II. BÌNH LUẬN “QUẺ DỊCH KHAM DỰ”

Ở đây bàn hai vấn đề .

Dịch lý của quẻ dịch kham dự là gì ?

Cát hung bát khí của quẻ dịch kham dự có đạo lý hay không ?

Như trên đã nói “ Quẻ dịch kham dự còn gọi là “ Bát trạch kham dự . Gọi là bát trạch tức là chỉ : cẩn trạch , tốn trạch , ly trạch , khôn trạch , càn trạch , khảm trạch , cấn trạch , tức là lấy 8 phương của hậu thiên bát quái để xác định 8 loại trạch . Mỗi loại trạch lại bao gồm 8 loại khí là : sinh khí , diên niên , thiên y , lục sát , hoạ hại , ngũ quỷ tuyệt mệnh và phục vị . 8 loại khí này chia thành 2 bộ phận là cát khí và hung khí . Mỗi người căn cứ theo mệnh của mình thuộc ngũ hành gì để chọn nhà ở theo bát trạch thích hợp , từ đó tránh được điều hung , tìm được điều cát . Theo lý luận này , các địa sư đã quan sát phong thuỷ nhà ở của nhân gian , gọi là “ phái bát trạch tham dự .

Căn cứ của lý luận phái Bát trạch tham dự là gì ? Thực ra không phải là họ căn cứ vào thất tỉnh Bắc đẩu phát khí cho quả đất để gây nên vòng tròn bát khí đối với nhà ở dân gian đâu . Thất tinh Bắc đẩu có ảnh hưởng đến quả đất , đó là điều không thể phủ nhận . Nhưng có phải nó quyết định cát hung nhà ở của dân gian hay không ? Điều đó không hoàn toàn như thế . Nhân tố quyết định ảnh hưởng đến sự biến đổi khí trường của quả đất là sự vận hành của toàn bộ vũ trụ đặc biệt là sự vận hành của mặt trời , các ngôi sao , mặt trăng và bản thân quả đất . Nói thất tinh Bắc đẩu tạo thành bát khí của nhà ở là cách nói rất khiên cường , vì vậy không thể tin được . Thực ra căn cứ lý luận của Bát trạch phong thuỷ là “ dịch biến ” , tức là sự biến đổi các hào của 8 quẻ .

Vì sao lại nói thế ?

Thứ tự tiên thiên bát quái là : càn , đoài , ly , chấn , tốn , khảm , cấn , khôn . Nếu đem toàn bộ các hào trên của 8 quẻ này biến đổi đi , hào dương biến thành hào ấm , hào âm biến thành hào dương thì sẽ xuất hiện một loạt quả mới là : đoài , càn , chấn , ly , khảm , tốn , khôn , cấn .

image
image

Bảy bảng trên đều là do biến đổi hào của mỗi quẻ tiên thiên bát quái mà thành .

Biến hào trên sinh ra 8 sinh khí .

Biến hai hào dưới sinh ra 8 thiên y .

Biến cả ba hào sinh ra 8 điên niên .

Biến hào dưới sinh ra 8 hoạ hại .

Biến hào trên và hào dưới sinh ra 8 lục sát .

Biến hai hào trên sinh ra 8 ngũ quỷ .

Biến hào giữa sinh ra 8 tuyệt mệnh .

Nếu tổng hợp cả bảy bảng thành một bảng thì sẽ thấy được phương vị của 8 loại khí là : phục vị , sinh khí , thiên y , diên niên , hoạ hại , lục sát , ngũ qui và tuyệt mệnh ( xem bảng dưới đây ) .

image

Lấy Càn trạch làm ví dụ , ngôi còn là phục vị , tiếp theo sau là phương vị của hậu thiên bát quái , tức sinh khí ở đoài , thiên y ở cấn , diên niên ở khôn , hoạ hại ở tốn , lục sát ở khảm , ngũ qui ở chấn , tuyệt mệnh ở ly . Sau khi hiểu được cách sắp xếp của bảng này thì không cần nhớ “ đại du niên ca ” cũng có thể sắp xếp được phương vị trạch khí của 8 loại trạch . Xin độc giả chú ý sự sắp xếp trạch vị được tiến hành theo thứ tự các ngôi quả của tiên thiên bát quái , hào của các ngôi quẻ biến động cũng là thứ tự sắp xếp theo các ngôi quả của tiên thiên bát quái . Sau khi biến các hào sẽ hình thành quả mới sắp xếp theo phương vị của hậu thiên bát quái . Ở đây có một quá trình chuyển đổi từ ngôi của tiên thiên bát quái sang phương vị hậu thiên bát quái . Vì sao cần chuyển đổi như thế ? Đó là vì tiên thiên bát quái chỉ có ngôi quẻ và thứ tự quẻ , không có phương vị , còn hậu thiênquái mới có phương vị . Xin độc giả phải phân biệt rõ ràng không được nhầm lẫn vấn đề này .

Dưới đây bạn đến vấn đề thứ hai , tức là sự cát hung bát khí của “ quẻ dịch phong thuỷ ” có đạo lý hay không ? Trước hết chúng ta hãy xem sự sắp xếp các khí 8 phương của càn trạch .

image

Quẻ Càn biểu thị thuận hoà , kiên trinh nên gọi là cát , là phục vụ

Quẻ Quải là âm dương phối hợp , kim - kim thiên phối , lão nam hợp với thiếu nữ nên gọi là đại cát , có tiền đồ , là sinh khí .

Quẻ Đại súc là dương - dương hư phối , thiếu nam sinh lão nam không hợp với lẽ thường , nhưng có thể tương sinh nên gọi là tiểu cát , là thiên y .

Quẻ Thái là âm - dương tương phối , lão nữ phối lão nam , là chính phối , nhưng không có tiền đồ , chỉ mong trường thọ nên gọi là thứ cát , là diên niên .

Quẻ Tiểu súc , âm - dương tương phối , nhưng vì lão nam khác trung nữ nên là tiểu hung , là họa hại .

Quẻ Nhu là dương - dương hư phối , không hợp lẽ thường , nhưng là lão nam sinh trung nam nên gọi là thứ hung , là lục bát .

Quẻ Đại tràng là dương dương hư phối , không hợp lẽ thường lại là lão nam khắc trường nam nên gọi là hung , là ngũ qui

Quẻ Đại hữu , âm - dương tương phôi , trung nữ khắc lão nanh nên gọi là đại hung , là tuyệt mệnh .

Từ trạng thái sắp xếp khí 8 phương vị của càn trạch , ta thấy có cát hung của các loại khí là căn cứ theo mối quan hệ âm dương và mức độ lợi , hại của quan hệ lục thân . Cái có lợi nhất là sinh khí phục vị , cái lợi vừa là diên niên , cái lợi ít là thiên y . Cái có hại nhất là tuyệt mệnh , ngũ quỉ , có hại vừa là lục sát , có hại ít là hoạ hại .

Thứ hai là sự sắp xếp khí của 8 phương vị Đoài trạch :

image

Quẻ Đoài biểu thị sự vui mừng , là cát , là phục vị .

Quẻ Lý là kim - kim thiên phối , âm dương sánh vai , thiếu nữ hợp với lão nam , là vui mừng , rất có tiền để cho nên là đại cát , là sinh khí .

Quẻ Lâm là âm - âm hư phổi , lão nữ sinh thiếu nữ là hư phổi , không hợp lẽ thường , nhưng già và trẻ là thân thích nên gọi là tiểu cát , là thiên y .

Quẻ Tốn là âm - dương tương phối , thiếu nữ sinh thiếu nam , là chính phối , nhưng hơi trẻ , cho nên là thứ cát , là diên niên ,

Quẻ Tiết là âm - dương tương phối , thiếu nữ sinh trung nam , là thiên phối , không hợp lẽ thường nên là tiểu hung , là hoạ hại .

Quẻ Trung phù âm - âm hư phối , thiếu nữ khắc trưởng nữ , không hợp lẽ thường nên là thứ hung là lục sát .

Quẻ Khuê , âm - âm hư phổi , trung nữ khắc thiếu nữ , nên là hung , là ngũ quỷ .

Quẻ Quy muội , âm - dương tương phối , thiếu nữ khắc trưởng nam , ngược với lẽ thường , trưởng nam bị khắc nên là đại hung , là tuyệt mệnh .

Từ tình trạng sắp xếp khí 8 phương vị của Đoài trạch ta thấy rõ các loại cát hung của khí , cũng là căn cứ theo quan hệ âm dương và mức độ lợi hại của quan hệ lục thân để sắp xếp . Cái có lợi nhất là sinh khí , phục vị , cái có hại nhất là tuyệt mệnh .

Thứ ba , xem sự sắp xếp khí 8 phương vị của Ly trạch

image

Quẻ Ly biểu thị sự thuận theo , đi lên , sáng sủa nên là cát , là phục vị

Quẻ Phong , âm - dương tương phối , thuộc thiên phối , trường nam sinh trung nữ , hợp với lẽ thường nên gọi là đại cát , là sinh khí

Quẻ Gia nhân , âm - âm không phôi , thuộc hư phổi , trưởng nữ sinh trung nữ , không hợp lẽ thường , nhưng là tương sinh nên gọi là tiểu cát , là thiên y .

Quẻ Ký tế , âm - dương tương phối , thuộc chính phối , là thuỷ hoi ký tế , trung nam khắc trung nữ , tuy khắc nhưng là trợ giúp , nên gọi là thứ cát , là diên niên .

Quẻ Bôn , âm - dương tương phối , thuộc thiên phối , trung nữ sinh thiếu nam , âm sinh dương , không hợp lễ nghĩa nên gọi là họa hại , là tiểu hung .

Quẻ Minh di , âm - âm không phối , thuộc hư phổi , trung nữ sinh lão nữ , ngược với lẽ thường nên gọi là thứ hung , là lục sát .

Quẻ Cách , âm - âm không phối , thuộc hư phối , trang nữ khắc thiếu nữ , khắc hung ở sinh , nên gọi là hung , là ngũ quý .

Quẻ Đồng nhân , âm - dương tương phối , thuộc thiên phối , trung nữ khắc lão nam , hoàn toàn ngược với đạo lý nên gọi là tuyệt mệnh , là đại hung .

Thứ tư , xem sự sắp xếp khí 8 phương vị của quẻ Chấn .

image

Quẻ Chấn biểu thị chấn động , uy hiếp nên gọi là cát , là phục vị

Quẻ Phệ hạp , âm - dương tương phôi , thuộc thiên phối , trường nam sinh trung nữ , hợp với lẽ thường nên gọi là cát , là sinh khí .

Quẻ Truân , dương- dương không phối , thuộc hư phối , trung nâng sinh trường nam không hợp với lẽ thường , vì tương sinh nên gọi là tiểu cát , là thiên y .

Quẻ Ích , âm - dương sánh hợp , thuộc trường nữ hợp trưởng nan mỗi bên đều được lợi nên gọi là thứ cát , là diên niên .

Quẻ Phục , âm - dương tương phối , thuộc thiên phối , trưởng nam khắc lão nữ không hợp lễ nghĩa nên gọi là tiểu hung , là hoạ hại .

Quẻ Di , dương - dương không phổi , thuộc hư phổi , trưởng nam khắc thiếu nam , khắc đồng tính là thù , cho nên gọi là thứ hung hoặc là lục sát .

Quẻ Vô vọng , dương - dương không phối , thuộc hư phổi , lão nam khắc trưởng nam , già khắc trẻ là thô bạo , nên là hung , là ngũ quỉ .

Quẻ Tuỳ , âm - dương tương phôi , thuộc thiên phôi , thiếu nữ khắc trường nam , là kim khắc mộc , không chết thì cũng tàn phế nên là đại hung , là tuyệt mệnh .

Thứ năm , xem sự sắp xếp khí 8 phương vị của Tốn trạch

image

Quẻ Tốn biểu thị tiến vào , khiêm tốn nên gọi là cát , là phục vị .

Quẻ Tỉnh , âm - dương tương phối , thuộc thiên phối , trung nam sinh trưởng nữ , hợp với lẽ thường nên là cát , là sinh khí .

Quẻ Đỉnh , âm - âm không phối , thuộc hư phối , trường nữ sinh trung nữ , không hợp với lẽ thường , nhưng vì tương sinh nên là tiểu cát , là thiên y .

Quẻ Hằng , âm - dương sánh hợp , thuộc chính phối , trường nam hợp với trưởng nữ , hợp và lại là chính phối cho nên gọi là thứ cát , là diên niên ,

Quẻ Cẩu , âm - dương tương phối , thuộc thiên phôi , lão nam khắc trưởng nữ , khắc là khổ nên gọi là tiểu hung , là hoạ hại .

Quẻ Đại quá , âm - âm không phôi , là hư phổi , thiếu nữ khắc trường nữ , nhỏ khắc lớn không hợp với lẽ thường , nên gọi là thứ hung . là lục bát .

Quẻ Thăng , âm - âm không phối , thuộc hư phối , trường nữ khắc lão nữ , ngược với lễ cương thường , nên gọi là hung , là ngũ quỷ .

Quẻ Cổ , âm - dương tương phối , là thiên phối , trưởng nữ khắc thiếu nam tức là cường âm khắc nhược dương , cho nên đại hung , là tuyệt mệnh .

Thứ sáu , xem sự sắp xếp khí 8 phương vị của Khảm trạch

image

Quẻ Khảm biểu thị sa vào , khó khăn trùng trùng , vốn không phải là cát , nhưng là phục vị .

Quẻ Hoán , âm - dương tương phối , thuộc thiên phối , trung nam sinh trưởng nữ , hợp với lẽ thường nên là cát , là sinh khí .

Quẻ Giải , dương - dương không phổi , thuộc hư phối , trung nam sinh thiếu nam , không hợp lẽ thường , nhưng vì tương sinh nên là tiểu cát , là thiên y .

Quẻ Vị tế , âm - dương tương phối , thuộc chính hư , trung nam khắc trung nữ , hoả thuỷ vị tế , cho nên là thứ cát , là diên niên .

Quẻ Khốn , âm - dương tương phôi , thuộc thiên phối , thiếu nữ sinh trung nam , không hợp lẽ thường . âm cường dương nhược nên là tiểu hung , là hoạ hại .

Quẻ Tụng , dương - dương không phối , thuộc hư phối , lão nam sinh trung nam , không hợp với lý âm dương , cho nên là thứ hung , là lục sát .

Quẻ Mông , dương - dương không phối , thuộc hư phối , thiếu nam khắc trung nam , ngược lại với đạo đức bình thường , nên là hung , là ngũ quỷ .

Quẻ Sư , âm – dương tương phối , thuộc thiên phối , lão nữ khác trung nam , trung nam gặp nguy tất đại hung , là tuyệt mệnh .

Thứ bảy , xem sự sắp xếp khí 8 phương vị của Cấn trạch .

image

Quẻ Cấn biểu thị đình chi , gò núi , vốn không phải là cát , cũng không phải là hung , nên là phục vị

Quẻ Khiêm , âm dương sánh hợp , thổ thổ thiên phối , lão nữ hợp thiểu nam là điều mừng nên là cát , là sinh khí .

Quẻ Độn dương dương không phối , thuộc hư phổi , thiếu nam sinh lão nam , không hợp lẽ thường , nhưng vì tương sinh nên là tiểu cát , là thiên y .

Quẻ Hàm , âm dương tương phối , là chính phối , thiếu nam sinh thiếu nữ , tuổi hãy còn trẻ nên là thứ cát , là diên niên .

Quẻ Lữ , âm dương tương phối , là thiên phối , trung nữ sinh thiếu nam , âm nhiều dương ít nên là tiểu hung , là hoạ hại .

Quẻ Tiểu quá , dương dương không phôi , thuộc hư phối , trường nam khắc thiếu nam , anh em thù địch nên là thứ hung . là lục sát .

Quẻ Kiển , dương dương không phổi , thuộc hệ phối , thiếu nam khắc trung nam , không hợp với lẽ thường là hung , là ngũ quỷ .

Quẻ Tiệm , âm dương tương phối , là thiên phôi , trường nữ khắc thiếu nam , tuyệt nam là hại , là đại hung , là tuyệt mệnh .

Thứ tám , xem sự sắp xếp khí 8 phương vị của Khôn trạch .

image

Quẻ Khốn biểu thị sự ôn thuận , nhu hoà nên là cát , là phục vị

Quẻ Bóc là âm dương Bánh hợp . thuộc thiên phổi , thổ thổ tương hoà , thiếu nam hợp lão nữ , hợp với lẽ thường , nên là cát , là sinh khí .

Quẻ Tuy , âm âm không phôi , thuộc hư phổi , lão nữ sinh thiếu nữ , hợp với lẽ thường , lại là tương sinh nên là tiểu cát , là thiên y .

Quẻ Phủ , âm dương tương phối , là chính phối , lão nữ sinh lão nam , vừa sinh vừa tương hợp nên là thứ cát , là diên niên .

Quẻ Dự , âm dương tương phối , thuộc thiên phối , trưởng nam khắc lão nữ , không hợp với luân lý nên là tiểu hung , là hoạ hại

Quẻ Tấn , âm âm không phối , thuộc hư phổi , trung nữ sinh lão nữ , là trẻ sinh già , không hợp với lẽ thường , nên là thứ hung , là lục sát .

Quẻ Quan , âm âm không phối , thuộc hư phối , trưởng nữ khắc lão nữ , ngược lại luân lý nến là hung , là ngũ quỷ .

Quẻ Tỷ , âm dương tương phôi , thuộc hư phổi , lão nữ khắc trung . nam , khắc mà tuyệt tử , là tuyệt mệnh , đại hung .

Từ sự sắp xếp khí của 8 trạch ở trên mà nói thì 7 khí của quả dịch phong thuỷ nói đến là căn cứ vào mối quan hệ âm dương của 6 quả tiên thiên và mức độ lợi hại của quan hệ lục thân để sắp xếp phù hợp với dịch lý .

Phàm thuộc về sinh khí tất yếu phải là âm dương tương phối , ngũ hành tương sinh hoặc ngũ hành ngang hoà . Phàm thuộc ngũ quý tất yếu phải là âm hoặc dương không phối , âm đối với âm hoặc dương đối với dương , hoặc ngũ hành tương khắc .

Nhưng 8 trạch vị của hậu thiên bát quái có tương ứng với 8 quẻ chống của mỗi cung tiên thiên bát quái hay không ? Ví dụ , mối quan hệ “ Càn trạch ” hậu thiên và “ Càn trạch ” tiên thiên , Càn trạch là phục vị thì Đoài ở tây , Chấn ở đông , Ly ở nam , Khảm ở bắc , Cấn ở đông bắc , Tốn ở đông nam , Khôn ở tây nam . Còn cung Càn bao gồm 8 quả chồng là : Càn , Quải , Đại súc , Thái , Tiểu súc , Nhu , Đại tráng và Đại hữu , tất cả đều ở trong cung Càn , không có ý nghĩa về phương vị . Vì nguyên nhân gì mà đem quẻ Quải dời vào Đoài ( phương tây ) của hậu thiên bát quái ? Lại vì nguyên nhân gì mà đưa quẻ Thái vào Khôn ( tây nam ) của hậu thiên bát quái ? Tương tự vì nguyên nhân gì mà dời quẻ Đại hữu đến Ly ( phương nam ) , dời quẻ Tiểu sắc đến Tốn ( đông nam ) , dời quẻ Tráng đến Chấn ( phương đông ) , dời quẻ Đại súc đến Cấn ( đông bắc ) , dời quẻ Nhu đến Khảm ( phương bắc ) ? Xem ra như là không có đạo lý gì . Nếu lấy quẻ thượng của các quả chồng làm phương vị , sau đó tương ứng với phương vị của hậu thiên bát quái để dời vào thì vô cùng khiên cưỡng . Vì quẻ Quải vị tất đã thuộc ngôi Đoài của hậu thiên bát quái , những quả trùng khác cũng thế .

Đã đành là không có lý do gì để xác định phương vị 8 quẻ trùng của cung Càn , vậy thì sự sắp xếp “ bát phương thất khi cũng không còn đạo lý nữa . Do đó căn cứ theo phương pháp " Bát trạch phong thuỷ để xác định phương vị cát hung cũng rất khó thuyết phục được mọi người .