I. KHÍ SỐ CUỘC ĐỜI

Khí số là vấn đề ai cũng muốn hiểu , nhưng lại không hiểu nổi . Nó có thể đơn giản nhưng vô cùng huyền diệu . Ở đây không dùng lý thuyết để làm sáng tỏ vấn đề mà chỉ muốn thông qua cách miêu tả về mệnh lý huyền không để giúp cho mọi người tự hiểu lấy .

Cái gọi là khí số tức là thiên mệnh . Câu nói “ Sinh tử có mệnh , phú quí tại trời ” chính là ý nghĩa đó . Trời ở đây không phải là quỷ thần , Thượng đế , càng không phải là sức mạnh siêu nhiên nào đó mà là sự vận chuyển có quy luật của khí trường tự nhiên . Còn mệnh là cái người ta được nhận , cũng tức là được tiếp thu theo quy luật vận chuyển của khí trường tự nhiên . Ai đó nhận được cát khí thì người đó được cát , nhận được hung khí thì người đó bị hung . Thực chất ai được cát , ai bị hung đều là ở chỗ sinh thời , sống gặp vận , hoặc nói cách khác sinh bất thời , sống không gặp vận . Điều này nên được hiểu như thế nào ? Nguyên là khí trường mỗi năm biến đổi khác nhau . Khi ra đời thì từ hơi thở đầu tiên con người đã hấp thu lấy khí của khí trường năm đó ( ở đây tạm thời lấy khí trường của năm làm ví dụ ) . Nếu năm sinh là năm Nhất bạch nhập giữa thì được khí của Nhất bạch thủy . Khí số của nó là Nhất bạch , hoặc nói cách khác khí của bản mệnh người đó là Nhất bạch , hoặc là thiên mệnh người đó thuộc thủy . Nếu sinh vào năm Nhị hắc nhập giữa thì thiên mệnh thuộc thổ . Nếu sinh vào năm Tam bích nhập giữa thì thiên mệnh thuộc mộc . Nếu sinh vào năm Lục bạch nhập giữa thì thiên mệnh của nó thuộc kim . Nếu sinh vào năm Cửu tử nhập giữa thì thiên mệnh thuộc hoả . Vì người ta sinh vào những năm khác nhau , cho nên thiên mệnh mỗi người cũng khác nhau . Sự vận chuyển của khí trường có hành thuận và hành ngược . Con người chia thành nam , nữ . Khí trường của nam hành ngược thì khí trường của nữ hành thuận . Ngược lại , khí trường của nam hành thuận thì khí trường của nữ hành ngược . Sự chuyển vận của âm , dương khác nhau nhưng lại bao hàm hợp nhất với nhau . Dưới đây lần lượt giới thiệu bảng khí vận hành thuận và vận hành ngược của thời gian gần đây để độc giả tham khảo:

bảng phi tinh của nam đến năm 2025
bảng phi tinh của nam đến năm 2025
Bảng Phi tinh của Nữ
Bảng Phi tinh của Nữ

Cách tra bảng rất đơn giản . Ví dụ nam sinh năm 2000 tra bảng biết được thiên mệnh của người đó thuộc khí Cửu tử hoả .

Nữ sinh năm 2002 , tra bảng biết được thiên mệnh của người đó thuộc khí Bát bạch thổ . Năm sinh khác nhau thì cát , hung cả cuộc đời đều chịu ảnh hưởng của khí năm đó . Như ở ví dụ trên , nam sinh năm Cửu tử hoả thì cả cuộc đời người đó đều chịu ảnh hưởng của khí Cửu tử hoả . Nữ sinh năm Bát bạch thổ thì cả cuộc đời đều chịu ảnh hưởng của khí Bát bạch thổ . Thành ngữ nói “ người khác nhau thì mệnh khác nhau " là ý nghĩa đó .

Việc tra bảng rất dễ nhưng nhớ được thì rất khó . Dưới đây xin giới thiệu một công thức tính đơn giản để độc giả tính nhẩm ra cứu khí năm sinh một cách dễ dàng .

Nam giới : Lấy ( 100 - hai số sau của năm sinh ) : 9

Nếu chia hết thì đó là khí Cửu tử hoả . Chia không hết thì số dư chính là số của khí tương ứng . Ví dụ nam sinh năm 1928 , ta lấy ( 100 - 28 ) : 9 , vừa hết , tức là người đó thuộc khí Cửu tử hoả .

Nữ : Lấy hai số cuối của năm sinh trừ đi 4 rồi chia cho 9

Nếu chia hết thì đó là khí Cửu tử hoả . Nếu không chia hết thì số dư chính là số khí có số tương ứng . Ví dụ nữ sinh năm 1930 , lấy ( 30 - 4 ) : 9 , dư 8 , tức là người nữ đó thuộc khí Bát bạch thổ .

Công thức này chỉ dùng thích hợp từ năm 1900 - 1999. Nếu nằm ngoài giới hạn này thì phải lấy số dư cộng thêm hoặc trừ đi 1. Người có năm sinh trong khoảng từ 1800 - 1899 thì lấy số dư cộng thêm 1 . Người có năm sinh trong khoảng từ 2000 - 2099 thì lấy số dư trừ đi 1. Ví dụ nam sinh năm 1889 sẽ có số dư là 2 , cộng thêm 1 thanh 3 , ta biết được cửu khí của người đó là Tam bích mộc . Lại ví dụ nam sinh năm 2005 , số dư là 5 -1 = 4 , ta sẽ biết được cứu khí của người đó là Tứ lục mộc . Đối với những người có năm sinh xa hơn nữa thì dùng công thức trên để tính rất khó khăn , tốt nhất là tra bảng .

Vì cửu khí của nam nữ khác nhau , nên lúc tính phải chú ý phân biệt . Không được dùng phương pháp tính cửu khí cho nam suy diễn sang tính cửu khí cho nữ . Cách tính niên khí cần phải phân biệt cửu khí của đại vận , tiểu vận , nguyệt vận , nhật vận , thời vận thì mới chính xác được .

Ở đây có 2 nguyên tắc cần phải nắm vững .

Nguyên tắc thứ nhất :là nguyên tắc thuận và ngược . Nếu cửu khí của nam giới đếm theo chiều thuận thì cứu khí của nữ giới đếm theo chiều ngược ; ngược lại , nếu cứu khí của nam giới đếm theo chiều ngược thì cứu khí của nữ giới đếm theo chiều thuận . Ví dụ đại vận từ Hoàng đế nguyên niên bắt đầu dùng số thuận , hiện nay đang hành đại vận tam bích , đó là đếm theo chiều thuận của nam giới . Còn đối với nữ giới thì phải đếm ngược . Tóm lại thuận , ngược , nam nữ ngược nhau .

Nguyên tắc thứ hai là nắm vững nguyên tắc số 3 ” . Trong 9 số cho dù là đếm thuận hay đếm ngược , số mà nó gặp đều là số “ 3 " . Ví dụ Hoàng đế nguyên niên đại vận bắt đầu là Lục bạch , tiếp theo đó là đếm thuận : Thất , Bát , Cửu . Đó là 9 số của nam giới . Còn 9 số của nữ giới là từ Cửu tử đếm ngược , tức tiếp sau đó là Bát , Thất , Lục . Hiện nay đang nằm trong khoảng ( 1984 - 2043 ) nam giới đếm thuận là Tam , 9 số của nữ giới đếm ngược cũng là Tam , vừa đúng trùng nhau . Điều đó đưa lại cho chúng ta một phương pháp tính đơn giản , tức là dù đếm thuận hay đếm ngược đều lấy “ 3 " làm tiêu chuẩn . Nếu 9 số của nam giới là 3 , 4 , 5 , 6 , 7 , 8 , 9 , 1 , 2 đếm thuận thì 9 số của nữ giới đếm ngược là 3 , 2 , 1 , 9 , 8 , 7 , 6 , 5 , 4 .

Ví dụ tháng 3/1995 nam giới hành đại vận 3 , tiểu vận 7 , vận năm là Ngũ hoàng , vận tháng là Cửu tử . Nữ giới hành đại vận 3 , tiểu vận 7 , vận năm là Nhất bạch , vận tháng là Lục bạch .

Vì mỗi người năm sinh khác nhau nên có cửu khí khác nhau . Quá trình cuộc đời sẽ chịu ảnh hưởng của khí đó . Đó là một loại biểu hiện của khí số . Chúng ta gọi đó là mệnh số . Song đó chưa phải là toàn bộ khí số . Dưới đây sẽ tiếp tục bàn về vấn đề này .