I. BÀN VỀ ĐỊA VẬN NHẬP TÙ

216 bảng sắp xếp sao để lập quẻ trên đây, mỗi bảng đều ghi thời gian dài ngắn của địa vận. Thời gian địa vận này được xác định như thế nào ? Người ta quan niệm rằng : độ dài ngắn của địa vận là do mối quan hệ giữa sao ở cung giữa với sao hướng quyết định. Trong 24 sơn và hướng, mỗi một cặp sơn và hướng đều có quan hệ giữa sao nhập vào cung giữa với sao hướng riêng biệt. Ví dụ sơn tý hướng ngọ, ở vận 1 sao Nhất bạch thủy nhập cung giữa, sao hướng là Ngũ, trong đó vận 1, vận 2, vận 3, vận 4, mỗi vận là 20 năm, tổng cộng thành 80 năm. Từ đó về sau bất cứ sao nào vào giữa, địa vận đều là 80 năm Dưới đây sẽ giới thiệu thời gian dài ngắn của địa vận thuộc 24 sơn và hướng như sau :

Sơn tí, hướng ngọ : địa vận là 80 năm.

Sơn quí, hướng định : địa vận là 80 năm.

Sơn nhâm, hướng bính : địa vận là 80 năm.

Sơn ngọ, hướng tí : địa vận là 100 năm.

Sơn định, hướng quí : địa vận là 100 năm.

Sơn bính, hướng nhâm : địa vận là 100 năm.

Sơn càn, hướng tốn : địa vận là 160 năm.

Sơn hợi, hướng tị : địa vận là 160 năm.

Sơn tuất, hướng thìn : địa vận là 160 năm.

Sơn tốn, hướng càn : địa vận 20 năm.

Sơn tị, hướng hợi : địa vận 20 năm.

Sơn thìn, hướng tuất : địa vận 20 năm.

Sơn dậu, hướng mão : địa vận 140 năm. 401

Sơn tân, hướng ất : địa vận 140 năm.

Sơn canh, hướng giáp : địa vận 140 năm.

Sơn mão, hướng dậu : địa vận 40 năm.

Sơn ất, hướng tân : địa vận 40 năm.

Sơn giáp, hướng canh : địa vận 40 năm.

Sơn khôn, hướng cấn : địa vận 60 năm.

Sơn thân, hướng dần : địa vận 60 năm.

Sơn mùi, hướng sửu : địa vận 60 năm.

Sơn cấn, hướng khôn : địa vận 120 năm.

Sơn dần, hướng thân : địa vận 120 năm.

Sơn sửu, hướng mùi : địa vận 120 năm.

Nói chung khi xây dựng nhà cửa, lập sơn định hướng, bất kể là sơn vượng hướng vượng, hoặc "thượng sơn hạ thủy", tác dụng của nó đều chỉ nằm trong giới hạn thời gian của địa vận, vượt quá giới hạn này thì hướng tinh sẽ theo thời gian nhập vào cung giữa, nên hướng của nó mất tác dụng. Ví dụ vận 1, lập sơn tí hướng ngọ, hướng tinh của nó là Ngũ, khi đến vận 5 thì hướng tinh Ngũ tiến vào cung giữa, hướng mà nó xác lập ban đầu không còn ý nghĩa nữa, tức gọi là "vô hướng khả hướng" (nghĩa là không có hướng nào có thể chọn làm hướng được nữa).

Hễ là nhà ở mà hướng tinh nhập tù thì định và tài đều suy khó cứu vãn nổi. Nhưng nếu có môi trường bên ngoài tốt đẹp thì tuy nhập tù nhưng không bị suy bại. Ví dụ trên phương để lập hướng có sông hổ lớn hoặc đường đi lối lại trước cửa rộng thênh thang, uốn lượn hữu tình, thì tuy nhập tù nhưng không giam hãm nổi, cho dù hướng tinh theo vận phải nhập vào cung giữa. Môi trường bên ngoài tốt đẹp có thể làm cho nhà ở tiếp tục vượng. Còn có một trường hợp nữa là hướng vượng được xác lập khi vận 5 Ngũ hoàng nhập vào cung giữa. Hướng này tất yếu Ngũ phải là phi hướng tinh của hướng đó. Bởi vì Ngũ hoàng thổ là thổ thuộc trung ương, uy nghiêm nhất, cao nhất nên không xem là nhập tù. Trường hợp này chỉ phát sinh trong thời gian vận 5, trong đó gồm có 12 sơn và hướng như sau : Vận 5 : sơn tí hướng ngọ, hướng tinh của phi tinh bàn là Ngũ.

Vận 5 : sơn quý hướng đinh, hướng tinh của phi tinh bàn là Ngũ. 402

Vận 5 : sơn ngọ hướng tí, hưtớng tinh của phi tinh bàn là Ngũ. Vận 5 : sơn đinh hướng quý, hướng tinh của phi tinh bàn là Ngũ.

Vận 5 : sơn tuất hướng thìn, hướng tinh của phi tinh bàn là Ngū.

Vận 5 : sơn thìn hướng tuất, hưtớng tinh của phi tinh bàn là Ngū. Vận 5 : sơn sửu hướng mùi, hướng tinh của phi tinh bàn là Ngũ.

Vận 5 : sơn mùi hưởng sửu, hướng tinh của phi tinh bàn là Ngũ. Vận 5 : sơn mão hướng dậu, hướng tinh của phi tinh bàn là Ngũ.

Vận 5 : sơn dậu hướng mão, hướng tinh của phi tinh bàn là Ngũ. Vận 5 : sơn ất hướng tân, hướng tinh của phi tinh bàn là Ngū.

Vận 5 : sơn tân hướng ất, hướng tinh của phi tinh bàn là Ngũ.

Các địa vận kể trên có thời gian dài nhất là 160 năm, ngắn nhất là 20 năm, 2 số tương hợp (cộng lại với nhau) gồm 180 năm, Huyền không học gọi đó là "địa vận tam nguyên nhở". Nếu địa mạch kéo dài liên miên, khí thế bao la hùng vĩ, trong 8 phương có 2 cung thành môn tả hữu đầy đủ, lại là toàn cục hợp thành 10, thì địa vận của nó có thể kéo dài đến 540 năm hoặc 1080 năm. Ví dụ kinh đô các triều đại đều là như thế. Huyền không học gọi nó là "địa vận tam nguyên lớn".

Thông thường nhà ở phần nhiều xây cất trên khoảnh đất nhỏ, có thể vượng được khoảng trên một trăm năm đã là đủ rồi. Nếu nơi đó có dải đất (địa mạch) kéo dài liên miền, sông ngòi hội tụ thì địa vận càng dài lâu. Hoàn cảnh xung quanh (môi trường) có khí thế bao la hùng vĩ như thế, phần nhiều đều là nơi kinh thành đô hội, không phải là nơi cá nhân có thể chiếm được. Ví dụ các nơi kinh đô như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu đều là phía sau chỗ tọa lạc là dải đất kéo dài liên tục, phía trước là sông biển (hoặc sông ngòi) ba nhánh giao hội, cho nên địa vận dài lâu, hưng vượng phát đạt, kéo dài hàng ngàn năm.

Lại còn một cách cục nữa là tuy địa vận nhập tù, nhưng trên hướng có song tinh, tức là cục "hạ thủy", áp dụng phép cung ly và cung khảm đả kiếp (phép này phần sau sẽ có chương tiết bàn riêng), khi địa vận của nó nhập tù sẽ có cách tính toán khác. Phương pháp này là hướng tinh của quẻ sơn đối diện với "lập cực tinh" để định. Bây giờ đem hai cung ly và khảm đả kiếp nhập tù, lần lượt theo các vận kê ra như sau :

Vận 1. Sơn tí hướng ngọ (quý đinh cũng thế), vận 9 nhập tù (vận 9 không nên sửa đổi).

Sơn thìn hướng tuất, vận 3 nhập tù (vận 3 nên sửa đổi).

Sơn canh hướng giáp, vận 6 nhập tù (vận 6 nên sửa đổi). Sơn mão hướng dậu (ất tân cũng thế), vận 5 nhập tù (vận 5 nên sửa đổi).

Sơn càn hướng tốn (hợi tị cũng thế), vận 8 nhập tù (vận 8 nên sửa đổi).

Sơn bính hướng nhâm, phạm phản ngâm, phục ngâm, không dùng.

Vận 2. Sơn nhâm hướng bính, vận 1 nhập tù (vận 1 không nên sửa đổi).

Sơn dậu hướng mão (tân ất cũng thế), vận 7 nhập tù (vận 7 nên sửa đổi).

Sơn ngọ hướng tí (đinh quý cũng thế), vận 3 nhập tù (vận 3 không nên sửa đổi).

Sơn giáp hướng canh, vận 6 nhập tù (vận 6 nên sửa đổi).

Vận 3. Sơn tí hướng ngọ (quí định cũng thế), vận 2 nhập tù (vận 2 không nên sửa).

Sơn bính hướng nhâm, vận 4 nhập tù (vận 4 không nên sửa đổi).

Vận 4. Sơn nhâm hướng bính, vận 3 nhập tù (vận 3 không nên sửa đổi).

Sơn thìn hướng tuất, vận 6 nhập tù (vận 6 có thể sửa đổi).

Sơn ngọ hướng tí (đinh quý cũng thế), vận 5 nhập tù (vận 5 sửa đổi đại lợi).

Sơn càn hướng tốn (hợi tị cũng thế), phạm phản ngâm, phục ngâm, không dùng.

Vận 6. Sơn tí hướng ngọ (quý định cũng thế), vận 5 nhập tù (vận 5 sửa đại lợi).

Sơn tốn hướng càn (tị hợi cũng thế), phạm phản ngâm, phục ngâm, không dùng.

Sơn tuất hướng thìn, vận 4 nhập tù (vận 4 có thể sửa đổi).

Sơn bính hướng nhâm, vận 7 nhập tù (vận 7 không nên sửa đổi).

Vận 7. Sơn nhâm hướng bính, vận 6 nhập tù (vận 6 không nên sửa đổi).

Sơn ngọ hướng tí (đinh quý cũng thế), vận 8 nhập tù (vận 8 không nên sửa đổi).

Vận 8. Sơn tí hướng ngọ (đinh quý cũng thế), vận 7 nhập tù {vận 7 không nên sửa).

Sơn canh hướng giáp, vận 4 nhập tù (vận 4 nên sửa đổi).

Sơn mão hướng dậu (ất tân cũng thế), vận 3 nhập tù (vận 3 nên sửa đổi).

Sơn bính hướng nhâm, vận 9 nhập tù (vận 9 không nên sửa đổi).

Vận 9. Sơn nhâm hướng bính, phạm phản ngâm, phục ngâm, không dùng.

Sơn tốn hướng càn (tị hợi củng thế), vận 2 nhập tù (vận 2 nên sửa đổi).

Sơn dậu hướng mão (tân ất cũng thế), vận 5 nhập tù (vận 5 nên sửa đổi).

Sơn ngọ hướng tí (đinh quý cũng thế), vận 1 nhập tù (vận 1 không nên sửa đổi).

Sơn tuất hướng thìn, vận 7 nhập tù (vận 7 có thể sửa đổi).

Sơn giáp hướng canh, vận 4 nhập tù (vận 4 có thể sửa đổi).