I. LẬP TUYẾN VÀ PHÂN KIM

Muốn toạ sơn lập hướng cần phải dùng la bàn (còn gọi là la canh). La bàn là kim chỉ nam đã được Dịch lý hoá, dạng nguyên thuỷ nhất của nó chính là kim chỉ nam. La bàn sớm nhất do Dương Ích ( Quân Tùng ) đời Đường chế tạo ra, cuối đời Minh do Tưởng Đại Hồng cải tiến thêm. người đời sau gọi là Tường bàn. La bàn có loại lớn và loại nhỏ. căn

Cán cứ vào nhu cầu khác nhau mà các vòng của nó sẽ có nhiều hay ít. Vé sử dụng, có thể phân thành hai loại : la bàn tổng hợp và la bàn chuyên dụng. Về học phái, có thể chia thành bàn tam nguyên và bàn tam hợp. Về sau có người đem các loại bàn tổng hợp lại làm một, thành bàn "Vi dịch đồng tham", tức bàn tổng hợp.

Tác dụng cơ bản nhất của la bàn chính là xác định toạ độ phương vị của vật thể. Kim (kim từ) trong bàn vĩnh viễn chỉ hướng Nam - Bắc. không gian hình tròn nhỏ lõm xuống, chỗ kim từ hoạt động gọi là Thiên trì, ở giữa có một đường nhỏ màu đỏ chia Thiên trì thành hai nửa, đường chỉ đỏ có một đầu cố định tại phương Bắc

ác (tức điểm chính giữa của ti), còn đầu kia cố định tại Nam (tức điểm chính giữa của ngọ), đường chỉ đỏ này gọi là đường tí - ngọ. La bàn có thể chuyển động. Ngoài bàn có hai đường màu đỏ cố định giao nhau thẳng góc. Khi bàn tròn chuyển động, đường giao nhau thẳng góc cố định này không chuyển động. Khi bàn tròn xoay đến chỗ dừng đã định sản, các chữ mà đường giao nhau vuông góc đề lên chính là số liệu cần dùng. Lấy 24 sơn làm ví dụ, nếu các đường giao nhau vuông góc để lên nhâm bính hoặc canh giáp sẽ biểu thị phương vị mà bạn cần là sơn nhâm hướng bính, hoặc sơn bính hướng nhâm ; là sơn giáp hướng canh hoặc sơn canh hưởng giáp.

Hậu thiên bát quải phân thành 24 sơn. Mỗi quẻbao gồm ba sơn, vị trí của tuyến có hai loại là " tuyến khả lập" và "tuyến bất khả lập". Tuyển khả lập cing chia thành chính hướng và kiêm hưởng. Tuyến  chính hướng là đường vuông góc đề lên trên trung tâm của chữ nào đó. Lập chính sơn, chính hưởng mục đích là để chọn được khí của quẻ adn, hướng thuẩn khiết, không pha tạp với các quẻ khác, không pha tạp với khí khác. Lập tuyến kiêm hướng là lệch sang trái hay lệch sang phải để kiêm trái kiêm phải. Nếu lệch đến một số độ nhất định (từ 3 độ trở lên) thi không còn là quẻ thuần nữa, xuất hiện khuyết diểm của kiểm quẻ hoặc kiểm hướng

ows

ơng

s

ươ

uơng

ớsng. Nếu lệch ra bên ngoài quề sẽ phạm sai lầm "hương

s

ơngs

ơng xuất quẻ". Nếu bên trong quẻ bị lệch sẽ phạm sai lầm âm dương lẫn lộn. Nếu xuất hiện sai lầm này, sẽ phải dùng phương pháp "quẻ thay" (thế quái) sắp xếp lại tinh bàn để mong bổ cứu. Cái gọi là tuyến bất khả lập, nói một cách đơn giản là các đường đỏ giao nhau vuông góc đề lên đường giao nhau của quẻ với quẻ, hướng với hướng. Nếu đề lên đường giao nhau của quẻ với quẻ thì phạm đại không vong ; đề lên đường giao nhau của sơn với sơn là phạm tiểu không vong ; đẻ lên đường giao nhau của phân kim là phạm ngũ hành lẫn lộn. Phạm đại không vong dẫn đến rất xấu, có thể hao người, tốn của nặng. Phạm tiểu không vong dẫn đến hung sát, có thể làm cho người không yên, gia đình bất ổn. Phạm ngũ hành lắn lộn dẫn đến khí sát, có thể hao tổn tiến tài, người ốm đau.

Phương pháp lập tuyến hợp lý gọi là "hợp tuyến pháp", nghĩa là không những phải hợp với lý của bàn, mà còn phải hợp với lý của môi trường xung quanh. Ví dụ tuyến lập trên bàn là thiên nguyên long thì đỉnh núi và khí mạch cũng là thiên nguyên long. Tuyến lập trên bàn là nhân nguyên long thì đinh

rr

hn

ì

n

h núi và khí mạch cũng là nhân nguyên long. Như vậy mới có thể bảo đảm Dịch lý thống nhất với môi trường xung quanh, bảo đảm được thuần một quẻ. Nếu hoàn cảnh xuất hiện kiêm quẻ, kiêm hướng thì phải dùng phương pháp khởi tinh, lập bàn "quẻ thay" khác để mong đạt được lý và hình thống nhất. Nếu hoàn cảnh địa hình rơi vào chỗ "không vong", thì đành vứt bỏ, đừng dùng để tránh khỏi mắc tai hoạ.

Các nhà "tam hợp" có hai sai lầm nghiêm trọng. Một là, lập hướng chọn thuỷ ất sẽ phạm phải hỗn tạp, nếu không "xuất quẻ" thì cũng phạm phải âm dương sai lệch. Ví dụ lập sơn tí hướng ngọ, toạ sơn chọn tí ất sẽ là thìn thân chọn thuỷ. Họ đâu biết rằng tí là thiên nguyên long. thìn là địa nguyên long, thân là nhân nguyên long, khí của tam nguyên (ba nguyên) cùng là hỗn tạp mà không phải là một khí cùng nguyên, ất phạm sai lầm

am

ám lớn. Hai là, lập hướng ất sẽ chọn kiêm tuyến hoặc kiêm quẻ. Kiêm hướng ngoại ất sẽ phạm xuất quẻ, kiêm hướng nội ất sẽ phạm âm dương sai lệch. Cho nên có đến tám chín mươi phần trăm đều là quẻ sai, gây hao tổn người và của, làm tổn thất cho người ta. Nếu có ai đó không bị phá tài, tổn định là nhờ người chủ đó đã tích nhiều ân đức, có phúc và mệnh lớn, hoặc vì sơn thuỷ hoàn mỹ (tốt đẹp) nên triệt tiêu được sai lầm của việc lập hướng.

Điều quan trọng của lập hướng là à chỗ : âm dương phải cùng nguyên, khí trường phải thống nhất. Lập ra giới hạn của trường khí, định lợi hại của âm dương là tìm được vượng sơn vượng hướng, làm cho gia đình trở nên giàu có, xã tắc an ninh. Nếu người chủ thành

nh tâm thành ý, tìm người "kiến phòng lập táng" (xây nhà hoặc chôn cất) mà thuật địa lý quá tối, xác lập hướng lung tung há chẳng khác gì "mưu tài" mà "hại mệnh".

Toạ sơn lập hướng ngoài việc phải hợp với "tuyến pháp" ra, còn phải áp dụng phép "phân kim". quá vượng thì tiết bót, quá yếu thì phải bổ aung. Cái gọi là "phân kim" chính là một sơn trong địa bàn phân thành "ngũ tử. "Ngũ tử" tức là mỗi sơn chia thành 5 ô, có khí ngũ hành kim mộc thuỷ hoà thổ nạp âm.

image
image

Sơn nhâm, sơn quý, sơn cấn, sơn giáp, sơn ất, sơn tốn, sơn bính, sơn đính, sơn khôn, sơn canh, sơn tân, sơn càn, mười hai sơn này trong la bàn đều là "chính" vị. Phương pháp phần

an

ẩn kim ở trên là phương pháp la bàn lưu hành thường dùng, đặc điểm của nó là dựa theo khẩu độ (30 độ) mà 12 địa chỉ chiếm hữu để phân phối ngũ tử. Mỗi ô 5 độ, 5 ở gồm 25 độ. Ngoài 5 ở ra, hai bên mỗi bên lưu không 2,5 độ làm "chính vị", mỗi vòng có 12 "chính vị", mỗi "chính vị" 5 độ.

Cách phân chia này có nhược điểm nhất định. Một là, khẩu độ của mỗi ô quá lớn

ôn, chiếm đến 5 độ. Hai là, trong 12 địa chỉ, mỗi địa chi thực tế chỉ chiếm có ba ô, hai ô bên trái và phải thì " xuất quái" (vượt ra ngoài quẻ) hoặc "xuất sơn" (vượt ra ngoài sơn). Ví dụ nơn tý, thực tế chiếm 3 & Biah tỷ, mậu tý, canh tỷ, còn giáp tý thì sang sơn nhâm, nhâm tý thì sang sơn quý, đây là cái sai của "xuất sơn" (vượt ra khỏi sơn). Lại ví dụ khác như sơn sửu là địa nguyên long. ô bên phải của nó là ất sửu thì phạm "xuất quải" (vượt ra ngoài quẻ), tiến sang sơn của quí (nhân nguyên long) phạm sai lầm hỗn tạp.

Cuối đời Thanh, Thẩm Trúc Nhưng tiên sinh, người Tiến Đường đã đính chính lại cách phân kim này của Tuồng bàn.Mỗi sơn vẫn giữ 5 ô không đổi, nhưng mỗi ô thu hẹp còn 3 độ, thủ tiêu "chính vị. Như thế, cả 24 sơn, sơn nào cũng có 5 6 phân kim, tránh được sai lắm "xuất quái", "xuất sơn". Phương pháp phản cụ thế như sau :

image
image

Nguyên tắc sử dụng phân kim là ở chỗ vượng thì xi bởt, yếu thì bù vào, tránh hung (xấu) đạt tới cát (tốt), nghĩa là quá vượng thì tiết bát, quả yếu thì phải bổ sung thêm, tránh tương khắc (nếu khắc xuất là tiết), gặp cát (tốt) thì hướng tôi (sinh nhập, ngang hoà là cát, sinh nhập tiết). Tóm lại là phải vận dụng linh boạt. Dưới đây sẽ nêu ra một ví dụ để thuyết minh.

Vi dụ. Vận bốn, sơn càn hướng tốn.

image

Càn là Ngũ, Ngũ thay Tứ, Từ tức là sơn càn. Từ là mộc, luận sinh khắc của Tứ với Ngũ của sơn càn: Giáp tuất (hỏa), mộc, sinh hỏa, sinh xuất, xấu.

Bính

inh

ss

nh

s

ss

nh tuất (thổ), mộc khắc thổ, khắc xuất, xấu.

Mậu tuất (mộc), mộc so tới mộc, ngang hoà, đại cát (rất tốt).

Canh tuất (kim), kim khắc mộc, khắc nhập, đại hung (rất xấu).

Nhâm tuất (thuỷ), thuỷ sinh mộc, sinh nhập, đại cát (rất tốt).

Vận 4 của sơn càn hưởng tốn thuộc cục hạ thuỷ, sơn tinh Tử của toạ sơn phạm hạ thuỷ. Sơn tinh Lục đến vị trí càn, lại tương khắc với vận bàn. Trong trường hợp này, vận bàn chọn thế yếu thì tốt hay là chọn thế mạnh thì tốt ? Nếu chọn thế yếu, đổi vdi sơn tinh Lục là có lợi, nếu chọn thế mạnh thì tổn hại sơa tinh Lục, tức đổi với sơn tinh Lục không có lợi. Cho nên, chọn phân kim canh tuất (kim) là đẹp nhất, vừa có thể khắc được mộc của vận bàn, lại vừa ngang hoà và đắc vượng với sơn tinh Lục. Từ đó ta thấy, sử dụng phân kim phải nhìn từ thực tế, linh hoạt vận dụng.