âm dương lẫn lộn".

Hai là “Thượng sơn hạ thuỷ" sẽ tổn định phá tài. Đó là khi phi tinh hướng của sơn bay sang vị trí phi tinh hướng của hướng, còn phi tinh sơn của hướng lại bay đến vị trí phi tinh sơn của sơn. Sự đảo ngược vị trí, tạo nên long thần trong nước (thuỷ) lên núi (sơn), long thần trên núi xuống nước. Sơn vốn cai quản nhân khẩu (đinh). thuỷ cai quản tài sản, bây giờ sơn thần xuống nước, thuỷ thần lên núi, hình thành cục diện tổn định phá tài. Phàm là gặp cách cục này, thông thường không nên dùng, trừ phi sơn thủy của “đường cục" trái ngược với tượng quẻ, hơn nữa rất đẹp, bằng không thì thà bỏ nó còn hơn.

Ba là : song tinh đến hướng của sơn là cục “thượng sơn", song tinh đến hướng của hướng là cục “hạ thuỷ". Hai vượng tinh cùng đến phương sơn có thể vượng đinh, nhưng lại là phá tài. Cách cục này nói chung không nên áp dụng. Trừ phi “đường cục" đặc biệt, tức phương của toạ và sơn lại đồng thời có thuỷ (nước) mới có thể áp dụng, đây là cục “sơn mãn triều không". Hai vượng tinh cùng đến phương của hướng, có thể vượng tài, nhưng lại tổn đỉnh. Cách cục này có nhiều địa sư áp dụng, vì “đường cục" này tương đối phổ biến, tức phương của hướng có thuỷ (sông nước), nhưng đồng thời cũng có sơn, sơn thuỷ cùng chung một phía.

Còn về phương toạ sơn, nếu gặp sơn tinh sinh khí, có thể xếp thành cục “toạ mãn triều mãn". Nếu gặp sơn tinh suy thoái, thì có thể xếp cục “toạ không triều mãn".

Bước 4. Kiểm tra quan hệ sinh khắc của hướng phi tinh (tức chỉ vượng tinh đáo hướng) thuộc phương của hướng với “sơn long nhập thủ". Bạn đọc có thể xem tiết “thu sơn thoát sát và long vận sinh khắc" sẽ có thể hiểu rõ ràng.

Bước 5. Tìm chọn thuỷ khẩu của thành môn, đề nghị bạn đọc xem tiết “hai cung thành môn".

Bước 6. Vận dụng phép phân kim, cân bằng mối quan hệ bổ trợ hoặc xì giảm. Bạn đọc xem tiết “Lập tuyến và phân kim" sẽ rõ.

Bước 7. Thu sơn xuất sát. Bạn đọc có thể xem tiết "Thu sơn thoát sát và long vận sinh khắc". 450

Bước 8. Kiểm tra các quan hệ tốt xấu của tượng quẻ. Trong đó bao gồm âm dương hợp thành 10, quẻ tam ban, phản ngâm phục ngâm, địa vận chung, địa vận “đả kiếp", nhập tù thông thường, hướng tinh nhập tù, đỉnh tinh nhập tù, quẻ thuần, toạ hướng xung phạm thái

ải tuế, v.v..

Bước 9. Chọn ngày khởi công. Khởi công xây nhà ở cần phải chọn ngày. Còn về “thái dương tam hợp chiếu" mà các nhà “tam hợp" thường dùng có thể dùng để tham khảo. Vì sao phải tránh khí hung sát, vấn đề sẽ lưu lại để bàn ở chương sau.

Tháng mà các nhà phong thuỷ sử dụng là theo âm lịch và giới định theo 24 tiết khí.

Tháng giêng bắt đầu từ Lập xuân, kết thúc vào ngày Vũ thuỷ.

Tháng hai bắt đầu từ Kinh trập, kết thúc vào ngày Xuân phân.

Tháng ba bắt đầu từ ngày Thanh ninh, kết thúc vào ngày Cốc vũ.

Tháng tư bắt đầu từ ngày Lập hạ, kết thúc vào ngày Tiểu mãn.

Tháng năm bắt đầu từ Mang chủng, kết thúc vào ngày Hạ chí.

Tháng sáu bắt đầu từ ngày Tiểu thử, kết thúc vào ngày Đại thử.

Tháng bảy bắt đầu từ ngày Lập thu, kết thúc vào ngày Xử thử.

Tháng tám bắt đầu từ Bạch lộ, kết thúc vào ngày Thu phân.

Tháng chín bắt đầu từ Hàn lộ, kết thúc vào ngày Sương giáng.

Tháng mười bắt đầu từ Lập đông, kết thúc vào ngày Đông chí. Tháng mười một bắt đầu từ Đại tuyết, kết thúc vào Đông chí.

Tháng mười hai bắt đầu từ Tiểu hàn, kết thúc vào ngày Đại hàn.

Nếu đem 24 tiết, khí phối hợp với 24 sơn sẽ thành “Thái dương đáo sơn đáo hướng tam hợp chiếu", dưới đây kê ra như sau :

image
image

Phương pháp này chọn hơi phức tạp, bạn đọc có thê xem các sách chuyên môn có liên quan để đọc, sẽ dần dần nắm được. Nhưng không nên làm theo một cách cứng nhắc. Thực ra, chỉ cần xác định rõ mục đích của việc chọn ngày là để tránh khí hung sát, đặc biệt là hung sát của năm tháng. Còn về hung sát của ngày giờ thì có thể coi thường. Nếu như từng ngày từng giờ đều làm việc theo quy định, người ta sẽ không có cách nào làm việc được.