II. BÀN VỀ HAI CUNG THÀNH MÔN

1. Phương pháp thành môn khá phức tạp, khó nắm vững. Dưới đây sẽ phân theo tầng thứ để giải thích từng cái một.

Phương pháp thành môn là phép phụ trợ cho việc tọa sơn lập hướng.

Dựa theo "nguyên vận" khác nhau để xây dựng nhà ở, tọa sơn lập hướng là phải tìm được sơn vượng hướng vượng, làm cho gia nghiệp trở nên thịnh vượng. Nếu lập được sơn vượng hướng vượng, sẽ có được một loại vượng khí phụ trợ giúp đỡ thêm thì đã vượng lại càng thêm vượng, như dệt thêm hoa trên gấm. Nếu lập được không phải là sơn vượng hướng vượng, nhưng được vượng khí của hai bên

hướng trợ giúp thì dù rằng tọa, hướng không đẹp cũng có thể hưng vượng phát đạt, như đang gặp khó khăn lại nhận được sự giúp đỡ. Sức mạnh của loại phụ trợ này chính là tìm được vượng khí của thành môn bằng phương pháp thành môn.

2. Vượng khí của thành môn đến từ phương nào ? Vượng khí của thành môn đến từ quẻ hai bên của hướng.

Lập hướng ly, vượng khí của thành môn đến từ quẻ khôn và quẻ tốn.

Lập hướng khảm, vượng khí thành môn đến từ quẻ càn và quẻ cấn.

Lập hướng đoài, vượng khí thành môn đến từ quẻ càn và quẻ khôn.

Lập hướng chấn, vượng khí thành môn đến từ quẻ cấn và quẻ tốn.

Lập hướng cấn, vượng khí thành môn đến từ quẻ chấn và quẻ khảm.

Lập hướng khôn, vượng khí của thành môn đến từ quẻ ly và quẻ đoài.

Lập hướng càn, vượng khí thành môn đến từ quẻ khảm và quẻ đoài.

Lập hướng tốn, vượng khí của thành môn đến từ quẻ chấn và quẻ ly.

Sở dĩ nó đến từ các quẻ hai bên của hướng là căn cứ số của tiên thiên bát quái sinh thành mà có.

Lập hướng ly, hai quẻ ly và tốn hợp lại thành số sinh thành Cửu Tứ, tốn là thành môn chính cách (hoặc gọi là "chính mã") ; nếu tại quẻ khôn thu được vượng khí gọi là thành môn thiên (đệch) cách (hoặc gọi là "tá mã" - ngựa mượn).

Lập hướng khảm, hai quẻ khảm càn hợp lại tạo thành số sinh thành Nhất Lục, càn là thành môn chính cách ; nếu tại quẻ cấn thu được vượng khí, gọi là thành môn thiên cách.

Lập hướng đoài, hai quẻ đoài khôn hợp lại tạo thành số sinh thành Thất Nhị, khôn là thành môn chính ; nếu tại quẻ càn thu được vượng khí gọi là thành môn phụ (tức thành môn thiên cách).

Lập hướng chấn, hai quẻ chấn cấn hợp lại tạo thành số sinh thành Tam Bát, cấn là thành môn chính ; nếu tại quẻ tốn thu được vượng khí, gọi là thành môn phụ.

Lập hướng cấn, hai quẻ cấn chấn hợp lại tạo thành số sinh thành Bát Tam, chấn là thành môn chính ; nếu tại quẻ khảm thu được vượng khí, gọi là thành môn phụ. 406

Lập hướng khôn, hai quẻ khôn đoài hợp lại tạo thành số sinh thành Nhị Thất, đoài là thành môn chính ; nếu tại quẻ ly thu được vượng khí gọi là thành môn phụ.

Lập hướng càn, hai quẻ càn khảm hợp lại thành số sinh thành Lục Nhất, khảm là thành môn chính ; nếu tại quẻ đoài thu được vượng khí, gọi là thành môn phụ.

Lập hướng tốn, hai quẻ tốn ly hợp lại tạo thành số sinh thành Tứ Cửu, ly là thành môn chính ; nếu tại quẻ chấn thu được vượng khí, gọi là thành môn phụ.

Gọi thành môn là dựa theo hình dạng để gọi, tức cửa của bốn mặt tám phương thành trì thời xưa, mỗi phương nào đó đều dùng một cửa làm lối ra vào, bên ngoài cửa có hào sâu bao quanh thành, khí của nước dưới hào cũng ra vào qua cửa đó, cho nên gọi là thành môn. Ngoài ra, còn gọi là "thủy khẩu". Nếu như có một khoảnh đất bốn mặt có núi bao quanh, có một cửa khuyết để cho khí bên ngoài vào ra, để cho nước bên trong ra vào, cửa đó gọi là thành môn, boặc gọi là "thủy khẩu". Hai bên phương để lập hướng có một cửa khuyết, nếu phù hợp với yêu cầu thì có thể gọi là thành môn.

Bát quái có tất cả 24 sơn, hướng, mỗi quẻ có 3 hướng, mỗi hướng phải chọn hai bên của nó làm thành môn. Ví dụ, lập hướng thuộc "thiên nguyên long", phải chọn hai bên "thiên nguyên long" đó làm thành môn ; lập hướng thuộc "nhân nguyên long" phải chọn hai bên "nhân nguyên long" đó làm thành môn ; lập hướng thuộc "địa nguyên long" phải chọn hai bên "địa nguyên long" đó làm thành môn. Như thế mới có thể giữ được "khí thuẩn cùng nguyên". Khí phải thuần nhất "cùng nguyên", không thể pha tạp mới có hiệu quả, nếu không thì âm dương sai lệch, dễ gặp tai họa.

Lập hướng tí, thành môn chính ở càn, thành môn phụ ở cấn.

Lập hướng quí, thành môn chính ở hợi, thành môn phụ ở dần.

Lập hướng nhâm, thành môn chính ở tuất, thành môn phụ ở sửu.

Lập hướng càn, thành môn chính ở tí, thành môn phụ ở dậu.

Lập hướng hợi, thành môn chính ở quý, thành môn phụ ở tân.

Lập hướng tuất, thành môn chính ở nhâm, thành môn phụ ở canh.

Lập hướng dậu, thành môn chính ở khôn, thành môn phụ ở càn.

Lập hướng tân, thành môn chính ở thân, thành môn phụ ở hợi.

Lập hướng canh, thành môn chính ở mùi, thành môn phụ ở tuất.

Lập hướng khôn, thành môn chính ở dậu, thành môn phụ ở ngọ.

Lập hướng thân, thành môn chính ở tân, thành môn phụ ở đinh.

Lập hướng mùi, thành môn chính ở canh, thành môn phụ ở bính.

Lập hướng ngọ, thành môn chính ở tốn, thành môn phụ ở khôn.

Lập hướng đình, thành môn chính ở tị, thành môn phụ ở thân.

Lập hướng bính, thành môn chính ở thìn, thành môn phụ ở mùi.

Lập hướng tốn, thành môn chính ở ngọ, thành môn phụ ở mão.

Lập hướng tị, thành môn chính ở đinh, thành môn phụ ở ất.

Lập hướng thìn, thành môn chính ở bính, thành môn phụ ở giáp.

Lập hướng mão, thành môn chính ở cấn, thành môn phụ ở tốn.

Lập hướng ất, thành môn chính ở dần, thành môn phụ ở tị.

Lập hướng giáp, thành môn chính ở sửu, thành môn phụ ở thìn.

Lập hướng cấn, thành môn chính ở mão, thành môn phụ ở tí.

Lập hưởng dần, thành môn chính ở ất, thành môn phụ ở quý.

Lập hướng sửu, thành môn chính ở giáp, thành môn phụ ở nhâm.

3. Không phải hai bên của hướng khi nào cũng có thành môn đáng chọn.

Về nguyên tắc, hai bên của một hướng đã được xác lập đều tồn tại thành môn chính và thành môn phụ. Nhưng vì âm dương của tọa, hướng khác nhau và âm dương của hướng tinh thiên bàn bay đến hai bên khác nhau sẽ tạo thành 3 tình huống : một là hai bên của hướng tồn tại thành môn chính và thành môn phụ ; hai là chỉ có một bên của hướng có thành môn chính hoặc thành môn phụ, còn bên kia không có ; ba là hai bên đều không có thành môn nào có thể chọn. Tại sao có thể xuất hiện 3' tình huống này ? Đó là do nguyên nhân tương quan của hai bên tạo nên.

Thứ nhất là do Tam nguyên của hướng được xác lập tạo nên. Hướng được lập có tam nguyên là thiên nguyên long, hoặc nhân nguyên long, hoặc địa nguyên long. Nếu hướng là thiên nguyên long sẽ đòi hỏi thành môn của hai bên hướng cũng là thiên nguyên long.

Nếu hướng là nhân nguyên long sẽ đòi hỏi thành môn của hai bên cũng là nhân nguyên long. Nếu hướng là địa nguyên long sẽ đòi hỏi thành môn của hai bên cũng là địa nguyên long. Chỉ có hợp với yêu cầu đó mới có thể giữ được một thứ khí cùng nguyên.

Thứ hai là do tính chất âm dương của cung gốc hậu thiên bát quái của phi tinh thiên bàn hai bên quyết định. Ví dụ lập sơn tuất hướng thìn, thành môn hai bên của hướng thìn là giáp và bính, cùng là địa nguyên long bảo đảm chắc chắn được một loại khí cùng nguyên. Ví dụ, ở vận 1, lập sơn tuất hướng thìn, hướng tinh là giáp, phương giáp là Bát, phương bính là Ngũ. Cung gốc hậu thiên bát quái của Bát là quẻ cấn, địa nguyên long của quẻ cấn là âm, cho nên Bát gặp âm bay ngược, khiến vượng tinh Nhất đến phương giáp, giáp có thể là thành môn phụ của hướng thìn. Còn Ngũ trong hậu thiên bát quái không có định vị, nó dựa theo âm dương của phương bính để định âm dương, phương bính là dương, mà Ngũ gặp dương thì bay thuận, làm cho Cửu đến bính, lại không phải là vượng tinh Nhất đến phương bính, cho nên bính không thể là thành môn. Do đó sơn tuất hướng thìn của vận 1, theo phương của nó chỉ có thành môn phụ mà không có thành môn chính. Dưới đây nêu 3 ví dụ để thuyết minh không phải là hai bên bất cứ một hướng đã được xác lập nào đều có thành môn đáng chọn, đồng thời kêm theo bảng thành môn có thể sử dụng.

Ví dụ 1. Vận 4 sơn tí hướng ngọ, tìm thành môn của hướng ngọ.

Hướng ngọ thuộc thiên nguyên long, thành môn của hướng ngọ nằm tại tốn và khôn. Sơn tí hướng ngọ thuộc vận 4, sao Tam đến tốn, sao Nhất đến khôn. Thiên nguyên long cung gốc hậu thiên bát quái của Tam là âm, do đó Tam gặp âm vào cung chính giữa bay ngược, khiến vượng tinh Tứ đến tốn, tốn là thành môn chính của hướng ngọ. Thiên nguyên long của cung gốc hậu thiên, bát quái của Nhất là âm, do đó Nhất gặp âm vào cung chính giữa bạy ngược, khiến vượng tinh Tứ đến cung khôn, khôn là thành môn phụ của hướng ngọ. Cho nên hai bên phương của sơn tí hướng ngọ thuộc vận 4 đều có thành môn có thể chọn. Hai thành môn này vừa đúng để có thể bổ cứu chỗ thiếu sót của hướng ngọ không có vượng tinh đến hướng đó. Dưới đây lập 3 bảng, bạn đọc có thể từ 3 bảng này thấy rõ hai bên hướng ngọ có thể chọn thành môn chính và thành môn phụ.

image

Hình 1 là sơn tí hướng ngọ của vận 4, hướng tinh trên phi tinh bàn của hướng là Tam, là sao thoái khí, không phải là vượng tinh. Tọa, hướng này phạm phải điều xấu là sơn bị phá tài (tổn thất tiền tài), do đó cần phải chọn được thành môn có vượng khí để bù cho hướng không có vượng khí.

image

Hình 2 là Tam của phương tốn nhập vào cung giữa bay ngược, khiến cho vượng tinh Tứ dời đến phương tốn, được vượng khí của thành môn chính.

Hình 3 là Nhất của phương khôn nhập vào cung giữa bay ngược, . khiến cho vượng tinh Tứ dời đến phương khôn được vượng khí của thành môn phụ. Thành môn chính và thành môn phụ đều đồng thời chọn được làm cho gia trạch của sơn tí hướng ngọ thuộc vận 4 không những không thể phá tài, trái lại còn phát tài to. Đây là công sức lớn của thành môn.

Ví dụ 2. Vận 7 sơn dậu hướng mão, tìm thành môn của hướng mão. Hướng mão thuộc thiên nguyên long, thành môn của hướng mão tại hai cung cấn và tốn. Sơm dậu hướng mão thuộc vận 7, sao Nhất đến cấn, Lục đến tốn. Thiên nguyên long của cung gốc hậu thiên bát quái của Nhất là âm, cho nên âm Nhất nhập vào cung giữa bay ngược, khiến cho vượng tinh Thất đến cấn, nên cấn là thành môn chính của hướng mão. Thiên nguyên long của cung gốc hậu thiên bát quái của Lục là dương, cho nên dương Lục nhập giữa bay thuận, khiến cho Ngũ đến cung tốn chứ không phải là vượng tinh đến tốn, do đó phương tốn không có vượng khí của thành môn. Cho nên hai bên phương của sơn dậu hướng mão thuộc vận 7, chỉ có thành môn chính có thể chọn. Do sự hiệp lực của thành môn chính khiến cho phương mão vốn là vượng khí lại càng thêm vượng. Qua ba bảng dưới đây, bạn đọc xem sẽ hiểu.

Hình 1 là sơn dậu hướng mão thuộc vận 7 (Thất), hướng tinh phi tinh bàn của hướng là Thất, là vượng khí của nguyên đó (Thiên nguyên). Tọa hướng này là sơn vượng hướng vượng. Hình 2 là Nhất của phương cấn nhập vào cung giữa bay ngược, khiến cho vượng tinh Thất dời đến phương cấn, được vượng khí của thành môn chính. Hình 3 là Lục của phương tốn bay vào cung giữa bay thuận, vượng tinh không thể đến phương tốn, cho nên phương này không có thành môn có thể chọn.

image
image

Ví dụ 3. Sơn ngọ hướng tí thuộc vận 1, tìm thành môn của hướng tí.

Hướng tí thuộc thiên nguyên long, thành môn của hướng tí tại hai cung càn và cấn. Sơn ngọ hướng tí thuộc vận 1, sao Nhị đến càn, Tứ đến cấn. Thiên nguyên long cung gốc hậu thiên bát quái của Nhị là dương, cho nên Nhị dương bay thuận, vượng tinh không thể đến càn. Thiên nguyên long của cung gốc hậu thiên bát quái của Tứ là dương cho nên Tứ dương bay thuận, vượng tinh cũng không thể đến cấn. Do đó hai bên hướng tí thuộc vận 1 đều không có thành môn có thể chọn. Bạn đọc xem 3 hình dưới đây sẽ rõ.

image
image

Hình 1 là sơn ngọ hướng tí thuộc vận, hướng tinh của hướng phi tinh bàn là Nhị, không thuộc vượng khí của nguyên đó. Tọa và hướng này thuộc cách "phạm thượng sơn" nên phá tài. Hình 2 là Nhị của phương càn nhập vào cung giữa bay thuận, vượng tinh không thể đến phương càn, nên không có thành môn có vượng khí để chọn. Hình 3 là Tứ của phương cấn nhập vào cung giữa bay thuận, vượng tinh không thể đến phương cấn, cho nên cũng không có thành môn có vượng khí để chọn. Vì vậy sơn ngọ hướng tí thuộc vận 1, bất kể là phương càn hoặc phương cấn, đều không có thành môn phụ trợ.

image
image
image

4. Thành môn không những được phân chia riêng, mà còn có sự khác nhau theo nghĩa rộng.

Bảng "Các thành môn của tam nguyên cửu vận có thể sử dụng" trên đây là các thành môn có một ý nghĩa đặc biệt. Còn có các thành môn theo nghĩa rộng, một là dương trạch có ngã tư (đường), hoặc có bến cảng, hoặc có lối người ra vào nhộn nhịp, hoặc có cửa nước vào ra. Hai là chỗ ngã ba hợp lưu (sông ngòi), hoặc cửa khẩu thoát nước. Ba là chỗ sông uốn lượn. Bốn là điểm trung tâm của hổ đầm, hoặc có ao hổ nằm ở hai bên trái, phải (hình tròn mà quang đăng là tốt nhất), hổ chứa nước, đập ngăn nước. Năm là đỉnh núi đẹp, tròn, nhọn.

Ở hai bên của tọa sơn cũng có thành môn có thể chọn để tăng thêm định vượng (tăng nhân khẩu). Nếu hai bên tọa sơn có đỉnh núi xinh đẹp, có tòa nhà cao chót vót, tháp truyền hình, các lâu đài văn hóa. phù hợp với bí quyết của thành môn đều có thể chọn làm thành môn. Phương pháp chọn là căn cứ bảng đã giới thiệu ở trên, nhưng cải "hướng" thành "sơn" là được. Ví dụ "hướng canh" đổi thành "sơn canh", thành môn chính của nó là mùi, thành môn phụ là tuất. Các sơn còn lại cũng suy ra tương tự.

5. Còn có loại "thành môn ngẩm".

Loại này dùng trong 3 tình huống sau : Một là, nếu vận bàn có Ngũ đến hai bên hướng tinh, lại hợp thành khí cùng nguyên. Ví dụ : sơn tí hướng ngọ của vận 6, Ngũ dời đến tốn, ngọ là thiên nguyên long, là âm, nên bay ngược theo chiều âm, Lục đến tốn tức là thành môn. Còn sơn nhâm hướng bính của vận 6, bính là địa nguyên long, là dương, nên Ngũ bay thuận theo dương, Tứ đến tốn, không thể là thành môn.

Hai là nếu hai bên hướng tinh, có phi tinh tương hợp với địa bàn thành số sinh thành, tức phi tinh Nhất tương hợp với càn của địa bàn, phi tinh Nhị tương hợp với đoài của địa bàn, phi tinh Tam tương hợp với cấn của địa bàn, phi tinh Tứ tương hợp với ly của địa bàn, phi tinh Lục tương hợp với khảm của địa bàn, phi tinh Thất tương hợp với khôn của địa bàn, phi tinh Bát tương hợp với chấn của địa bàn, phi tinh Cửu tương hợp với tốn của địa bàn, là có thể chọn làm thành môn.

Ba là nếu hai bên của hướng tinh, có sao (tinh) của "vận bàn" tương hợp với địa bàn tạo thành số sinh thành, tức là Nhất của vận bàn tương hợp với càn của địa bàn, Nhị của vận bàn tương hợp với đoài của địa bàn, Tam của vận bàn tương hợp với cấn của địa bàn, Tứ của vận bàn tương hợp với ly của địa bàn, v.v.. Những trường hợp còn lại cứ thế mà suy ra. Ví dụ sơn mão hướng dậu, trong vận 9, vận tinh phương càn là Nhất, Nhất tương hợp với càn của địa bàn hợp thành Nhất Lục cùng họ hàng, phương này có ngã ba sông ngòi chiếu tức là thành môn.

6. Phương pháp chọn thành môn để có được vượng khí chỉ dùng cho vận đó, khi vận dã qua đi thì không còn tác dụng.

Phàm lập sơn hướng, thành môn hai bên hướng đều là do vận tinh nhập vào giữa bay ngược, có vượng tinh dời đến mà có. Khi thời vận đã chuyển đổi, vượng tinh biến thành thoái tinh (giảm sút) hoặc suy tinh thì thành môn lập cho vận trước sẽ không dùng được nữa. Nếu tiếp tục sử dụng, ắt sẽ chuốc lấy thất bại hoặc sa sút. Biện pháp giải quyết : một là chọn sơn hướng khác làm lại nhà mới để khởi lại vận ; hai là sau khi vận chuyển đổi, nếu sơn và hướng ban đầu vẫn còn vượng sơn vượng hướng thì có thể sửa chữa nhà cũ thành mới. Ví dụ vận 7 lập sơn tốn hướng càn là cách "thượng sơn hạ thủy", phá tài và tồn định. May thay hai bên hướng càn có vượng khí của phương tí và phương dậu làm thành môn, phù trợ nó không suy bại. Nhưng vận 7 qua đi thì thành môn phương tí và phương dậu biến thành khí suy bại, dùng nó sẽ suy. Vì vậy khi chuyển sang vận 8, sơn tốn hướng càn đang gặp phương vượng hướng vượng thì nên sửa chữa, chỉnh trang nhà ở thành mới để đón nhận vượng khí của nguyên vận và vượng khí thành môn phương dậu.

7. Vì sao hai cung thành môn cũng gọi là chiếu thần ?

Đây là cách gọi phối hợp của chính thần và linh thần. Khi sơn vượng là chính thần, hướng suy là linh thần, thủy phù trợ là chiếu thần, do đó chiếu thần thực tế là thành môn. Khi chính thần và linh thần cố định : Vận 1 sơn khảm là chính thần, hướng ly là linh thần thì phương tốn, phương khôn là chiếu thần, tức là tốn và khôn là thành môn của ly.

Vận 2 sơn khôn là chính thần, hưởng cấn là linh thần thì phương chấn và phươmg khảm là chiếu thần, tức là chấn và khảm là thành môn của cấn.

Vận 3 sơn chấn là chính thần, hướng đoài là linh thần thì phương khôn và phương càn là chiếu thần, tứtc khôn và càn là thành môn của đoài.

Vận 4 sơn tốn là chính thần, hướng càn là linh thần thì phương khảm và phương đoài là chiếu thần, tức khảm và đoài là thành môn của càn.

Vận 5 quy về hai phương cấn và khôn.

Vận 6 sơn càn là chính thần, hướng tốn là linh thần thì phương ly và phương chấn là chiếu thần, tức ly và chấn là thành môn của tốn.

Vận 7 sơn đoài là chính thần, hướng chấn là linh thần thì phương cấn và phương tốn là chiếu thần, tức cấn và tốn là thành môn của chấn.

Vận 8 sơn cấn là chính thần, hướng khôn là linh thần thì phương đoài và phương ly là chiếu thần, tức đoài và ly là thành môn của khôn.

Vận 9 sơn ly là chính thần, hướng khảm là linh thần thì phương càn và phương cấn là chiếu thần, tức càn và cấn là thành môn của khảm.

Khi chính thần, linh thần không cố định, chính thần, linh thần chuyển đổi theo vận, vượng sơn là chính thần, vượng hướng là linh thần, hai bên vượng hướng là chiếu thầ., tức thành môn, tức là thành môn phân thành có thể chọn dùng và không thể chọn dùng mà thôi.