I. GIỚI THIỆU “QUẺ DỊCH KHAM DỰ”

" Quẻ dịch kham dự " tức là phái " Kham dự bát trạch ” lưu truyền trong dân gian . Tương truyền phái này do Tăng Nhất Hành đời vo Đường sáng lập ra , nó được miêu tả trong sách “ Diệt man kinh ” .  Sách này đã thất truyền , nhưng thuật phong thuỷ của nó vẫn còn lưu truyền trong dân gian . Thuật này dân gian còn gọi là thuật bát trạch căn cứ vào địa chi của năm sinh mà xác định mệnh đó thuộc 1 trong 8 cung của bát quái : Phục vị , sinh khí, Diên Niên, Thiên y, Lục Sát, Họa Hại , Ngũ quỹ , Tuyệt Mệnh .

Không ít nhà phong thủy có kỹ thuật bậc thầy đã quan sát nhà ở trong dân gian và họ khái quát phân làm 8 phương vị là : phục vị ; sinh khí , diên niên , thiên y , lục sát , họa hại , ngũ quỹ , tuyệt mệnh , trong đó 4 phương vị đầu là cát vị , 4 phương vị sau là hung vị.

image

Gọi là " phục vị " tức chỉ đó là cửa chính , là cửa nạp khí của nhà ở . Cũng có một số nhà phong thuỷ gọi phục vị là “ toạ vị ” , tức là lưng nhà ở . Nhà toạ ngôi Chấn gọi là Chấn trạch . Nhà toạ ngôi Tốn là Tốn trạch , toạ ngôi Ly là Ly trạch , toạ Khôn là Khôn trạch , toạ Đoài là Đoài trạch , toạ càn là Càn trạch , toạ Khảm là Khảm trạch , toạ Cấn là Cấn trạch . Gọi chung là Bát trạch . Cho nên các thầy phong thuỷ xưa kia gọi là phong thuỷ sư phái Bát trạch .

Gọi là " sinh khí ” tức là ngôi sinh khí cho nhà ở , là phương vị tốt nhất , cát vị thứ nhất , là ngôi nhà sinh tài , thêm đinh . " Sinh " tức là tương sinh , là ngang hoà . Kim sinh thuỷ là thiếu nữ phối với trung nam ) , thuỷ sinh mộc là trung nam phối với trường nữ ) , mộc sinh hoả la là trưởng nam phối với trung nữ ) , hoả sinh thổ là trung nữ phối với thiếu nam ) , thổ sinh kim là thiếu nam phối với thiếu nữ ) , kim - kim kết hợp là lão nam phối với thiếu nữ ) , mộc - mộc kết hợp là trưởng nam phối với trưởng nữ , thổ - thổ kết hợp là thiếu nam phối với lão nữ ) . Cho dù là chính phối hay thiên phối đều là âm dương phối hợp Âm dương phối hợp gọi là sinh , trong đó nói lão Nam , lão nữ , trường nam , trưởng nữ , trung nam , trung nữ , thiếu nam và thiếu nữ là chỉ tượng trưng nhưng nó thuộc tính ngũ hành của : kim , mộc , thuỷ , hoả , thổ chứ không phải là chỉ nam , nữ trong cuộc sống thực tế . Lão nam là chỉ Lục bạch kim , lão nữ là chỉ Nhị hắc thổ , trưởng năm là Tam bích mộc , trưởng nữ là Tứ lục mộc , trung nam là Nhất bạch thuỷ , trung nữ là Cửu tử hoả , thiếu nam là Bát bạch thổ , thiếu nữ là Thất xích kim . Sự tương phối nam nữ thuộc những mệnh này là chỗ sinh khí tồn tại . Sinh khí là nói sinh tài , tức hướng sinh khí là hướng tài . Ở hướng sinh khí đặt thần tài hoặc đặt bể cá cảnh thì có thể sinh tài .

Gọi là " diên niên " tức là nhà ở theo hướng đó sẽ tăng thêm trường thọ , là hướng tốt của nhà ở , là cát vị thứ hai . Diên niên thịnh vượng trường thọ , nhiều phúc . Hướng này cũng là âm dương tương phối , thổ sinh kim lão nữ phối lão nam , thiếu nam phối thiếu nữ . Mộc - mộc hoà hợp là trung nam phối trung nữ ) , thuỷ hoả ký tế là trung nam phối trung nữ , đó đều là phu thê chính phối . Chỉ có chính phối mới trường thọ nhiều phúc , bách niên giai lão .

Gọi là " thiên y ” là hướng của nhà có lợi cho sức khoẻ , không có bệnh tật ( hoặc ít bệnh , nếu có bệnh thì mau khỏi ) , là cát vị thứ ba . Y là người thầy trừ bệnh tật , không có bệnh là khoẻ mạnh , đuổi được bệnh tật cũng sẽ khoẻ mạnh . Yở đây không hoàn toàn chỉ nói về sức khoẻ mà cũng nói đến tâm lý lành mạnh , đạo đức lành mạnh .

Gọi là " lục sát " , tức là hướng nhà tồn tại nhiều ác sát , là hướng suy , là hung vị thứ tư , cũng gọi là sát hoặc sát khí , trong đó có “ lục xung ” , tức các địa chi xung nhau , như : tí ngọ tương xung , mão dậu tương xung , thìn tuất tương xung . sứu mùi tương xung , tị hợi tương xung . Xung cũng là khắc , tí ngọ là thuỷ hoả khắc nhau , mão dậu là kim mộc khắc nhau , thìn tuất là kim mộc khác nhau , sửu mùi là dương thổ và âm mộc , dần thân là mộc kim , là sáu loại xung khắc , Báu loại xung sát . Ngoài ra còn có loại “ tam hình ” , “ lục hại ” . Nhà ở có sát thì nam nữ , già trẻ không được yên ổn , làm việc khó thành công .

Gọi là " hoạ hại " tức là phương vị nhà ở tổn tài , dễ mắc bệnh tật , là hung vị thứ ba . Hướng này chủ yếu là ám hoặc dương đồng phối , dương đối với dương , âm đối với âm , trưởng nữ phối với trung nữ , trung nữ phối với thiếu nữ , trưởng nam phối với trung nam , trung nam phối với thiếu nam , lão nữ phối với nữ nhi , lão nam phối với nam nhi Đồng tính tương phối thì tai hoạ vô cùng . Trường nữ phối với trung nữ dễ gặp bệnh đau mắt hoặc khó đẻ , nữ thì dâm , nam thì tửu sắc . Trung nữ phối với thiếu nữ dễ gặp lao tù , kiện tụng , đi theo bọn cướp , gặp thiên tai hoả hoạn . Trường nam phối với trung nam dễ gặp cưới lâu không sinh đẻ , hình khắc vợ con . Trung nam phối với thiếu nam dễ gặp cãi vã , quả phụ hoặc ôn dịch . Lão nữ phối với trường nữ dễ gặp chị em dâu và em gái bất hoà . Lão nữ phối và thiếu nữ thường bị tiểu nhân làm hại , tranh vợ cướp chồng , bị trộm cướp hoặc hoả hoạn . Lão nam phối với nam nhi thì cha con bất hoà . Những tai nạn này đều xuất hiện ở ngôi hoạ hại.

Gọi là " ngũ quỷ , tức là phương vị nhà ở xuất hiện nhiều ám ảnh , là hung vị thứ hai . Ở phương này chủ yếu do âm , dương sai lệnh nhau gây nên , trong đó bao gồm Ngũ hoàng đại sát , không vong , v , v .. Phương vị đáo Ngũ hoàng thường xảy ra tai nạn , phạm phải thì hao người , tốn của , nát nhà . Nếu phạm không vong thì nhiều kiếp sát .

Gọi là " tuyệt mệnh " tức là phương nhà ở không có con thừa tự , là hung vị số một . Người xưa quan niệm không có con nối dõi là điều kiêng kị lớn nhất của đời người .

Tám phương vị trên đây là căn cứ vào đâu để sắp xếp ? Căn cứ là bài “ đại du niên ca ” , còn gọi là " Bát phương cứu tinh quyết " . Bài thơ này như sau :

Ngôi chấn : diên , sinh , hoa , tuyệt , ngũ , thiên , lục .

Ngôi tốn thiên , ngũ , lục , hoa , sinh , tuyệt , diên.

Ngôi ly : lục , ngũ , tuyệt , diên , hoa , sinh , thiên .

Ngôi khôn : thiên , diên , tuyệt , sinh , hay , ngũ , lục .

Ngôi đoài : sinh , hoa , diên , tuyệt , lục , ngũ , thiên .

Ngôi càn : lục , thiên , ngũ , hai , tuyệt , diên , sinh .

Ngôi thảm : ngũ , thiên , sinh , diên , tuyệt , họa , lục .

Ngôi cấn : lục , tuyệt , họa , sinh , diên , thiên , ngũ .

Các ngôi trong bài ca này là chi phục vụ . Mỗi câu có 7 ngôi là chỉ 7 phương vị “ Sinh ” là sinh khí , “ diện ” là diên niên . “ thiên ” là thiên y , lục ” là lục sát , “ hoạ ” là hoạ hại , ngữ là ngũ quỷ , “ tuyệt ” là huyệt mệnh .

Căn cứ bài ca này ta có thể sắp xếp được hình vẽ có 8 phương . Phương pháp sắp xếp là lấy phục vợ làm thời điểm , sau đó thuận chiều kim đồng hồ lần lượt sắp xếp theo thứ tự 7 chữ của mỗi câu Độc giả xem các hình vẽ dưới đây sẽ hiểu . Hình thứ nhất là phương vị bát quái , tám phương vị này cố định , phục vụ được xác định theo các ngôi : chấn , tốn , ly , khôn , đoài , càn , thảm , cấn Tám hình tiếp theo là trạch vận của những phương vị khác nhau .

image
image
image

Tên gọi của 8 phương vị trên đây căn cứ vào cái gì để xác định ? Tương truyền căn cứ vào ảnh hưởng của “ thất tinh Bắc đẩu ” đối với quả đất để xác định . Dùng cách nói hiện đại là sao Bắc đẩu phát năng lượng bức xạ gây nên sự biến đổi khí trường của quả đất , có 3 ví như 7 nhà khí công đồng thời phát ra 7 loại khí khác nhau tác động vào quả đất , tạo nên sự cát hung của khí trường quả đất .

Thất tinh Bắc đẩu hình giống cái muôi . Bắt đầu tính từ sao thí nhất của đầu muội lần lượt là Thiên khu , Thiên triền , Thiên cơ . Thiên quyền , Ngọc hàng , Khai dương , Dao quang . Hai bên trái , phải của sao Dao quang có hai ngôi sao mờ là Tả bật và Hữu bật . Quan hệ của 7 sao và 7 khí như sau :

Thiên khu còn gọi là Tham lang , thuộc mộc , là sinh khí .

Thiên toàn gọi là Cự môn , thuộc thổ , là thiên y .

Thiên cơ gọi là Lộc tồn , thuộc thể là hoạ hại .

Thiên quyển gọi là Văn khúc , thuộc thuỷ , là lục sát .

Ngọc hàng gọi là Liêm trinh , thuộc hoả , là ngũ quỷ .

Khai dương gọi là Vũ khúc , thuộc kim , là diên niên .

Dao quang gọi là Phá quân , thuộc kim , là tuyệt mệnh .

Tả bổ , Hữu bật là phục vị .

image

Thất tinh Bắc đầu

Tám phương vị của khí trường quả đất căn cứ vào ngũ hành của mệnh người mà chia thành hai nhóm . Một nhóm gồm : phục vị chấn, phục vị tốn phục vị ly , phục vị khảm cấu thành , thuộc khí trường mộc ( chấn mộc , tốn mộc ) , khí trường hoả , khí trường thuỷ . gọi là “ Đông khí trường . Nhà ở tương ứng gọi là “ Đông tứ trạch ” . Nhóm khác gồm : phục vị cấn , phục vị không phục vị đoài , phục vị càn cấu thành , thuộc khí trường thổ ( cẩn thổ , khôn thổ ) , khí trường kim ( đoài kim , càn kim ) , gọi là “ Tây khí trường . Nhà ở tương ứng gọi là “ Tây tứ trạch ” .

“ Đông tứ trạch " - chấn trạch , tốn trạch , ly trạch , khảm trạch .

" Tây tứ trạch " - cấn trạch , khôn trạch , đoài trạch , càn trạch .

Đương nhiên nhà ở cũng phân thành “ Đông tứ trạch ” và “ Tây tứ trạch ” .

Vậy người thích hợp với chúng cũng phải căn cứ theo mệnh thuộc ngũ hành nào để phân thành Đông tứ mệnh ” và “ Tây tứ mệnh " . Người thuộc Đông tứ mệnh ” là người mệnh thuộc ngũ hành mộc , hoả , thuỷ . Người thuộc Tây tứ mệnh ” là người mệnh thuộc các hành : thô , kim . Như vậy sẽ hình thành hai loại cách cục mệnh trạch tương phối với nhau là “ người Đông tứ mệnh nhà Đông tứ trạch ” , “ người Tây tứ mệnh ở nhà Tây tứ trạch ” . Theo mệnh cục này để chọn nhà ở sẽ được trạch , mệnh đều tốt , vạn sự thuận lợi , nếu không chọn nhà ở theo cách cục thì trạch , mệnh tương phản , vạn sự đều hung .

Mỗi người làm thế nào để biết được mệnh mình thuộc “ Đông tứ nệnh ” hay “ Tây tứ mệnh ” ? Có thể căn cứ vào năm sinh của mình để tra " Bảng nam nữ cửu khí ” trong mục “ Khí số cuộc đời ” đã nói ở phần trên . Phàm người thuộc một trong 4 loại khí : Nhất bạch thủy , Tam bích mộc , Tứ lục mộc và Cửu tử hoả đều thuộc người “ Đông tứ mệnh ” . Người thuộc 1 trong 5 loại khí : Nhị hắc thổ , Ngũ hoàng thổ . Bát bạch thổ , Lục bạch kim , Thất Xích kim đều là người thuộc “ Tây tứ mệnh ” . Trong nhà vừa có người thuộc Đông tứ mệnh , lại vừa có người thuộc Tây tứ mệnh thì làm thế nào ? Biện pháp là : Thứ nhất , lấy mệnh của chủ nhà để xác định là nhà Đông tứ trạch . Tây tứ trạch . Thứ hai , những người khác trong nhà thì chọn ở phòng phía đông hay phòng phía tây theo mệnh của mình . Thứ ba , nếu hai vợ chống mệnh khác nhau thì căn cứ tình hình sức khoẻ hoặc mệnh của người đó để ngủ phía đông giường hay phía tây giường .

Còn có một vấn đề cần phải nói rõ với độc giả , đó là " phục vị " là chỉ hướng cửa chính hay là chỉ lưng của ngôi nhà ? Nếu theo phương của hướng cửa chính để phân thành Đông tứ trạch và Tây tứ trạch thì sẽ khác với phương pháp xác định ngôi trạch theo truyền thống . Phương pháp xác định ngôi trạch theo truyền thống là lấy lưng ngôi nhà để xác định tính chất của ngôi nhà . Lựng nhà phía bắc , hướng nhà phía nam là Khảm trạch , nhà lưng phía nam , hướng nhà phía bắc là Ly trạch ; nhà từ đông nhìn sang tây là Chấn trạch , từ tay nhìn xuống đông là Đoài trạch ; lưng đông nam , hướng tây bắc là Tốn trạch ; lưng tây bắc , hướng đông nam là Càn trạch ; lưng đông bắc hướng tây nam là Cấn trạch ; lưng tây nam hướng đông bắc là Khôn trạch . Theo phương pháp xác định truyền thống này thì “ phục vị ” nên là lưng nhà chứ không phải là hướng cửa . Gọi là lưng nhà tức là tường sau của nhà , hướng nhà là hướng trước của nhà . Giống như một mũi tên , phần đuôi là sau nhà , phần mũi là hướng nhà . Còn về cửa chính có thể đặt ở hướng trước , cũng có thể đặt ở hai bên , cũng có thể hướng sang hai bên , chỉ cần ngồi cát là được . Trên đây là nội dung khái quát của quẻ dịch phong thuỷ .