I. SỰ PHÁT TRIỂN PHÂN NHÁNH CỦA DỊCH HỌC

1. SỰ PHÁT TRIỂN PHÂN NHÁNH CỦA DỊCH HỌC

Kinh dịch viết “ Hà xuất đồ , Lạc xuất thư , đó là của thánh nhân " . Thực chất thì Hà đồ và Lạc thư của thánh nhân đã được vẽ ra như thế nào , mãi đến nay vẫn chưa có ai biết rõ , hoặc nói cách khác là bị thất truyền từ lâu . Mãi đến đời Tống , Hoa Sơn đạo sĩ Trần Đoàn mới đưa Hà đồ , Lạc thư và hình vẽ tiên thiên ra , từ đó Hà đô , Lạc thư mới được người đời coi trọng .

Theo sách “ Địa lý chính tông viết , con cháu đời sau của Ngô Nhuế ở Trường Sa đời Tây Hán có một người tên gọi là Ngô Pháp Vượng , ông ta có quyết tâm mạnh mẽ học môn Địa lý thiên văn . Khi nghe tin Hoa Sơn đạo sĩ Trần Đoàn là người thông hiểu bí ảo của môn Địa lý thiên văn này , ông đã cho con trai mình là Ngô Khắc Thành đến tìm học . Ngô Khắc Thành được Trần Đoàn chân truyền , do đó đã nắm được những bí ảo của Địa lý thiên văn . Một hôm Trần đạo sĩ nói với Ngô Pháp Vượng rằng : “ Con trai ngài là bậc thiên tài , nhất định nó sẽ kế thừa và làm sáng tỏ học thuyết của tôi ” . Ông truyền cho Khắc Thành cuốn “ Thanh nang ” . Con trai của Khắc Thành là Ngô Cảnh Loan , thông tuệ hơn người . Sau khi có được " Thanh nang " của Trần Đoàn , đã nghiên cứu tinh thông , nắm vững các thuật trong " Thanh nang " . Cái gọi là thuật Thanh nang " , còn gọi là thuật " Thanh điểu " , tức là thuật Địa lý như ngày nay ta thường gọi . Hà đồ , Lạc thư e rằng chính là do con gái của Ngô Cảnh Loan ( Cảnh Loan không có con trai ) truyền ra ngoài đời . Lại căn cứ “ Dịch học tượng số luận ” của Hoàng Tôn Nghĩa viết thì Trần Đoàn đã đem hình về Hà - Lạc truyền cho Chủng Phóng . Chủng Phóng truyền cho Lý Khái , Lý Khái truyền cho Hứa Kiên , Hứa Kiên truyền cho Phạm Ngọc Xương , Phạm Ngạc Xương truyền cho Lưu Mục . Lưu Mục viết thành sách “ Dịch số câu ẩn đồ “

. Từ đó Hà - Lạc đồ mới được độc giả phổ thông biết đến . Còn về hình tiên thiên , Trần Đoàn về sau lại truyền cho một loạt người khác , cuối cùng đến tay Thiệu Ung . Thiệu Ung căn cứ vào hình đó mà viết nên tác phẩm “ Hoàng cực kinh thể ” . Đến Chu Đôn Di lại viết thành tác phẩm “ Thái cực đồ thuyết ” . Về sau nhà Địa lý học Chu Hy soạn cuốn “ Chu dịch bản nghĩa " , lại đưa tất cả chín hình gồm Hà đồ , Lạc thư , hậu , tiên thiên bát quái , v , v . , vào sách . Từ đó Hà đô , Lạc thư mới được các nhà đại học vấn chính thống chính thức thừa nhận . Những tác phẩm Dịch học của người đời sau , đầu sách tất yếu phải đưa vào các hình vẽ Hà đổ , Lạc thư và nó trở thành một bộ phận trọng yếu của tác phẩm Chu Dịch . Nhưng số người phản đối cũng không ít . Trong đó bao gồm Âu Dương Tu , Diệp Thích đời nhà Tống , Trần Ứng Nhuận đời nhà Nguyên , Lưu Khiêm đời nhà Minh , Hồ Vị , Hoàng Tôn Nghĩa đời nhà Thanh và cho mãi đến thời Dân quốc sau này . Năm 1977 trong số các văn vật khai thác ở ngôi mộ Nhữ Âm Hầu thời Tây Hán ở Song Cổ Đôi , huyện Phù Dương , tỉnh An Huy , người ta phát hiện thấy một “ Chiêm bàn cửu cung thái ất ” mặt phải của bàn sắp xếp vị trí bát quái và các thuộc tính ngũ hành , trên mặt bàn nhỏ có hình khắc phù hợp với Hà đổ và Lạc thư . Điều đó chứng tỏ hình Hà đổ , Lạc thư từ thời Tây Hán đã rất phổ cập và được lưu truyền từ xa xưa chứ không phải do người Tống mới đặt ra.

Hà đổ , Lạc thư đến đời Tống mới được truyền ra từ tay các đạo sĩ , chứng tỏ nó là một phương thuật dân gian được lưu truyền từ lâu và bị các thuật sĩ lợi dụng . Nó chưa được lưu truyền trong các tác phẩm của các bậc Đại nho trước đời Tống , chứng tỏ trải qua nhiều đời các bậc đại nho không coi trọng vai trò bốc phệ của kinh Dịch . Các nhà nho từ sau đời nhà Hán Sở dĩ coi trọng kinh Dịch là vì họ chỉ coi trọng về mặt nghĩa lý , đặc biệt tác dụng của nó đối với chính trị và đạo đức . Còn phần bốc phệ chỉ là một nhánh phương thuật hạ đẳng , không được họ chú ý tới . Chỉ có các thuật sĩ trong dân gian và các thuật sĩ Đạo gia mới lợi dụng , nến : Hà - Lạc đổ mới bị bí truyền.

Từ mối quan hệ lưu truyền Hà - Lạc để có thể thấy sự phát triển của kinh Dịch được chia thành hai con đường : " Dịch lý " và " Tượng số ” . Từ đời nhà Hán hai con đường này bắt đầu phát triển riêng rẽ . Từ con đường phát triển " Dịch lý " mà nói , người ta lấy chú giải kinh Dịch làm nội dung chủ yếu trong đó có những tác phẩm nổi tiếng của Điền Hà , Phí Trực đời Tây Hán , Trịnh Huyền Tuân Sảng đời Đông Hán , đặc biệt là của Vương Bật nhà Ngụy thời Tam Quốc . Ông chú thích nội dung tượng số trong kinh Dịch như Khổng Tử dùng " Thập dực " để chú thích Chu Dịch . Về sau có Cán Bảo , Hàn Khang Bá của đời Tấn , Trình Di , Chu Hy , Dương Vạn Lý của đời Tống , Lai Tri Đức của đời Minh , Hoàng Tôn Nghĩa , Hồ Vị của đời Thanh , v ... Mạch phát triển này của Dịch học gọi là “ Dịch lý " .

Từ con đường phát triển " Tượng số " mà nói , bắt đầu là sự chú thích từng chữ từng câu kinh Dịch , gọi là “ Hán Dịch ” . Về sau dần dần thiên về nghiên cứu Tượng số . Về mặt này đời Tây Hán có Mạnh Hỉ và Kinh Phòng . Kinh Phòng có tác phẩm gồm 3 quyển “ Kinh phòng Dịch truyện ” . Ông đã đưa kinh Dịch ứng dụng vào dự đoán được mất về các mặt chính trị và xã hội . Đến thời Tam Quốc có tác phẩm “ Ngu thi dịch lệ ” của Ngô Hữu Ngu . Đến cuối đời Đường có tác phẩm “ Thanh nang kinh ” của Xích Tùng Tử , “ Thanh nang tự ” của Tăng Cầu Kì , có “ Thanh nang áo ngữ ” , “ Thiên ngọc kinh ” , “ Hám long kinh ” của Dương Duân Tùng , v ...

Họ đã phát triển Dịch học về phía Tham dự học . Đến đời Tống có các tác phẩm “ Dịch số câu ẩn đổ " của Lưu Mục , “ Hoàng cực kinh theº của Thiệu Ung , đem kết cấu vũ trụ dùng chữ số đồ thức hoá , đem sự phát triển của Dịch học phát triển thành tượng số thuần túy . Huệ Đống đời Thanh có tác phẩm “ Tục hoàng thống thanh kinh giải ” , Trương Huệ Ngôn đời Thanh đều thuộc phái tượng số học này . Mạch phát triển Dịch học này gọi là “ Dịch tượng số ” .

Trên đây đã nói rõ sự phân chia hai con đường nghiên cứu Dịch học . Xưa nay người ta thường coi “ Dịch lý là chính thống , còn “ Dịch tượng số " tuy được Thiệu Ung và nhiều người khác cố gắng phát triển , nhưng vẫn bị xem là phi chính thống , bị bài trừ , thậm chí còn bị cấm đoán .

Bản thân sự phát triển của “ Tượng số học ” cũng rất phức tạp . Đội ngũ pha tạp , các phái hệ nhiều , thậm chí phỉ báng , bài trừ , công kích lẫn nhau . Ý kiến của mỗi phái được bí mật truyền thụ và tự coi đó là chân truyền , trở thành một phương thuật trong dân gian hoặc thủ đoạn mưu sinh lừa gạt trong giang hồ . Thậm chí có người vì mưu cầu tài , lợi mà lừa gạt làm hại người khác , do đó khó tránh khỏi bị các quan gia cấm đoán.

Bản thân kinh Dịch là bộ sách kinh điển thống nhất giữa vũ trụ quan và phương pháp luận . Theo ý đồ chủ quan của những người biên soạn đầu tiên mà nói , nó là bộ sách về bốc phệ , nhưng từ giá trị lịch sử và hiệu quả khách quan của nó mà xét thì nó là nguồn gốc Lịch sử phát triển của Dịch học , chính là lịch sử phát triển văn Hoá , , sang đạo đức quan , chính trị quan , tinh thần dân tộc và văn hoá dân tộc . Mặt khác từ phương pháp luận phát triển sang thuật bốc phép thuật tham dự , thuật tướng mệnh . Cả hai mặt từ thống nhất đến phân ly , thậm chí ngày càng tách xa nhau , có lúc đi ngược nhau , chống lại nhau . Đó là sự tất yếu của lịch sử phát triển .

Cho nên thái độ của chúng ta đối với một bộ sách đã có lịch sử phát triển hàng ngàn năm , thậm chí hàng vạn năm là nên dùng thái độ lịch sử để xem xét , không nên xử lý một cách đơn giản .